Sorting by

×
Skip to main content

Thẻ: chương trình máy tính

Việc sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?

Các phần mềm chính thống thường có phí sử dụng rất cao, điều này khiến người dùng máy tính e ngại và hay tìm đến một cách “lách luật” khác, đó là dùng phần mềm crack. Phần mềm crack ngày càng được phổ biến vì khi sử dụng các phần mềm đó người dùng sẽ không phải trả phí nhưng vẫn sử dụng được hết chức năng. Tuy nhiên, điều này có thể gây những nguy cơ tiềm ẩn cho khách hàng. Vậy, việc người dùng sử dụng phần mềm crack có được coi là vi phạm pháp luật không, hãy theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi.

1. Phần mềm crack là gì?

Pháp luật Việt nam chưa có định nghĩa rõ ràng về “Phần mềm crack”. Crack có thể hình dung là hành động của lập trình viên bẻ khóa để truy cập vào phần mềm một cách lén lút, ăn trộm phần mềm, làm cho một sản phẩm phần mềm có đăng ký bản quyền, phải trả phí để có thể sử dụng trở thành miễn phí khi được kích hoạt.

Ngắn gọn, phần mềm crack được hiểu đơn giản nhất là các phần mềm trả phí đã được bẻ khóa, khi sử dụng các phần mềm đã được crack, người dùng được sử dụng tất cả các chức năng miễn phí tất cả các chức năng và không bị giới hạn về thời gian.

2. Tại sao phần mềm crack lại được nhiều người sử dụng?

Một trong những tiện ích đầu tiên và lớn nhất đối với người sử dụng phần mềm crack là được sử dụng miễn phí tất cả các chức năng mà không bị giới hạn. Một số ứng dụng có phí muốn sử dụng phải tốn từ vài chục nghìn đến vài chục triệu một năm. Do đó, việc sử dụng phần mềm crack sẽ giảm thiểu một khoản tiền bỏ ra không hề nhỏ.

Ngoài ra, việc có được các file crack sẽ giúp cài đặt các phần mềm một cách thoải mái và nhanh chóng. Cũng như dễ dàng chia sẻ cho nhiều người sử dụng, không cần phải mua một phần mềm nhiều lần để cài trên nhiều máy khác nhau.

3. Sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?

Pháp luật cấm mọi biện pháp sao chép, sử dụng trái phép các phần mềm, mở khóa phần mềm khi chưa có sự cho phép của chủ sở hữu trí tuệ. Vì vậy việc sử dụng phần mềm không có bản quyền là vi phạm pháp luật. Trong mọi trường hợp, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ luôn được quan tâm hơn cả.

Crack không chỉ tác động xấu đến độ ổn định của hệ thống mà còn tiềm ẩn các nguy cơ đánh mất thông tin quan trọng cùng những phiền phức do các chương trình phá hoại ẩn gây ra và đặc biệt hơn cả là tác động rất xấu đến ý thức người dùng. Không những vậy, hành vi trên còn là hành vi vi phạm pháp luật vì các chương trình máy tính là một trong những đối tượng nằm trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

“Crack” là một hành động can thiệp nhằm vô hiệu hoá tính năng bảo vệ bản quyền của nhà sản xuất. Do đó, hành vi trên là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

“4. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này”.

Hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật, công nghệ do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (theo Điều 20 Nghị định 131/2013/NĐ-CP).

Hành vi tải và sử dụng phần mềm crack là hành vi vi phạm quyền tác giả. Cụ thể hơn, nó được coi là hành vi sao chép và sử dụng phần mềm máy tính mà không sự xin phép chủ sở hữu và trả tiền bản quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

“Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả”.

Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng (theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP).

Sử dụng phần mềm crack đồng nghĩa với việc vi phạm bản quyền, khi bị phát hiện sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm. Theo Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự có yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên việc sử dụng phần mềm crack ở Việt Nam diễn ra rất phổ biến và thường xuyên, gần như không có sự quản lý, trong tương lai từ nay về sau, việc xử lý sử dụng những hành vi vi phạm trên ở Việt Nam cần phải được áp dụng và làm chặt chẽ hơn.

Trên đây là bài viết “Việc sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Công nghệ thông tin đang thay đổi đời sống của con người từng ngày, từng giờ. Trong xu hướng phát triển của thế giới về công nghệ, những sản phẩm phần mềm, chương trình máy tính được làm ra ngày càng nhiều để đáp ứng những nhu cầu sản xuất, đời sống. Tuy nhiên, phần mềm máy tính có những đặc thù là dễ tiếp cận, phổ biến, dễ sao chép, vậy việc bảo hộ bản quyền của chương trình máy tính được thực hiện như thế nào? Chúng tôi xin cung cấp thông tin về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam cho bạn đọc thông qua bài viết dưới đây.

1. Chương trình máy tính là gì và được bảo hộ dưới hình thức nào?

Về định nghĩa chương trình máy tính, Khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

“Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.”

Chương trình máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ. Tại Việt Nam, chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học mà không được bảo hộ dưới dạng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ ghi nhận chương trình máy tính là một trong những đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế.

Tuy nhiên, chương trình máy tính vẫn có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế trong trường hợp đặc biệt. Trong Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế được đính kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ban hành tại mục 5.8.2.5 hướng dẫn xác định đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế liên quan đến chương trình máy tính đã nêu rõ:

“Sáng chế liên quan đến chương trình máy tính là một dạng “sáng chế được thực hiện bởi máy tính”, cụm từ này nhằm chỉ các đối tượng liên quan đến máy tính, mạng máy tính hoặc các thiết bị lập trình được khác mà thoạt nhìn một hoặc nhiều dấu hiệu của đối tượng yêu cầu bảo hộ được thực hiện bởi (các) chương trình. Mặc dù chương trình máy tính thuộc danh mục các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nhưng nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ có đặc tính kỹ thuật và thực sự là một giải pháp kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật bằng một phương tiện kỹ thuật để tạo ra một hiệu quả kỹ thuật thì nó có thể được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.”

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chương trình máy tính được bảo hộ như là bảo hộ một tác phẩm văn học. Chương trình máy tính muốn được công nhận để được bảo hộ quyền tác giả cần phải thỏa mãn những tiêu chí cụ thể như sau:

Một là, tính nguyên gốc của tác phẩm. Tính nguyên gốc của tác phẩm được hiểu là tác phẩm được hình thành do chính sự lao động sáng tạo của tác giả, không sao chép của người khác. Tính nguyên gốc không đồng nhất với tính mới của tác phẩm. Hai chương trình máy tính của hai tác giả khác nhau mặc dù giống nhau nhưng vẫn được bảo hộ quyền tác giả nếu như tác giả của hai chương trình đó đã sáng tạo ra chúng một cách hoàn toàn độc lập, không sao chép của nhau.

Hai là, chương trình máy tính phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định. Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị định 22/2018/NĐ – CP, định hình là sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt. Bên cạnh đó, hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử cũng là được coi một dạng biểu hiện của tác phẩm1. Chương trình máy tính được viết bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau, cấu thành bởi các chữ viết và ký tự thường dùng trong văn bản viết và phần lớn được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Chương trình máy tính được bảo hộ dù ở dạng mã nguồn hay mã máy.

Ba là, tiêu chí về chủ thể của quyền tác giả. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của chương trình máy tính phải là một trong những đối tượng sau:

  • Tổ chức, cá nhân có quốc tịch Việt Nam; 
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; 
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Khi đáp ứng đủ ba điều kiện trên, chương trình máy tính được bảo hộ quyền tác giả tự động mà không phải tiến hành bất kì thủ tục nào. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không chủ động thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả sẽ gặp phải nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho việc chứng minh quyền sở hữu đối với chương trình máy tính. Bên cạnh đó, chương trình máy tính là đối tượng có giá trị kinh tế cao, để thuận lợi cho hoạt động chuyển nhượng, li-xăng quyền tác giả thì việc đăng ký quyền tác giả là điều kiện cơ bản nhất, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện giao dịch. Do đó các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả sớm nhất có thể.

Trên đây là nội dung bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính”. Bản Quyền Việt Nam hy vọng bài viết này có ích với bạn đọc.

Trân trọng.

 1Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 về Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.