Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có được bảo hộ quyền tác giả không?
Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một phần quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, được lưu truyền qua nhiều thế hệ dưới nhiều hình thức khác nhau như truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, dân ca, chèo, tuồng, múa dân gian hay các loại hình nghệ thuật truyền thống khác. Tuy nhiên, do không xác định được tác giả cụ thể nên nhiều người thắc mắc: Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có được bảo hộ quyền tác giả không? Hãy cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!
Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là gì?
Theo khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ: “Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, được thể hiện bằng cách mô phỏng hoặc bằng các cách thức khác.”
Đây là những tác phẩm được hình thành, lưu giữ và truyền lại trong cộng đồng dân cư qua nhiều thế hệ, thường không xác định được tác giả đầu tiên.
Một số loại hình tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian phổ biến gồm:
- Truyện cổ tích;
- Truyện ngụ ngôn;
- Truyền thuyết;
- Ca dao, tục ngữ;
- Hò, vè, dân ca;
- Nghệ thuật biểu diễn dân gian;
- Các hình thức nghệ thuật truyền thống khác.
Những tác phẩm này không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn phản ánh bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống tinh thần của cộng đồng.

Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có được bảo hộ quyền tác giả không?
Nhiều người cho rằng các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích hay dân ca là tài sản chung của cộng đồng nên sẽ không được pháp luật bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, trên thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ vẫn có những quy định riêng nhằm bảo vệ loại hình tác phẩm đặc biệt này, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 14 quy định: “Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian” là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.
Như vậy, mặc dù không xác định được tác giả cụ thể nhưng pháp luật Việt Nam vẫn dành cơ chế bảo hộ đối với loại hình tác phẩm đặc biệt này nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Khác với các tác phẩm thông thường, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian không thuộc sở hữu của một cá nhân riêng lẻ.
Do được hình thành từ quá trình sáng tạo tập thể và lưu truyền qua nhiều thế hệ nên việc bảo hộ chủ yếu nhằm:
- Bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống;
- Ngăn chặn việc xuyên tạc nội dung tác phẩm;
- Hạn chế việc khai thác, sử dụng trái với lợi ích cộng đồng;
- Khuyến khích việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
Đây cũng là lý do pháp luật có những quy định riêng đối với việc sử dụng loại hình tác phẩm này.
Khi sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cần tuân thủ điều gì?
Mặc dù tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng và không xác định được tác giả cụ thể, nhưng không phải vì thế mà mọi cá nhân, tổ chức có thể tùy ý sử dụng. Pháp luật sở hữu trí tuệ đã đặt ra những nguyên tắc nhất định nhằm bảo đảm việc khai thác các tác phẩm dân gian không làm ảnh hưởng đến giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Khoản 2 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.”
Điều này có nghĩa là khi khai thác hoặc sử dụng các tác phẩm dân gian, cá nhân và tổ chức cần thực hiện các nghĩa vụ sau:
Ghi rõ nguồn gốc tác phẩm
Khi sử dụng tác phẩm dân gian trong sách, chương trình biểu diễn, nghiên cứu hoặc các sản phẩm truyền thông khác, cần nêu rõ xuất xứ của tác phẩm.
Ví dụ: Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Hò Huế; Truyện cổ tích Việt Nam; Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.
Việc ghi nhận nguồn gốc góp phần tôn trọng giá trị văn hóa của cộng đồng đã sáng tạo và lưu giữ tác phẩm.
Không xuyên tạc nội dung tác phẩm
Người sử dụng không được tự ý sửa đổi, bóp méo hoặc làm sai lệch nội dung theo hướng gây ảnh hưởng tiêu cực đến ý nghĩa văn hóa và lịch sử của tác phẩm.
Ví dụ:
- Thay đổi nội dung truyền thuyết theo hướng xúc phạm cộng đồng;
- Chế tác dân ca thành sản phẩm có nội dung phản cảm;
- Sử dụng tác phẩm dân gian để truyền tải thông tin sai lệch.
Những hành vi này có thể bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Có được đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian không?
Thông thường, không thể đăng ký quyền tác giả đối với chính tác phẩm dân gian nguyên gốc vì không xác định được tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả cụ thể. Tuy nhiên, một cá nhân hoặc tổ chức có thể đăng ký quyền tác giả đối với phần sáng tạo mới của mình dựa trên chất liệu dân gian.
Ví dụ:
- Chuyển thể truyện cổ tích thành kịch bản phim;
- Biên soạn tuyển tập dân ca có tính sáng tạo;
- Dàn dựng chương trình nghệ thuật mới từ chất liệu dân gian;
- Sáng tác tác phẩm mỹ thuật dựa trên họa tiết truyền thống.
Trong trường hợp này, quyền tác giả chỉ phát sinh đối với phần sáng tạo mới chứ không bao gồm phần nội dung dân gian có sẵn.
Trên đây là bài viết “Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Hy vọng những thông tin trên đã giúp bạn hiểu rõ hơn về cơ chế bảo hộ đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cũng như các quy định cần tuân thủ khi khai thác, sử dụng loại hình tác phẩm đặc biệt này.
Trân trọng,
Câu hỏi thường gặp
1. Khi sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có phải ghi nguồn gốc không?
Có. Khoản 2 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm. Việc ghi rõ nguồn gốc thể hiện sự tôn trọng đối với cộng đồng đã sáng tạo và lưu giữ tác phẩm.
2. Việc chuyển thể truyện cổ tích hoặc dân ca có được bảo hộ quyền tác giả không?
Có. Nếu việc chuyển thể, biên soạn hoặc dàn dựng có yếu tố sáng tạo riêng thì phần nội dung sáng tạo mới sẽ được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ chỉ áp dụng đối với phần sáng tạo mới, không bao gồm phần nội dung dân gian có sẵn.