Sách không chỉ là một sản phẩm văn hóa, mà còn là tài sản trí tuệ quý giá, được bảo vệ bởi quyền tác giả. Tác giả sở hữu quyền độc quyền trong việc khai thác và sử dụng tác phẩm của mình, đảm bảo rằng họ sẽ nhận được sự công nhận và thù lao xứng đáng cho nỗ lực sáng tạo. Tuy nhiên, sách lại là đối tượng dễ bị sao chép, in ấn, xuất bản không có sự cho phép của tác giả. Vậy, xử lý  vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. In sách lậu là gì

Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định về khái niệm in sách lậu là gì. Tuy nhiên có thể dựa vào các căn cứ sau để hiểu được khái niệm này.

Luật sở hữu trí tuệ tại  khoản 4 Điều 213 quy định như sau:

Điều 28: Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ

Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.

Thêm vào đó theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Luật xuất bản 2012 và Điều 9 nghị định 60/2014/ND-CP được bổ sung bởi điểm c khoản 2 Điều 1 nghị định 72/2022/ND-CP thì có thể hiểu in sách lậu là một hành vi bị nghiêm cấm trong pháp luật được thực hiện bởi các hình thức sau:

  • In những xuất bản không được phép lưu hành tại Việt Nam.
  • In xuất bản phẩm trong khi chưa có giấy phép hoạt động in.
  • In xuất bản phẩm nhưng chưa được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ thể có quyền tác giả.
  • Lợi dụng hoạt động chế bản, in, gia công sau in, photocopy để in trái phép xuất bản phẩm.
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu

2. Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu

Tổ chức hoặc cá nhân vi phạm quyền tác giả của người khác có thể bị xử lý tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi xâm phạm. Người in sách lậu không có sự cho phép của chủ sở hữu thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 18 nghị định 131.2013/ND-CP và khoản 2 Điều 3 nghị định 28/2017/ND-CP:

Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm

1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.

Và khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/ND-CP:

Quy định khung phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

2.Khung phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là khung phạt tiền áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 5; Khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều 7 Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm, khung phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần khung phạt tiền đối với cá nhân.

Theo đó,  cá nhân và tổ chức có hành vi in ấn sách lậu mà không có sự cho phép của chủ sở hữu tác quyền sẽ phải chịu mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân, và từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức.

Ngoài hình phạt tiền, họ còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như:

  • Xóa bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số.
  • Tiêu hủy tang vật liên quan đến hành vi vi phạm.

Đây là những quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ngăn chặn tình trạng xâm phạm bản quyền trong lĩnh vực xuất bản.

3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3a Chương I Nghị định 131/2013/ND-CP được bổ sung bởi khoản 1 Điều 3 Nghị định 129/2021/ND-CP:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan là 02 năm.

2. Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan được quy định như sau:

a) Đối với hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện quy định tại điểm a khoản 3 Điều này thì thời hiệu được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm;

b) Đối với hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc quy định tại điểm b khoản 3 Điều này thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;

c) Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân do người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính chuyển đến thì thời hiệu xử phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này, điểm a và điểm b khoản này tính đến thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

3. Hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện và hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc về quyền tác giả, quyền liên quan

a) Hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan đang thực hiện là hành vi có tính chất kéo dài, đã và đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm và hành vi đó vẫn đang trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước;

b) Hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan đã kết thúc là hành vi được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và có căn cứ, thông tin chứng minh hành vi đã thực hiện xong trước thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm hành chính.

4. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, nếu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt của cơ quan có thẩm quyền thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Do đó thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả là 2 năm.

Trên đây là bài viết “Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi in sách lậu”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,