Tác giả có quyền thu hồi tác phẩm đã chuyển nhượng không?
Khi đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, nhiều người lầm tưởng rằng mình vẫn có thể “lấy lại” tác phẩm bất cứ lúc nào vì đó là đứa con tinh thần do mình sáng tạo. Tuy nhiên, pháp luật sở hữu trí tuệ lại quy định hoàn toàn khác. Vậy tác giả có quyền thu hồi tác phẩm đã chuyển nhượng không? Bài viết dưới đây VCD sẽ giúp bạn làm rõ.
Thế nào là tác phẩm đã chuyển nhượng?
Trước khi tìm hiểu quyền thu hồi, cần hiểu rõ bản chất của “tác phẩm đã chuyển nhượng”.
Theo Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, chuyển nhượng là chuyển giao quyền sở hữu, không phải chỉ cho phép sử dụng. Điều đó có nghĩa là, sau khi hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực, quyền tài sản đối với tác phẩm không còn thuộc về tác giả hoặc chủ sở hữu ban đầu, mà thuộc về bên nhận chuyển nhượng. Nói cách khác, từ thời điểm chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu hợp pháp mới của các quyền tài sản gắn với tác phẩm.
Lưu ý:
- Tác giả không thể chuyển nhượng quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm)
- Chỉ quyền tài sản mới được phép chuyển nhượng
Các quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
“a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
c) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.”
Khi đã ký hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu hợp pháp quyền tài sản này.

Tác giả có quyền thu hồi tác phẩm đã chuyển nhượng không?
Tác giả không được tự ý thu hồi, trừ một số trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép. Bởi vì sau khi chuyển nhượng, quyền tài sản đã thuộc về bên nhận chuyển nhượng. Nếu tác giả tự ý thu hồi, sẽ bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu mới. Tuy nhiên, pháp luật vẫn dự liệu một cơ chế bảo vệ lợi ích của tác giả trong một số trường hợp nhất định.
Trường hợp tác giả được quyền yêu cầu thu hồi quyền đã chuyển nhượng
Theo Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả: Trường hợp bên nhận chuyển nhượng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, bên chuyển nhượng có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Như vậy, tác giả không có quyền thu hồi vì lý do chủ quan, mà chỉ được thu hồi khi:
Trường hợp 1: Bên nhận chuyển nhượng vi phạm hợp đồng
Đây là trường hợp phổ biến nhất khi chuyển nhượng quyền tác phẩm. Khi hợp đồng chuyển nhượng đã được ký, bên nhận chuyển nhượng có các nghĩa vụ rõ ràng như:
- Thanh toán tiền chuyển nhượng, nhuận bút, thù lao đúng thời hạn
- Khai thác tác phẩm đúng phạm vi, mục đích đã thỏa thuận
- Tôn trọng quyền nhân thân của tác giả
- Không sử dụng tác phẩm theo cách gây ảnh hưởng xấu đến uy tín tác giả
Nếu bên nhận chuyển nhượng vi phạm các nghĩa vụ này, tác giả có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng, bồi thường thiệt hại, hoàn trả lại quyền đã chuyển nhượng.
Ví dụ:
- Nhà xuất bản không thanh toán nhuận bút theo cam kết
- Công ty tự ý sửa nội dung tác phẩm khi khai thác
- Sử dụng tác phẩm vào mục đích quảng cáo phản cảm, trái đạo đức
- Khai thác vượt quá phạm vi đã nhận (ví dụ: chỉ được phát hành sách nhưng lại chuyển thể thành phim)
Khi đó, tác giả không phải đang “thu hồi vì muốn”, mà đang bảo vệ quyền lợi hợp pháp do bên kia vi phạm.
Trường hợp 2: Hợp đồng có điều khoản cho phép thu hồi
Trong nhiều hợp đồng chuyển nhượng, các bên có thể thỏa thuận trước rằng sau một thời gian nhất định, tác giả có quyền nhận lại quyền. Nếu bên nhận không khai thác tác phẩm, quyền sẽ tự động quay về tác giả.
Ví dụ:
- Sau 5 năm, quyền tự động quay về tác giả nếu không gia hạn
- Nếu bên nhận không khai thác tác phẩm trong vòng 12 tháng, quyền sẽ trả lại cho tác giả
- Tác giả có quyền mua lại quyền đã chuyển nhượng với một mức giá xác định
- Quyền chỉ chuyển nhượng trong một phạm vi địa lý nhất định
Nếu hợp đồng có các điều khoản như vậy, thì việc thu hồi không phải là vi phạm, mà là thực hiện đúng thỏa thuận. Đây là lý do vì sao việc soạn thảo hợp đồng chặt chẽ ngay từ đầu cực kỳ quan trọng.
Trường hợp 3: Hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng dân sự có thể bị tuyên vô hiệu trong các trường hợp như:
- Một bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép khi ký
- Người ký không đủ năng lực hành vi dân sự
- Nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
- Hình thức hợp đồng không đúng quy định (ví dụ: không lập thành văn bản)
Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, hậu quả pháp lý là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Điều này đồng nghĩa với việc quyền tài sản đối với tác phẩm sẽ quay trở lại với tác giả.
Tác giả vẫn giữ những quyền gì sau khi chuyển nhượng?
Dù đã chuyển nhượng quyền tài sản, tác giả vẫn giữ quyền nhân thân theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 bao gồm:
“1. Đặt tên cho tác phẩm.
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”
Do đó, dù không thể thu hồi quyền khai thác, tác giả vẫn có quyền ngăn chặn việc sử dụng tác phẩm theo cách làm sai lệch nội dung, gây ảnh hưởng xấu đến mình.
Trên đây là bài viết “Tác giả có quyền thu hồi tác phẩm đã chuyển nhượng không?”. Hy vọng sẽ giúp bạn hiểu rõ bản chất của việc chuyển nhượng quyền tác giả và giới hạn quyền thu hồi của tác giả sau khi hợp đồng có hiệu lực.
Trân trọng,
1. Tác giả có thể thu hồi tác phẩm chỉ vì không hài lòng với cách bên nhận chuyển nhượng khai thác không?
Không. Sự “không hài lòng” mang tính chủ quan không phải là căn cứ pháp lý để thu hồi. Tác giả chỉ có thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng và lấy lại quyền khi bên nhận chuyển nhượng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết hoặc có thỏa thuận thu hồi trong hợp đồng.
2. Nếu bên nhận chuyển nhượng không khai thác tác phẩm trong thời gian dài, tác giả có quyền lấy lại không?
Chỉ khi trong hợp đồng có điều khoản quy định rõ: nếu không khai thác trong một thời hạn nhất định thì quyền sẽ quay về tác giả. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận này, tác giả không thể tự ý thu hồi.