Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả có đương nhiên là chủ sở hữu quyền tác giả không?

Trong hoạt động sáng tạo, nhiều người thường cho rằng người trực tiếp tạo ra tác phẩm thì đương nhiên là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Pháp luật về quyền tác giả có sự phân biệt rõ giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, và hai chủ thể này không phải lúc nào cũng trùng nhau. Vậy, tác giả có đương nhiên là chủ sở huux quyền tác giả không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là hai chủ thể khác nhau theo quy định pháp luật

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, khái niệm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được xác định với nội dung pháp lý khác nhau. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức hoặc cá nhân nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm. Điều này cho thấy, người sáng tạo ra tác phẩm chưa chắc đã là người có quyền khai thác toàn bộ giá trị kinh tế của tác phẩm.

Việc phân biệt hai chủ thể này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi nếu chỉ dựa vào yếu tố sáng tạo mà mặc nhiên xác định quyền sở hữu thì có thể dẫn đến hiểu sai quy định pháp luật. Trên thực tế, khi xác định quyền đối với một tác phẩm, cần xem xét đầy đủ các yếu tố như:

  • Hoàn cảnh hình thành tác phẩm
  • Quan hệ giữa người sáng tạo và tổ chức liên quan
  • Các thỏa thuận hoặc hợp đồng đã được ký kết

Những yếu tố trên có thể làm thay đổi chủ thể sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm, dù người sáng tạo vẫn được xác định là tác giả.

Tác giả có đương nhiên là chủ sở hữu quyền tác giả không?

Tác giả có đương nhiên là chủ sở hữu quyền tác giả không?

Tác giả đồng thời là chủ sở hữu khi nào?

Trong nhiều trường hợp, tác giả chính là chủ sở hữu quyền tác giả, đặc biệt khi việc sáng tạo mang tính độc lập. Theo quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp sáng tạo tác phẩm bằng công sức và chi phí của mình thì là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này phản ánh nguyên tắc cơ bản của pháp luật quyền tác giả, đó là người bỏ công sức và chi phí sáng tạo sẽ được hưởng quyền khai thác tác phẩm.

Thông thường, tác giả đồng thời là chủ sở hữu trong các trường hợp sau:

  • Tác phẩm được sáng tạo độc lập, không theo nhiệm vụ được giao.
  • Không có hợp đồng đặt hàng hoặc hợp đồng lao động yêu cầu tạo ra tác phẩm.
  • Không có thỏa thuận chuyển nhượng quyền tài sản cho người khác.

Trong các trường hợp này, tác giả có đầy đủ quyền đối với tác phẩm, bao gồm quyền công bố tác phẩm, cho phép người khác sử dụng, chuyển nhượng quyền hoặc khai thác tác phẩm để thu lợi kinh tế. Ví dụ, một cá nhân viết sách vào thời gian rảnh bằng phương tiện cá nhân, không theo yêu cầu của bất kỳ tổ chức nào, thì người đó vừa là tác giả vừa là chủ sở hữu quyền tác giả đối với cuốn sách. Tuy nhiên, quyền sở hữu này không phải là bất biến, bởi nếu sau đó tác giả ký hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản theo quy định tại Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ, thì chủ sở hữu quyền tài sản có thể thay đổi.

Trường hợp nào tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Bên cạnh các trường hợp sáng tạo độc lập, pháp luật cũng ghi nhận nhiều tình huống mà tác giả không phải là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm. Theo quy định tại Điều 39 và Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền tác giả có thể thuộc về tổ chức hoặc cá nhân khác khi tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng.

Cụ thể, tác giả có thể không phải là chủ sở hữu trong các trường hợp sau:

Tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ của cơ quan hoặc tổ chức:

Khi người lao động sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao trong quá trình làm việc, tổ chức giao nhiệm vụ thường là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm, trừ khi có thỏa thuận khác. Trong trường hợp này, người lao động vẫn được xác định là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ, nhưng quyền khai thác thương mại đối với tác phẩm thuộc về tổ chức.

Tác phẩm được tạo ra theo hợp đồng đặt hàng:

Khi một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện việc sáng tạo theo hợp đồng đặt hàng, quyền sở hữu quyền tài sản sẽ được xác định theo nội dung hợp đồng, phù hợp với quy định tại Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ. Nếu hợp đồng quy định bên đặt hàng là chủ sở hữu, thì tác giả chỉ giữ tư cách là người sáng tạo.

Tác giả chuyển nhượng quyền tài sản cho người khác:

Theo quy định tại Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản đối với tác phẩm có thể được chuyển nhượng cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Sau khi việc chuyển nhượng hoàn tất, người nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu quyền tài sản, còn tác giả không còn quyền khai thác thương mại đối với tác phẩm.

Những trường hợp này cho thấy rằng việc xác định chủ sở hữu quyền tác giả không chỉ dựa vào yếu tố sáng tạo mà còn phụ thuộc vào quan hệ pháp lý giữa các bên.

Trên đây là bài viết “Tác giả có đương nhiên là chủ sở hữu quyền tác giả không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi 1: Tác giả có luôn là chủ sở hữu quyền tác giả không?

    Không. Tác giả chỉ đồng thời là chủ sở hữu khi tự mình sáng tạo tác phẩm bằng công sức và chi phí của mình và không có thỏa thuận chuyển giao quyền cho người khác.

  2. Câu hỏi 2: Nếu không là chủ sở hữu, tác giả còn quyền gì đối với tác phẩm?

    Tác giả vẫn có quyền nhân thân như được ghi tên trên tác phẩm, đặt tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm theo quy định pháp luật.