Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Không ít người cho rằng chỉ những tác phẩm có hình thức trình bày cầu kỳ hoặc được in ấn thành sách mới được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số, ngày càng nhiều tác phẩm được sáng tạo và thể hiện đơn thuần dưới dạng ký tự như bài viết, giáo trình, kịch bản, nội dung website, tài liệu điện tử. Vậy các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không? Cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!

Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự

Hiện nay, pháp luật không có khái niệm riêng biệt về “tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự”. Tuy nhiên, có thể hiểu tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự là những tác phẩm được sáng tạo và thể hiện thông qua hệ thống chữ viết, ký hiệu, con số, mã hóa… có thể đọc, nhận biết và lưu trữ dưới dạng văn bản.

Các tác phẩm này bao gồm nhưng không giới hạn ở:

  • Bài viết văn học, truyện ngắn, tiểu thuyết

  • Bài báo, bài SEO, nội dung website

  • Giáo trình, bài giảng, tài liệu đào tạo

  • Kịch bản phim, kịch bản quảng cáo

  • Báo cáo nghiên cứu, luận văn

  • Nội dung số được thể hiện bằng ký tự (PDF, Word, HTML…)

Điểm chung của các tác phẩm trên là đều được thể hiện thông qua ký tự và có thể xác định được hình thức vật chất, dù là trên giấy hay trên file điện tử.

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: “Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt phương tiện, ngôn ngữ, hình thức thể hiện, chất lượng, số lượng.”

Quy định này cho thấy, pháp luật Việt Nam không đặt ra bất kỳ sự giới hạn nào về hình thức thể hiện của tác phẩm khi xem xét bảo hộ quyền tác giả. Nói cách khác, việc một tác phẩm được thể hiện bằng chữ viết, ký tự, con số, ký hiệu hay được trình bày trên giấy, trên môi trường số hoặc dưới dạng dữ liệu điện tử không phải là căn cứ để loại trừ khả năng được bảo hộ.

Theo đó, để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, pháp luật chỉ yêu cầu đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:

  • Tác phẩm phải thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học: Đây là phạm vi bảo hộ chung mà Luật Sở hữu trí tuệ đặt ra cho các đối tượng được hưởng quyền tác giả.

  • Tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định: Hình thức vật chất ở đây được hiểu rất rộng, bao gồm văn bản in ấn trên giấy, tệp tin điện tử, nội dung đăng tải trên website, tài liệu lưu trữ dưới dạng số hóa… Chỉ cần tác phẩm có thể được nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt thì đã được coi là có hình thức vật chất.

Trong khi đó, các tác phẩm dưới dạng ký tự rõ ràng thuộc nhóm tác phẩm văn học hoặc khoa học và được thể hiện thông qua văn bản in ấn hoặc file điện tử.

Như vậy, tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự hoàn toàn được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam, không phụ thuộc vào việc tác phẩm được viết tay, đánh máy, đăng tải trên Internet hay lưu trữ dưới dạng dữ liệu số.

Ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, quyền tác giả phát sinh một cách tự động, không bắt buộc phải đăng ký. Trong trường hợp quyền tác giả bị xâm phạm, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm dạng ký tự có đầy đủ căn cứ pháp lý để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Phạm vi bảo hộ và quyền của tác giả đối với tác phẩm dạng ký tự

Việc tác phẩm dạng ký tự được bảo hộ quyền tác giả đồng nghĩa với việc tác giả được pháp luật ghi nhận và bảo vệ các quyền gắn liền với tác phẩm đó. Do vậy, cần làm rõ phạm vi bảo hộ cũng như các quyền mà tác giả được hưởng để tránh những nhầm lẫn trong quá trình sử dụng và khai thác tác phẩm.

Phạm vi bảo hộ

Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.”

Như vậy, khi tác phẩm dạng ký tự đáp ứng đủ điều kiện bảo hộ, quyền tác giả phát sinh tự động, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

Các quyền của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự

Quyền nhân thân của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự:

  • Đặt tên cho tác phẩm

  • Đứng tên thật hoặc bút danh

  • Công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm

  • Bảo vệ sự toàn vẹn của nội dung tác phẩm

Quyền tài sản của tác giả tác phẩm dưới dạng ký tự:

  • Sao chép tác phẩm

  • Phân phối, truyền đạt đến công chúng

  • Cho thuê, khai thác thương mại

  • Cho phép người khác sử dụng có trả phí

Trong trường hợp bị sao chép, sử dụng trái phép bài viết, nội dung ký tự, tác giả có quyền:

  • Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm

  • Yêu cầu xin lỗi, bồi thường

  • Khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền

Trên đây là bài viết “Các tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Hy vọng nội dung bài viết sẽ giúp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả hiểu đúng phạm vi bảo hộ đối với tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự, từ đó chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sáng tạo, khai thác và sử dụng tác phẩm.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Tác phẩm dạng ký tự có cần đăng ký mới được bảo hộ quyền tác giả không?

    Không. Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

  2. 2. Những trường hợp nào tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự không được bảo hộ quyền tác giả?

    Một số đối tượng dù được thể hiện bằng ký tự nhưng không được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm tin tức thời sự thuần túy, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, quy trình, phương pháp hoạt động, số liệu và dữ kiện đơn thuần theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường trực tiếp xây dựng bài giảng dựa trên kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm sư phạm và yêu cầu đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, khi các bài giảng này được sử dụng trong phạm vi hoạt động của cơ sở giáo dục, đặc biệt là trong mối quan hệ lao động giữa giáo viên và trường học, câu hỏi đặt ra là: quyền tác giả đối với bài giảng thuộc về giáo viên hay nhà trường, và trường học có thể đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền tác giả hay không. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

Bài giảng có phải là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, bài giảng là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Cụ thể, khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung) quy định: tác phẩm khoa học, giáo trình, bài giảng và các tác phẩm khác được thể hiện dưới hình thức chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh hoặc phương tiện khác đều thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Quyền tác giả đối với bài giảng chỉ phát sinh khi bài giảng được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, chẳng hạn như giáo án in trên giấy, slide bài giảng điện tử, bài giảng ghi âm, ghi hình, bài giảng trực tuyến hoặc tài liệu giảng dạy lưu trữ trên hệ thống số. Ý tưởng giảng dạy, phương pháp truyền đạt hoặc nội dung kiến thức thuần túy chưa được thể hiện thành hình thức cụ thể thì chưa được coi là tác phẩm và không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

Bên cạnh đó, bài giảng được bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Việc đăng ký bản quyền chỉ có ý nghĩa xác lập chứng cứ ban đầu khi xảy ra tranh chấp, chứ không phải là điều kiện để được bảo hộ.

Trong thực tiễn, các tài liệu như giáo án, slide PowerPoint, tài liệu phát cho học viên, bài giảng e-learning hoặc video bài giảng do giáo viên trực tiếp xây dựng đều được coi là tác phẩm và được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ chỉ áp dụng đối với hình thức thể hiện cụ thể của bài giảng, không bao gồm nội dung kiến thức chung, dữ liệu mang tính phổ biến hoặc chương trình đào tạo theo khung chuẩn do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?

Việc trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên hay không phụ thuộc vào căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với bài giảng, cụ thể:

  • Trường hợp giáo viên tự sáng tạo bài giảng bằng công sức cá nhân, không theo nhiệm vụ được giao và không có thỏa thuận khác, thì giáo viên vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu quyền tác giả. Khi đó, trường học không có quyền đứng tên chủ sở hữu nếu không có sự chuyển giao quyền hợp pháp.
  • Trường hợp bài giảng được sáng tạo theo nhiệm vụ do trường giao, hoặc được tạo ra trong khuôn khổ hợp đồng lao động, hợp đồng giảng dạy, hoặc có thỏa thuận bằng văn bản xác định trường học là chủ sở hữu quyền tác giả, thì trường học có quyền đứng tên là chủ sở hữu quyền tác giả, còn giáo viên vẫn được ghi nhận là tác giả.
  • Trường hợp giáo viên chuyển nhượng quyền sở hữu quyền tác giả cho trường học, thì sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng hợp pháp, trường học cũng có quyền đứng tên là chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Như vậy, trường học không đương nhiên có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên, mà chỉ được đứng tên khi có căn cứ pháp lý rõ ràng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Rủi ro pháp lý nếu trường học đứng tên bản quyền trái quy định

Thứ nhất, Giấy chứng nhận quyền tác giả có thể bị hủy bỏ hoặc điều chỉnh.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả chỉ có giá trị khi thông tin về tác giả và chủ sở hữu được ghi nhận đúng chủ thể có quyền. Trường hợp trường học đứng tên trên Giấy chứng nhận trong khi không phải là chủ sở hữu hợp pháp thì cơ quan có thẩm quyền có thể thu hồi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi Giấy chứng nhận theo yêu cầu của người có quyền lợi liên quan.

Thứ hai, phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nếu việc đứng tên chủ sở hữu trái quy định gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, quyền nghề nghiệp hoặc quyền khai thác tác phẩm của giáo viên, trường học có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, rủi ro pháp lý trong quá trình khai thác và sử dụng tác phẩm.

Khi tư cách chủ thể quyền không hợp pháp, mọi hoạt động sử dụng, số hóa, cấp phép, chuyển giao hoặc khai thác bài giảng đều tiềm ẩn nguy cơ bị tranh chấp, dẫn đến đình chỉ sử dụng tác phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo và uy tín của nhà trường.

Trên đây là bài viết “Trường học có quyền đứng tên bản quyền bài giảng của giáo viên không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi 1:Bài giảng do giáo viên xây dựng có mặc nhiên thuộc quyền sở hữu của trường học không?

    Không. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, giáo viên là tác giả của bài giảng nếu trực tiếp sáng tạo ra nội dung. Trường học chỉ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả khi bài giảng được tạo ra theo nhiệm vụ được giao và có thỏa thuận hoặc căn cứ pháp luật xác lập quyền sở hữu cho nhà trường.

  2. Câu hỏi 2: Trường học có được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền tác giả đối với bài giảng của giáo viên không?

    Có, nhưng chỉ trong trường hợp trường học là chủ sở hữu quyền tác giả, chẳng hạn khi bài giảng được sáng tạo theo hợp đồng lao động, nhiệm vụ chuyên môn hoặc có văn bản chuyển giao quyền từ giáo viên cho nhà trường theo quy định pháp luật.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Việc đăng tải các trích đoạn tác phẩm trên website và mạng xã hội hiện nay diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng chỉ cần không nhằm mục đích thu lợi thì sẽ không phát sinh vi phạm quyền tác giả. Vậy đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?, cùng VCD tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!

Trích đoạn tác phẩm là gì?

Hiện nay, pháp luật không đưa ra khái niệm riêng về “trích đoạn tác phẩm”. Tuy nhiên, có thể hiểu, trích đoạn tác phẩm là việc sử dụng một phần nội dung của tác phẩm đã được bảo hộ quyền tác giả (văn học, nghệ thuật, khoa học…) dưới bất kỳ hình thức nào như sao chép, đăng tải, chia sẻ, trình chiếu…

Các dạng trích đoạn tác phẩm phổ biến gồm:

  • Trích đoạn sách, truyện, bài báo

  • Trích đoạn lời bài hát, bản nhạc

  • Trích đoạn phim, chương trình truyền hình

  • Trích đoạn bài nghiên cứu, giáo trình

Việc trích đoạn dù ngắn hay dài, có thu phí hay không, đều là hành vi sử dụng tác phẩm theo pháp luật về quyền tác giả.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Nguyên tắc chung về quyền tác giả khi sử dụng tác phẩm

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Về nguyên tắc, khi tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm của người khác, phải xin phép tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác (Trừ trường hợp pháp luật có quy định ngoại lệ).

Vì vậy việc không thu phí khi đăng tải hoặc sử dụng tác phẩm không đồng nghĩa với quyền tự do sử dụng tác phẩm, và cũng không loại trừ nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu không thuộc các trường hợp ngoại lệ theo luật định.

Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?

Không phải mọi hành vi đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí đều vi phạm quyền tác giả. Pháp luật quy định một số trường hợp ngoại lệ cho phép sử dụng tác phẩm trong phạm vi nhất định. Ngược lại, nếu ngoài phạm vi sẽ bị vi phạm và xử phạt. Dưới đây là các trường hợp cụ thể:

Trường hợp được đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí không bị vi phạm

  • Trích dẫn hợp lý vì mục đích thông tin, bình luận, nghiên cứu: Theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm để bình luận, minh họa trong tác phẩm của mình, với điều kiện phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm.” Như vậy, đăng trích đoạn không thu phí sẽ không vi phạm nếu chỉ trích một phần hợp lý, không làm thay thế tác phẩm gốc; mục đích là bình luận, phân tích, minh họa, nghiên cứu; ghi rõ tên tác giả, nguồn tác phẩm; không gây ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm. Ví dụ hợp pháp: Trích một đoạn ngắn trong sách để phân tích nội dung; trích một phần bài báo để bình luận, phản biện; trích đoạn nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập.

  • Sử dụng tác phẩm cho mục đích giáo dục, giảng dạy không thương mại: Theo điểm d khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ: “Sử dụng tác phẩm trong hoạt động giảng dạy, học tập không nhằm mục đích thương mại.” Trong trường hợp này, không thu phí, không nhằm mục đích kinh doanh, không cắt ghép, xuyên tạc nội dung tác phẩm thì việc đăng trích đoạn có thể không bị coi là vi phạm.

Trường hợp đăng trích đoạn không thu phí nhưng vẫn vi phạm quyền tác giả

Không phải cứ đăng trích đoạn tác phẩm “không thu tiền” là an toàn pháp lý. Nhiều trường hợp vẫn bị coi là xâm phạm quyền tác giả, như:

  • Trích đoạn quá dài, làm thay thế tác phẩm gốc: Bạn đăng nhiều chương sách; đăng phần “hay nhất”, “cao trào” của phim, truyện; tổng hợp trích đoạn đủ để người xem không cần tiếp cận bản gốc.
  • Không ghi tên tác giả, nguồn tác phẩm: Theo luật, ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc là điều kiện bắt buộc. Nếu không đáp ứng điều kiện này sẽ vi phạm quyền nhân thân của tác giả.
  • Đăng trích đoạn để thu hút traffic, quảng cáo gián tiếp: Website không thu phí đọc nhưng gắn quảng cáo, bán sản phẩm, dịch vụ. Đây được xem là mục đích thương mại gián tiếp, vẫn phải xin phép và trả tiền tác quyền.

Một số lưu ý quan trọng khi đăng trích đoạn tác phẩm

Để hạn chế rủi ro pháp lý và tránh hành vi xâm phạm quyền tác giả, cá nhân và tổ chức khi đăng trích đoạn tác phẩm cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:

  • Chỉ trích dẫn trong phạm vi cần thiết, phù hợp với mục đích sử dụng, không làm thay thế hoặc ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm gốc.

  • Ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm, bảo đảm tôn trọng đầy đủ quyền nhân thân của tác giả theo quy định pháp luật.

  • Không sử dụng trích đoạn cho mục đích thương mại hoặc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khi chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

  • Không chỉnh sửa, cắt ghép, xuyên tạc nội dung tác phẩm, làm sai lệch ý nghĩa, tinh thần của tác phẩm gốc.

  • Trong trường hợp còn băn khoăn về phạm vi sử dụng, nên chủ động xin phép chủ sở hữu quyền tác giả bằng văn bản để đảm bảo an toàn pháp lý.

Trên đây là bài viết “Đăng trích đoạn tác phẩm không thu phí có vi phạm quyền tác giả không?”. VCD hy vọng bạn sẽ hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về quyền tác giả, nhận diện đúng những trường hợp được phép sử dụng trích đoạn tác phẩm cũng như những hành vi có thể bị coi là vi phạm.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Không ghi tên tác giả khi đăng trích đoạn tác phẩm có vi phạm không?

     Có. Việc không ghi tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm có thể bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả, kể cả khi không thu phí.

  2. 2. Đăng trích đoạn tác phẩm để thu hút lượt xem cho website có phải xin phép không?

    Nếu việc đăng tải trích đoạn tác phẩm lên website là nhằm mục đích thương mại. Do đó, người sử dụng tác phẩm vẫn phải xin phép và trả tiền tác quyền theo quy định.



Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Viết lại cái kết của một tác phẩm là hành vi khá phổ biến trong sáng tác, học tập… Tuy nhiên, không ít người thắc mắc liệu viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không, nhất là khi tác phẩm gốc vẫn còn được bảo hộ. Để trả lời chính xác, cần đặt hành vi này trong mối liên hệ với quyền làm tác phẩm phái sinh, phạm vi sử dụng hợp pháp và các giới hạn mà pháp luật sở hữu trí tuệ cho phép.

Quyền tác giả đối với tác phẩm được hiểu như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

Một tác phẩm văn học, điện ảnh, sân khấu… được bảo hộ toàn bộ nội dung, bao gồm:

  • Cốt truyện
  • Nhân vật
  • Diễn biến
  • Phần kết
  • Hình thức thể hiện sáng tạo

Do đó, cái kết của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như các yếu tố sáng tạo khác, và mọi hành vi khai thác, sửa đổi hoặc sử dụng phần kết này đều cần được xem xét cẩn trọng dưới góc độ quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

Viết lại cái kết của tác phẩm là hành vi gì về mặt pháp lý?

Việc viết lại cái kết của một tác phẩm đã có sẵn thường được xếp vào một trong các hành vi sau:

  • Làm tác phẩm phái sinh
  • Cải biên, sửa đổi tác phẩm
  • Chuyển thể hoặc sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc

Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có.”

Ví dụ:

  • Viết lại cái kết khác cho một tiểu thuyết nổi tiếng
  • Thay đổi kết cục số phận của nhân vật

Như vậy, tất cả các trường hợp này đều có dấu hiệu là tác phẩm phái sinh.

Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?

Việc viết lại cái kết có thể hợp pháp trong một số trường hợp, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu không đáp ứng đúng điều kiện theo Luật Sở hữu trí tuệ. Phần nội dung dưới đây sẽ làm rõ những trường hợp bị coi là vi phạm và không bị coi là vi phạm để bạn tránh rủi ro pháp lý.

Trường hợp viết lại cái kết của tác phẩm bị vi phạm quyền tác giả

Viết lại cái kết có nguy cơ vi phạm quyền tác giả nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

  • Không được sự cho phép của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả: Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền: “Làm tác phẩm phái sinh”. Như vậy, việc viết lại cái kết, nếu bị coi là tác phẩm phái sinh thì bắt buộc phải có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp ngoại lệ do luật quy định.
  • Nội dung vẫn dựa chặt vào cốt truyện, nhân vật, thế giới tác phẩm gốc. Nếu nhân vật không thay đổi; bối cảnh, mạch truyện giữ nguyên; chỉ thay đổi kết cục… sẽ bị coi là xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh.
  • Công bố công khai hoặc khai thác thương mại: Nếu bạn sử dụng để đăng tải lên website, mạng xã hội; phát hành sách, truyện, phim; kiếm tiền từ nội dung viết lại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền yêu cầu gỡ bỏ, bồi thường thiệt hại hoặc xử phạt hành chính.

Trường hợp viết lại cái kết của tác phẩm không bị coi là vi phạm quyền tác giả

Không phải mọi hành vi viết lại cái kết đều vi phạm pháp luật. Một số trường hợp sau có thể được chấp nhận:

  • Tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả: Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo sau khi tác giả qua đời. Nếu tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng, bạn có quyền tự do khai thác, bao gồm việc viết lại cái kết.
  • Viết cho mục đích nghiên cứu, học tập, phân tích cá nhân: Theo Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, một số hành vi sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền, bao gồm: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, minh họa trong tác phẩm của mình.” Tuy nhiên, không được công bố như một tác phẩm độc lập, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm gốc.
  • Nội dung sáng tạo mới, không phụ thuộc vào tác phẩm gốc: Nếu bạn chỉ lấy cảm hứng chung, không sử dụng nhân vật, cốt truyện, tình tiết đặc trưng. Đây có thể được coi là tác phẩm độc lập, không vi phạm quyền tác giả.

Trên đây là Viết lại cái kết của tác phẩm có vi phạm quyền tác giả không?” mà VCD muốn chia sẻ tới bạn. Để tránh rủi ro pháp lý, cá nhân và tổ chức nên hiểu rõ các quy định về tác phẩm phái sinh, tôn trọng quyền tác giả và xin phép khi khai thác tác phẩm trong những trường hợp pháp luật yêu cầu.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Viết lại cái kết để học tập, nghiên cứu cá nhân có vi phạm không?

    Nếu chỉ phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, không nhằm mục đích thương mại và không công bố rộng rãi, hành vi này thường không bị coi là xâm phạm quyền tác giả theo các giới hạn sử dụng hợp lý.

  2. 2. Đăng công khai cái kết viết lại trên mạng xã hội có rủi ro pháp lý không?

    Có. Việc công bố công khai cái kết viết lại khi chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả gốc có thể bị xem là xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt nếu nội dung vẫn dựa nhiều vào tác phẩm gốc.



Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Khi quyền tác giả bị xâm phạm, việc khởi kiện ra Tòa án là giải pháp pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Tuy nhiên, để vụ việc được thụ lý và giải quyết đúng trình tự, điều kiện tiên quyết là phải xác định đúng Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền tác giả. Bài viết dưới đây, VCD sẽ giúp bạn giải đáp chi tiết!

Tranh chấp quyền tác giả là gì?

Pháp luật hiện hành chưa có khái niệm định nghĩa trực tiếp về “tranh chấp quyền tác giả”. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”

Từ đó có thể hiểu, tranh chấp quyền tác giả là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể liên quan đến:

  • Quyền nhân thân của tác giả;
  • Quyền tài sản đối với tác phẩm;
  • Quyền sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, thừa kế quyền tác giả;
  • Hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Ví dụ: Tranh chấp về sao chép tác phẩm trái phép, sử dụng tác phẩm không xin phép, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, tranh chấp ai là tác giả thực sự của tác phẩm…

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Các hình thức giải quyết tranh chấp quyền tác giả

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật tố tụng, tranh chấp quyền tác giả có thể được giải quyết bằng các phương thức:

  • Thương lượng;
  • Hòa giải;
  • Xử lý hành chính;
  • Trọng tài (nếu có thỏa thuận);
  • Khởi kiện tại Tòa án.

Trong đó, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết toàn diện, triệt để nhất, đặc biệt đối với các tranh chấp phức tạp, có yêu cầu bồi thường thiệt hại lớn hoặc xác định quyền sở hữu tác phẩm.

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?

Việc xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền tác giả được căn cứ chủ yếu vào:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Luật Sở hữu trí tuệ 2022;
  • Các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Như vậy, tranh chấp quyền tác giả là một dạng tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong tranh chấp quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm đối với: “Tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài; tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng có tính chất phức tạp hoặc theo yêu cầu của đương sự.”

Đối với tranh chấp quyền tác giả, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thường có thẩm quyền trong các trường hợp:

  • Có yếu tố nước ngoài (tác giả, chủ sở hữu là người nước ngoài; tác phẩm được khai thác ở nước ngoài…);
  • Tranh chấp phức tạp, giá trị lớn;
  • Có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Theo quy định riêng của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong tranh chấp quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Trong thực tế, Tòa án nhân dân cấp huyện có thể giải quyết các tranh chấp quyền tác giả:

  • Có tính chất đơn giản;
  • Các bên đều là cá nhân, tổ chức trong nước;
  • Không có yếu tố nước ngoài;
  • Không thuộc trường hợp pháp luật quy định phải do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Một số lưu ý khi khởi kiện tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án

Khởi kiện tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án là một quá trình pháp lý đòi hỏi người khởi kiện phải chuẩn bị kỹ lưỡng cả về hồ sơ, chứng cứ lẫn chiến lược bảo vệ quyền lợi. Để vụ việc được Tòa án thụ lý và giải quyết thuận lợi, người khởi kiện cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề quan trọng sau đây:

  • Chuẩn bị chứng cứ chứng minh quyền tác giả (bản gốc tác phẩm, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, hợp đồng, tài liệu sáng tạo…);
  • Xác định đúng bị đơn và Tòa án có thẩm quyền;
  • Xác định rõ yêu cầu khởi kiện (xác lập quyền, bồi thường, chấm dứt vi phạm…);
  • Thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật dân sự;
  • Có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hành vi xâm phạm tiếp diễn.

Trên đây là những nội dung cơ bản làm rõ “Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp quyền tác giả?” theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền ngay từ đầu không chỉ giúp quá trình khởi kiện được thực hiện thuận lợi, đúng trình tự mà còn góp phần bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Có cần đăng ký quyền tác giả trước khi khởi kiện không?

    Việc đăng ký quyền tác giả không phải là điều kiện bắt buộc để khởi kiện. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chứng cứ quan trọng, giúp việc chứng minh quyền tại Tòa án thuận lợi hơn.

  2. 2. Tòa án có thể áp dụng biện pháp gì khi giải quyết tranh chấp quyền tác giả?

    Tòa án có thể buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hành vi vi phạm tiếp diễn.

Câu hỏi:



Bản thiết kế nhà thì liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Bản thiết kế nhà không đơn thuần là bản vẽ kỹ thuật mà còn là sản phẩm sáng tạo trí tuệ của kiến trúc sư. Vì vậy, nhiều người đặt câu hỏi bản thiết kế nhà thì liệu có được bảo hộ quyền tác giả không và pháp luật quy định vấn đề này như thế nào. Cùng VCD tìm hiểu chi tiết trong bài viết này nhé!

Bản thiết kế nhà

Bản thiết kế nhà là tập hợp các tài liệu thể hiện ý tưởng sáng tạo về kiến trúc của một công trình nhà ở, bao gồm nhưng không giới hạn ở:

  • Bản vẽ mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng

  • Bản vẽ phối cảnh 2D, 3D

  • Hồ sơ thiết kế kiến trúc, kết cấu, điện – nước

  • Phương án bố trí không gian, hình khối, tỷ lệ công trình

Về bản chất, bản thiết kế nhà là kết quả lao động trí tuệ của kiến trúc sư hoặc tổ chức thiết kế, thể hiện dấu ấn sáng tạo cá nhân thông qua cách tổ chức không gian, hình khối, đường nét và giải pháp kiến trúc.

Chính yếu tố sáng tạo này là nền tảng để xem xét bản thiết kế nhà có thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả hay không.

Bản thiết kế nhà thì có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, bản thiết kế nhà hoàn toàn có thể được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng các điều kiện do luật định. Căn cứ pháp lý quan trọng nhất được ghi nhận tại khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó: “Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.”

Quy định này khẳng định rằng, chỉ cần tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức cụ thể như bản vẽ, tài liệu, mô hình hoặc file thiết kế, thì đã thuộc phạm vi xem xét bảo hộ quyền tác giả, không phụ thuộc vào giá trị lớn hay nhỏ của tác phẩm.

Đáng chú ý, pháp luật còn xác định rõ loại hình tác phẩm kiến trúc là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể, tại điểm i khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

“Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, trong đó có:
 …
 i) Tác phẩm kiến trúc.”

Như vậy, xét về mặt pháp lý, bản thiết kế nhà không chỉ là tài liệu kỹ thuật phục vụ xây dựng, mà còn là đối tượng được pháp luật bảo hộ quyền tác giả. Trong trường hợp bản thiết kế đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính sáng tạo, được thể hiện dưới hình thức vật chất cụ thể và không thuộc các đối tượng loại trừ theo luật định, thì quyền tác giả đối với bản thiết kế nhà được xác lập và bảo vệ hợp pháp.

Việc thừa nhận và bảo hộ quyền tác giả đối với bản thiết kế nhà có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ thành quả lao động trí tuệ, hạn chế tình trạng sao chép, sử dụng trái phép bản vẽ kiến trúc và là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh trên thực tế.

Bản thiết kế nhà thì liệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với bản thiết kế nhà

Khi được bảo hộ, bản thiết kế nhà sẽ được pháp luật bảo vệ trên các phương diện sau:

Quyền nhân thân của tác giả

Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, tác giả có các quyền đối với bản thiết kế nhà bao gồm:

  • Đặt tên cho bản thiết kế

  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm

  • Công bố hoặc cho phép người khác công bố bản thiết kế

  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén gây phương hại đến uy tín tác giả

Các quyền này gắn liền với tác giả và không thể chuyển nhượng (trừ quyền công bố).

Quyền tài sản đối với bản thiết kế nhà

Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quyền tài sản đối với bản thiết kế nhà bao gồm:

  • Sao chép bản thiết kế
  • Phân phối, trưng bày bản vẽ thiết kế

  • Sử dụng bản thiết kế để xây dựng công trình

  • Cho phép hoặc không cho phép người khác khai thác, sử dụng

Trên thực tế, chủ đầu tư chỉ được sử dụng bản thiết kế trong phạm vi hợp đồng đã ký. Nếu sử dụng lại cho công trình khác, hoặc chuyển giao cho bên thứ ba khi chưa được phép, có thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả cho bản thiết kế nhà?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc đăng ký quyền tác giả không phải là điều kiện bắt buộc để bản thiết kế nhà được bảo hộ. Cụ thể, Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.” Như vậy, ngay từ thời điểm bản thiết kế nhà được hoàn thiện dưới dạng bản vẽ, file thiết kế hoặc mô hình kiến trúc, quyền tác giả đã tự động phát sinh.

Tuy nhiên, đăng ký quyền tác giả cho bản thiết kế nhà mang lại nhiều lợi ích thực tế:

  • Là chứng cứ pháp lý rõ ràng khi xảy ra tranh chấp

  • Dễ dàng chứng minh quyền sở hữu trước cơ quan nhà nước, tòa án

  • Hạn chế nguy cơ bị sao chép, sử dụng trái phép

Vì vậy, đối với những bản thiết kế nhà có giá trị thương mại cao, được sử dụng cho nhiều công trình hoặc khai thác lâu dài, việc đăng ký quyền tác giả là hết sức cần thiết nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bản thiết kế nhà có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Theo quy định pháp luật, nếu bản thiết kế thể hiện tính sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất cụ thể thì hoàn toàn được bảo hộ. Việc hiểu và bảo vệ đúng quyền tác giả giúp hạn chế sao chép trái phép và bảo vệ giá trị pháp lý của bản thiết kế.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Bản thiết kế nhà do cá nhân tự vẽ có được bảo hộ không?

    Có. Chỉ cần bản thiết kế do cá nhân trực tiếp sáng tạo, có tính độc lập và không sao chép từ người khác thì vẫn được bảo hộ quyền tác giả, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức thực hiện.

  2. 2. Chủ nhà có toàn quyền sử dụng bản thiết kế nhà sau khi đã trả phí thiết kế không?

    Không phải trong mọi trường hợp. Quyền sử dụng bản thiết kế nhà phụ thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng thiết kế. Nếu không có thỏa thuận chuyển giao quyền tác giả, quyền này vẫn thuộc về kiến trúc sư hoặc đơn vị thiết kế.

Quyền tác giả phát sinh từ ngày đăng ký có phải không?

Nhiều người vẫn tin rằng, chỉ khi có trong tay Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì tác phẩm mới được pháp luật bảo hộ. Chính sự nhầm lẫn này đã khiến không ít cá nhân, tổ chức chậm trễ trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi xảy ra tranh chấp. Vậy theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh từ thời điểm nào? Có bắt buộc phải đăng ký hay không? VCD sẽ giúp bạn hiểu đúng và đầy đủ bản chất pháp lý của quyền tác giả.

Quy định pháp luật hiện hành về quyền tác giả

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu.”

Quy định này cho thấy, chủ thể của quyền tác giả không chỉ là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, mà trong nhiều trường hợp còn có thể là tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền hợp pháp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Quyền tác giả được đặt ra nhằm bảo vệ thành quả lao động trí tuệ, ghi nhận đầy đủ quyền lợi tinh thần và lợi ích vật chất của tác giả, chủ sở hữu, đồng thời tạo hành lang pháp lý để khuyến khích hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phổ biến tri thức trong xã hội.

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả được bảo hộ đối với các loại tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, bao gồm nhưng không giới hạn:

  • Tác phẩm viết: sách, bài báo, giáo trình, bài giảng, kịch bản
  • Tác phẩm âm nhạc, sân khấu, điện ảnh
  • Tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc
  • Bản vẽ kỹ thuật, bản đồ
  • Chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu

Điểm quan trọng cần lưu ý là pháp luật không bảo hộ ý tưởng, mà bảo hộ hình thức thể hiện cụ thể của tác phẩm.

Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền cơ bản:

  • Quyền nhân thân: đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả, công bố tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
  • Quyền tài sản: sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê, làm tác phẩm phái sinh…

Tất cả các quyền nêu trên được pháp luật bảo hộ kể từ thời điểm quyền tác giả phát sinh, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Quyền tác giả phát sinh từ ngày đăng ký có phải không?

Quyền tác giả phát sinh từ ngày đăng ký có phải không?

Có không ít cá nhân, tổ chức vẫn cho rằng chỉ khi nộp hồ sơ đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền tác giả thì quyền tác giả mới phát sinh. Tuy nhiên, cách hiểu này không phù hợp với quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành và dễ dẫn đến những nhầm lẫn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả.

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Như vậy, quyền tác giả không phát sinh từ ngày đăng ký. Quyền tác giả phát sinh tự động ngay khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất cụ thể.

Có bắt buộc đăng ký quyền tác giả không?

Luật Sở hữu trí tuệ không bắt buộc tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả phải đăng ký thì mới được bảo hộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, mà Việt Nam là thành viên, theo nguyên tắc: “Quyền tác giả được bảo hộ không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục hình thức nào.”

Mặc dù không bắt buộc, nhưng trong thực tiễn, việc đăng ký quyền tác giả lại rất cần thiết và được khuyến khích, đặc biệt khi tác phẩm có giá trị kinh tế hoặc dễ bị xâm phạm.

Theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả. Giấy chứng nhận này có ý nghĩa pháp lý quan trọng, là chứng cứ mạnh để chứng minh quyền sở hữu

Theo khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2022: “Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là căn cứ để xác định quyền tác giả, quyền liên quan.”

Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, người có Giấy chứng nhận thường được suy đoán là chủ thể quyền hợp phá. Bên còn lại phải có nghĩa vụ chứng minh ngược lại. Ngược lại, nếu không đăng ký, tác giả vẫn có quyền nhưng phải tự thu thập chứng cứ và chứng minh thời điểm sáng tạo và quá trình hình thành tác phẩm. Việc này thường khó khăn, mất thời gian và tiềm ẩn rủi ro pháp lý.

Trên đây là bài viết Quyền tác giả phát sinh từ ngày đăng ký có phải không?”, nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng bản chất pháp lý của quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, quyền tác giả phát sinh tự động ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Quyền tác giả bảo hộ ý tưởng hay hình thức thể hiện của tác phẩm?

    Pháp luật chỉ bảo hộ hình thức thể hiện cụ thể của tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng. Chỉ khi ý tưởng được thể hiện thành tác phẩm cụ thể thì mới được bảo hộ quyền tác giả theo quy định.

  2. 2. Quyền tác giả bao gồm những nhóm quyền nào?

    Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền cơ bản là quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân gắn liền với danh dự, uy tín của tác giả, còn quyền tài sản liên quan đến việc khai thác giá trị kinh tế của tác phẩm và được pháp luật bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ.



Có phải xin phép xuất bản sách lưu hành nội bộ không?

Việc in ấn sách, tài liệu để sử dụng trong phạm vi nội bộ đang được nhiều cơ quan, doanh nghiệp áp dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ liệu sách lưu hành nội bộ có phải xin phép xuất bản hay không, và nếu không xin phép thì có bị xử phạt hay không. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định pháp luật hiện hành, giúp bạn tránh những rủi ro pháp lý trong quá trình phát hành tài liệu nội bộ.

Sách lưu hành nội bộ là gì?

Hiện nay, pháp luật xuất bản không đưa ra định nghĩa cụ thể về “sách lưu hành nội bộ”. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể hiểu răng sách lưu hành nội bộ là các ấn phẩm được biên soạn và phát hành trong phạm vi nội bộ của một cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp, không nhằm mục đích kinh doanh, không phát hành ra thị trường và không phục vụ công chúng nói chung.

Một số ví dụ phổ biến:

  • Sổ tay nghiệp vụ, tài liệu đào tạo nội bộ

  • Giáo trình nội bộ của doanh nghiệp, tổ chức

  • Kỷ yếu hội nghị, hội thảo lưu hành trong phạm vi đơn vị

  • Tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn kỹ thuật dùng nội bộ

Chính vì đặc thù “không phổ biến rộng rãi”, nhiều đơn vị cho rằng sách lưu hành nội bộ không cần xin phép xuất bản. Tuy nhiên, quan điểm này không phải lúc nào cũng đúng.

Có phải xin phép xuất bản sách lưu hành nội bộ không?

Có phải xin phép xuất bản sách lưu hành nội bộ không?

Đây là câu hỏi gây nhiều nhầm lẫn, bởi nhiều cơ quan, doanh nghiệp cho rằng chỉ phát hành nội bộ thì không cần xin phép xuất bản. Tuy nhiên, quan điểm này không hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật xuất bản hiện hành.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Xuất bản năm 2012, xuất bản được hiểu là: “Việc tổ chức biên tập, in và phát hành tác phẩm, tài liệu đến công chúng thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp phép.”

Đồng thời, khoản 2 Điều 4 Luật Xuất bản 2012 quy định rõ: “Chỉ nhà xuất bản mới được thực hiện hoạt động xuất bản.”

Như vậy, pháp luật không căn cứ vào mục đích lưu hành (nội bộ hay thương mại), mà căn cứ vào hình thức và hành vi xuất bản, bao gồm: biên tập – in – phát hành.

Do đó, nếu một tài liệu có hình thức là sách, được in ấn thành phẩm và phát hành cho nhiều người, dù chỉ trong phạm vi nội bộ thì vẫn bị coi là xuất bản phẩm và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Xuất bản.

Theo khoản 4 Điều 4 Luật Xuất bản 2012, xuất bản phẩm bao gồm: “Sách in, sách điện tử, tranh, ảnh, bản đồ, áp phích, tờ rơi và các ấn phẩm khác được xuất bản thông qua nhà xuất bản.”

Pháp luật không loại trừ các ấn phẩm “chỉ lưu hành nội bộ” ra khỏi khái niệm xuất bản phẩm. Vì vậy, sách lưu hành nội bộ vẫn là sách, sách vẫn là xuất bản phẩm, xuất bản phẩm thì bắt buộc phải được cấp phép hợp pháp trước khi xuất bản. Việc giới hạn phạm vi người đọc (chỉ cán bộ, nhân viên, hội viên…) không làm thay đổi bản chất pháp lý của hoạt động xuất bản.

Cách nhận biết sách lưu hành nội bộ

Trên thực tế, sách lưu hành nội bộ phải xin phép xuất bản khi có một hoặc nhiều dấu hiệu sau:

  • Có tên sách, tác giả, bố cục hoàn chỉnh

  • Có in thành cuốn, đóng gáy, bìa rõ ràng

  • In với số lượng nhất định, không mang tính tạm thời

  • Được phát hành cho nhiều phòng ban, đơn vị trực thuộc

  • Nội dung mang tính đào tạo, nghiên cứu, hướng dẫn chuyên môn, pháp lý

Trong các trường hợp này, đơn vị biên soạn không được tự ý in ấn và phát hành, mà phải liên kết với nhà xuất bản và thực hiện thủ tục xin quyết định xuất bản theo quy định. Việc ghi chú “Tài liệu lưu hành nội bộ” trên bìa sách không có giá trị thay thế giấy phép xuất bản.

Xử lý vi phạm nếu không xin phép xuất bản sách lưu hành nội bộ

Theo quy định tại Nghị định 119/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản; hành vi in, phát hành xuất bản phẩm không có quyết định xuất bản có thể bị:

  • Phạt tiền: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi in hoặc phát hành sách lưu hành nội bộ không có quyết định xuất bản có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền. Mức phạt cụ thể sẽ căn cứ vào: Tính chất, mức độ vi phạm; số lượng sách đã in, phát hành; hậu quả phát sinh từ hành vi vi phạm.
  • Buộc thu hồi, tiêu hủy toàn bộ sách: Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ chi phí biên soạn, in ấn, phát hành trước đó không được công nhận; sách không được tiếp tục sử dụng, kể cả trong phạm vi nội bộ; đơn vị vi phạm phải chịu toàn bộ chi phí tiêu hủy.

  • Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp (nếu có): Trong trường hợp sách lưu hành nội bộ có phát sinh khoản thu, dù không phải hoạt động kinh doanh chính thức (ví dụ: thu phí tài liệu, phí đào tạo, bán kèm giáo trình), thì tổ chức vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại toàn bộ khoản thu bất hợp pháp có được từ hành vi in, phát hành sách không phép.

Trên đây là bài viết Có phải xin phép xuất bản sách lưu hành nội bộ không?”, nhằm làm rõ các quy định pháp luật liên quan đến việc in ấn, phát hành sách nội bộ sách. Hy vọng doanh nghiệp và cá nhân có cái nhìn đúng đắn, từ đó lựa chọn phương án phù hợp để đảm bảo tuân thủ pháp luật và an toàn trong quá trình sử dụng, phát hành tài liệu nội bộ.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Trường hợp nào sách lưu hành nội bộ không cần xin phép xuất bản?

    Chỉ những tài liệu mang tính tạm thời như văn bản hành chính, tài liệu photo rời phục vụ họp, tập huấn ngắn hạn và không in thành sách hoàn chỉnh mới không phải xin phép xuất bản.

  2. 2. Sách lưu hành nội bộ có được bảo hộ quyền tác giả không?

    Có. Quyền tác giả phát sinh tự động khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất, không phụ thuộc vào việc sách được xuất bản công khai hay chỉ lưu hành nội bộ.

Câu hỏi:



Bài điều tra trên báo có được bảo hộ quyền tác giả không?

Báo chí điều tra là một trong những loại hình tác phẩm đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, công sức và năng lực chuyên môn của nhà báo. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều bài điều tra sau khi đăng tải lại bị sao chép, đăng lại hoặc khai thác khi chưa được phép. Trước thực trạng đó, vấn đề được quan tâm đặt ra rằng bài điều tra trên báo có được pháp luật bảo hộ quyền tác giả hay không? Bài viết này, VCD sẽ giúp bạn làm rõ.

Bài điều tra trên báo là gì?

Bài điều tra báo chí là một trong những thể loại báo chí chuyên sâu và có giá trị cao, đòi hỏi nhà báo phải đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ một cách nghiêm túc, độc lập và sáng tạo. Khác với tin tức thời sự thuần túy chỉ phản ánh nhanh các sự kiện đang diễn ra ở bề nổi, bài điều tra hướng đến việc làm rõ bản chất của sự việc, phát hiện những vấn đề còn khuất tất, chưa được công bố hoặc chưa được nhìn nhận đầy đủ trong xã hội.

  • Thu thập thông tin trong thời gian dài
  • Xác minh, đối chiếu từ nhiều nguồn khác nhau
  • Phân tích dữ liệu, tài liệu, lời khai, chứng cứ
  • Phản ánh bản chất sự việc, nguyên nhân, hệ quả và các vấn đề khuất tất chưa được công bố

Về mặt hình thức và nội dung, bài điều tra trên báo thường có những đặc điểm nổi bật như:

  • Nội dung sâu, nhiều lớp thông tin, không đơn thuần là mô tả sự kiện
  • Cách tiếp cận vấn đề mang dấu ấn cá nhân của nhà báo hoặc nhóm nhà báo
  • Bố cục chặt chẽ, lập luận logic, ngôn ngữ thể hiện có tính sáng tạo, thể hiện rõ quan điểm và phương pháp điều tra

Chính các yếu tố này cho thấy bài điều tra không chỉ là việc “đưa tin”, mà là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ, đáp ứng bản chất của một tác phẩm theo quy định pháp luật về quyền tác giả.

Bài điều tra trên báo có được bảo hộ quyền tác giả không?

Bài điều tra trên báo có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, tác phẩm báo chí được xác định là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể hơn, tại điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm báo chí được hiểu là tác phẩm có nội dung độc lập, cấu tạo hoàn chỉnh, được sáng tạo nhằm đăng tải hoặc phát sóng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Quy định này được hướng dẫn chi tiết tại Điều 9 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, theo đó tác phẩm báo chí bao gồm các thể loại như: phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác được đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện truyền thông khác.

Như vậy, bài điều tra trên báo được xếp vào nhóm tác phẩm báo chí và thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng điều kiện về tính sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức nhất định.

Bài điều tra trên báo được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi nào?

Trong thực tế, bài điều tra báo chí thường dựa trên các dữ kiện, sự kiện, số liệu có thật đã hoặc đang diễn ra trong xã hội. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, bản thân thông tin, sự kiện khách quan không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Thay vào đó, pháp luật tập trung bảo hộ cách thức thể hiện nội dung mang tính sáng tạo của tác giả, tức là kết quả của quá trình lao động trí tuệ độc lập của nhà báo.

Đối với bài điều tra trên báo, phạm vi bảo hộ quyền tác giả được xác định chủ yếu ở các yếu tố sáng tạo cấu thành nên tác phẩm, bao gồm:

  • Cách lựa chọn, sắp xếp và xử lý thông tin
  • Phương pháp phân tích, lập luận, đánh giá vấn đề
  • Kết cấu bài viết, văn phong, ngôn ngữ thể hiện
  • Quan điểm, góc nhìn riêng của nhà báo đối với sự việc

Ngược lại, theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Đây là những thông tin chỉ phản ánh sự kiện một cách ngắn gọn, khách quan, không có yếu tố phân tích hay sáng tạo trong cách thể hiện.

Chính vì vậy, việc phân biệt giữa bài điều tra báo chí và bản tin thời sự thuần túy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Trong khi bản tin đơn thuần không được bảo hộ, thì các yếu tố sáng tạo trong bài điều tra báo chí vẫn được pháp luật bảo vệ đầy đủ, nhằm bảo vệ thành quả lao động trí tuệ và khuyến khích hoạt động báo chí điều tra chuyên sâu, có trách nhiệm.

Trên đây là bài viết “Bài điều tra trên báo có được bảo hộ quyền tác giả không”. Hiểu đúng và áp dụng đúng các quy định về quyền tác giả không chỉ giúp nhà báo, cơ quan báo chí bảo vệ thành quả lao động trí tuệ của mình, mà còn góp phần xây dựng môi trường báo chí chuyên nghiệp, tôn trọng bản quyền và tuân thủ pháp luật.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Tin tức thời sự có được bảo hộ quyền tác giả như bài điều tra không?

    Tin tức thời sự không được bảo hộ quyền tác giả như bài điều tra trên báo. Tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, đây là điểm khác biệt cơ bản so với bài điều tra báo chí.

  2. 2. Sao chép bài điều tra trên báo khi chưa xin phép có vi phạm pháp luật không?

    Có. Việc sao chép, đăng tải hoặc khai thác bài điều tra trên báo khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả và bị xử lý theo quy định của pháp luật.



Diễn viên điện ảnh có được hưởng quyền tác giả không?

Trong quá trình sản xuất và khai thác tác phẩm điện ảnh, vai trò của diễn viên luôn được nhìn nhận là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật và sức hút của bộ phim. Tuy nhiên, không ít người vẫn băn khoăn liệu diễn viên điện ảnh có được hưởng quyền tác giả không, hay chỉ được bảo vệ dưới một cơ chế pháp lý khác. Việc hiểu đúng bản chất quyền tác giả và quyền liên quan sẽ giúp diễn viên cũng như các đơn vị sản xuất tránh nhầm lẫn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình trực tiếp sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đây là một trong những quyền quan trọng thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ, nhằm bảo vệ giá trị sáng tạo về tinh thần và lợi ích kinh tế của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được đăng ký hay chưa. Việc đăng ký quyền tác giả chỉ mang ý nghĩa chứng cứ pháp lý khi xảy ra tranh chấp.

Về nội dung, quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền cơ bản:

  • Quyền nhân thân: gắn liền với danh dự, uy tín của tác giả như quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
  • Quyền tài sản: cho phép tác giả hoặc chủ sở hữu khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm như quyền sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho phép người khác sử dụng tác phẩm và hưởng thù lao, nhuận bút.

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2022, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả rất đa dạng, trong đó có tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự điện ảnh. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để xem xét mối liên hệ giữa diễn viên điện ảnh và các quyền phát sinh từ tác phẩm điện ảnh, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan.

Diễn viên điện ảnh có được hưởng quyền tác giả không?

Diễn viên điện ảnh có được hưởng quyền tác giả không?

Theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, diễn viên điện ảnh không mặc nhiên được coi là tác giả của tác phẩm điện ảnh. Về bản chất pháp lý, quyền tác giả chỉ được xác lập đối với những cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động sáng tạo mang tính cốt lõi, quyết định đến nội dung và hình thức thể hiện của tác phẩm điện ảnh. Trong khi đó, diễn viên chủ yếu thực hiện việc thể hiện vai diễn dựa trên kịch bản, sự chỉ đạo của đạo diễn và định hướng nghệ thuật chung của bộ phim.

Trong một tác phẩm điện ảnh, các chủ thể thường được pháp luật công nhận là tác giả bao gồm

  • Biên kịch

  • Đạo diễn

  • Tác giả âm nhạc

  • Tác giả quay phim

  • Tác giả thiết kế mỹ thuật

  • Tác giả dựng phim (trong một số trường hợp)

Diễn viên chỉ là người thể hiện vai diễn dựa trên kịch bản và định hướng nghệ thuật có sẵn, không trực tiếp sáng tạo nên tác phẩm điện ảnh dưới góc độ pháp lý về quyền tác giả. Vì vậy, diễn viên điện ảnh không được hưởng quyền tác giả đối với bộ phim.

Trong một số trường hợp hiếm, diễn viên vẫn có thể trở thành chủ thể quyền tác giả, nếu:

  • Đồng thời là tác giả kịch bản, đồng tác giả tác phẩm

  • Trực tiếp tham gia sáng tạo nội dung cốt lõi mang tính quyết định đến hình thức thể hiện của tác phẩm

  • Có thỏa thuận bằng văn bản ghi nhận tư cách tác giả

Khi đó, quyền tác giả và quyền của người biểu diễn tồn tại song song, nhưng phải được chứng minh rõ ràng bằng căn cứ pháp lý cụ thể.

Quyền lợi của diễn viên điện ảnh được bảo vệ như thế nào?

Mặc dù không hưởng quyền tác giả, diễn viên điện ảnh vẫn được pháp luật bảo vệ thông qua quyền liên quan đến quyền tác giả, cụ thể là quyền của người biểu diễn.

Quyền của người biểu diễn bao gồm: Quyền nhân thân và quyền tài sản.

Quyền nhân thân của người biểu diễn

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn

  • Được bảo vệ hình ảnh, uy tín, danh dự trong quá trình khai thác cuộc biểu diễn

  • Không cho phép người khác xuyên tạc, cắt xén gây phương hại đến danh dự của mình

Quyền tài sản của người biểu diễn

  • Quyền cho phép hoặc không cho phép định hình, sao chép, phát sóng cuộc biểu diễn

  • Quyền được trả thù lao, nhuận bút khi cuộc biểu diễn được khai thác thương mại

  • Quyền hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng hình ảnh, giọng nói, diễn xuất

Lưu ý: Các quyền này có thể được chuyển giao, thỏa thuận trong hợp đồng giữa diễn viên và nhà sản xuất phim.

Trên đây là bài viết Diễn viên điện ảnh có được hưởng quyền tác giả không?”. Hy vọng những thông tin này sẽ giúp bạn đọc hiểu đúng và đầy đủ về quyền lợi của diễn viên, cũng như phân biệt rõ giữa quyền tác giả và quyền liên quan.

Trân trọng,

Câu hỏi thường gặp

  1. 1. Ai được công nhận là tác giả của tác phẩm điện ảnh?

    Tác giả của tác phẩm điện ảnh thường bao gồm biên kịch, đạo diễn, tác giả âm nhạc, tác giả quay phim, tác giả thiết kế mỹ thuật và trong một số trường hợp là tác giả dựng phim – những người trực tiếp sáng tạo nội dung và hình thức thể hiện của tác phẩm.

  2. 2. Trường hợp nào diễn viên có thể đồng thời hưởng quyền tác giả?

    Diễn viên có thể trở thành chủ thể quyền tác giả nếu đồng thời là tác giả hoặc đồng tác giả kịch bản, trực tiếp tham gia sáng tạo nội dung cốt lõi của tác phẩm hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi nhận rõ tư cách tác giả theo quy định pháp luật.