Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về việc xâm phạm sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng. Quyền tác giả không chỉ đảm bảo lợi ích cho tác giả mà còn thúc đẩy sáng tạo và phát triển văn hóa nghệ thuật trong xã hội. Tuy nhiên, việc xâm phạm quyền tác giả đặc biệt là hành vi chiếm đoạt đang diễn ra một cách tinh vi và phổ biến. Vậy, chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái niệm chiếm đoạt quyền tác giả.

Hành vi chiếm đoạt là việc xâm phạm quyền sở hữu bằng cách lấy trộm tài sản của người khác để sử dụng cho lợi ích cá nhân.

Quyền tác giả theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành là quyền của tổ chức cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Chiếm đoạt quyền tác giả được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn như dùng vũ lực, gian dối, trộm cắp, lạm dụng, tín nhiệm để làm cho quyền tác giả của một tác phẩm văn học, nghệ thuật,.. thuộc về sở hữu của mình một cách trái pháp luật.

Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

2. Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 quy định rõ những hành vi xâm phạm và chiếm đoạt quyền tác giả, nhằm bảo vệ quyền lợi của các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Dưới đây là những hành vi đó:

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
  • Xâm phạm quyền nhân thân, theo quy định tại Điều 19 của Luật.
  • Xâm phạm quyền tài sản, theo quy định tại Điều 20 của Luật.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật.
  • Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả.
  • Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ các thiết bị hoặc sản phẩm nhằm mục đích thương mại, khi biết hoặc có cơ sở để biết rằng chúng được sử dụng để vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả.
  • Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nếu biết hoặc có cơ sở để biết rằng điều đó gây xúi giục hoặc tạo điều kiện cho hành vi xâm phạm quyền tác giả.
  • Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, theo quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật.

Như vậy, chiếm đoạt quyền tác giả là hành vi xâm phạm bản quyền theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ.

Theo quy định của luật sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh tự động khi tác phẩm được sáng tạo ra, không phụ thuộc vào việc đăng ký. Điều này có nghĩa là tác giả có quyền bảo vệ tác phẩm của mình từ thời điểm nó được tạo ra, dù cho tác phẩm đó có được đăng ký hay không. Do đó, chiếm đoạt quyền tác giả vẫn được coi là hành vi vi phạm bản quyền, ngay cả khi tác phẩm chưa được đăng ký quyền tác giả.

Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả có vai trò quan trọng giúp củng cố bằng chứng về quyền sở hữu và giúp tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ quyền lợi của tác giả trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Nếu một người hoặc tổ chức khác chiếm đoạt tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả, hành động này vẫn là xâm phạm quyền tác giả và vi phạm bản quyền, bất kể có đăng ký hay không.

Theo Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả nói chung như sau: Trong vi phạm nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Như vậy, thẩm quyền xử lý đối với người chiếm đoạt quyền tác giả của người khác do cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp tùy theo tính chất của vụ việc để xử lý.

Trên đây là bài viết “Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sáng tạo, quyền tác giả đã trở thành một chủ đề được quan tâm hàng đầu không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Việc bảo vệ quyền tác giả không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các tác giả trong nước mà còn tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường sáng tạo tại Việt Nam. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: Liệu cá nhân nước ngoài có thể đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài.

Bảo bộ quyền tác giả là những cách thức, biện pháp được cách thức, biện pháp được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, xác lập quyền đối với đối tượng và quyền tác giả tương ứng trước sự xâm phạm.

Theo nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài được chia làm hai trường hợp:

Tác phẩm bảo hộ theo quy định của Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, trường hợp này sẽ áp dụng quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để điều chỉnh việc bảo hộ quyền tác giả.

Hiện nay Việt Nam đang là thành viên của các Điều ước quốc tế: Công ước Bern, Hiệp định giữa Việt Nam và Hoa Kỳ,…

Trường hợp không có Điều ước quốc tế điều chỉnh. Việc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được tiến hành trong các trường hợp sau:

  • Tác phẩm được công bố lần đầu tại Việt Nam.
  • Tác phẩm được công bố tại Việt Nam sau thời hạn 30 ngày kể từ khi tác phẩm được công bố ở các quốc gia khác.
Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

2. Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

Căn cứ theo khoản 1 và 2 Điều 38 Nghị định 17/2023 quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài không có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan trực tiếp qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 hoặc thông qua ủy quyền cho tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam.

Đồng thời căn cứ theo Điều 18 Nghị định 17/2023 quy định về Chủ sở hữu quyền tác giả như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại Điều 36 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam.

4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Từ những căn cứ trên thì cá nhân nước ngoài được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam. Ngoài ra chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt nam có thể nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

Theo khoản 3 Điều 38 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan như sau:

Nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan

3. Đại diện hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Trường hợp cá nhân đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: Người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo ủy quyền của cá nhân;

b) Trường hợp tổ chức đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: Người đại diện theo pháp luật của tổ chức hoặc người thuộc tổ chức được người đại diện theo pháp luật của tổ chức ủy quyền; tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo ủy quyền của tổ chức; người đứng đầu trụ sở, văn phòng đại diện hoặc đứng đầu chi nhánh tại Việt Nam nếu là tổ chức nước ngoài.

Do đó, người đại diện hợp pháp của cá nhân đăng ký quyền tác giả là:

  • Người đại diện hợp pháp của cá nhân.
  • Người đại diện theo ủy quyền của cá nhân.
  • Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả theo ủy quyền của cá nhân.

Hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả bao gồm:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả.
  • Bản sao tác phẩm cần đăng ký.
  • Văn bản ủy quyền nếu người nộp hồ sơ là người được ủy quyền.
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Trường hợp trong tác phẩm có sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó theo quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết “Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

Chương trình truyền hình thực tế đã trở thành một hiện tượng văn hóa không thể thiếu trong đời sống giải trí hiện đại. Với những câu chuyện chân thực, tình huống bất ngờ và sự tham gia của các nhân vật thực tế, thể loại này thu hút hàng triệu khán giả mỗi ngày. Tuy nhiên, bên cạnh sự hấp dẫn đó, một vấn đề quan trọng lại ít được nhắc đến: quyền sở hữu trí tuệ và khả năng bảo hộ bản quyền cho các chương trình truyền hình thực tế. Vậy, Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Chương trình truyền hình thực tế là gì?

Truyền hình thực tế là thể loại chương trình truyền hình chú trọng vào việc phô bày các tình huống xảy ra không theo kịch bản diễn xuất với nội dung mang chất liệu thực tế mà không hư cấu.

Một chương trình thực tế thường được xây dựng dựa trên các yếu tố cấu thành sau:

  • Ý tưởng: Mỗi chương trình thực tế bắt nguồn từ một ý tưởng cơ bản có thể là một thử thách, một cuộc thi hoặc một khía cạnh sống hàng ngày mà nhàn sản xuất muốn khám phá.
  • Các tình huống và kịch bản: Dựa trên ý tưởng nhà sản xuất phát triển kịch bản và các tình huốn mà người tham gia sẽ phải đối mặt.
  • Thí sinh hoặc người tham gia: Đây là những người tham gia vào chương trình có thể là cá nhân, nhóm hoặc đôi. Họ được chọn dựa trên tiêu chí như kỹ năng, cá nhân tích cực hoặc khả năng tạo ra sự cạnh tranh.
  • Ban giám khảo hoặc đội ngũ hướng dẫn: Các cá nhân hoặc nhóm chuyên gia được chọn để đánh giá hoặc hướng vẫn các thí sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.
  • Quy tắc và luật lệ: Mỗi chương trình đều có các quy tắc và luật lệ cụ thể mà các thí sinh phải tuân thủ đảm bảo tính công bằng và an toàn cho mọi người tham gia.
  • Thử thách hoặc nhiệm vụ: các thí sinh phải đối mặt với các thử thách hoặc nhiệm vụ khác nhau để tiến xa hơn trong chương trình.
  • Quy trình sản xuất: Các yếu tố trên được tổ chức và quản lý thông qua một quy trình sản xuất chặt chẽ bao gồm việc lên kế hoạc, quay phim chỉ đạo và chỉnh sửa.

Ngoài ra căn cứ theo khoản 10 Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định: Chương trình phát thanh, chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc.

Do đó, chương trình truyền hình thực tế là tập hợp các tin, báo trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc.

Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

2. Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

Bản quyền chương trình truyền hình thực tế được hiểu kịch bản lên kế hoạch ghi lại mọi chi tiết những yếu tố làm nên một chương trình gồm nhiều các khâu từ lúc lên kịch bản đến tiến hành tổ chức.

Đồng thời căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 6 nghị định 17/2023 quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm như sau:

Điều 6. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

6. Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung, được biểu hiện bằng hình ảnh động liên tiếp hoặc hình ảnh do các thiết bị kỹ thuật, công nghệ tạo ra; có hoặc không có âm thanh và các hiệu ứng khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.

Tác phẩm điện ảnh không bao gồm bản ghi hình nhằm mục đích phổ biến tin tức trên dịch vụ phát thanh, truyền hình, không gian mạng; chương trình biểu diễn nghệ thuật, trò chơi điện tử; bản ghi hình về hoạt động của một hoặc nhiều người, mô tả các sự kiện, tình huống hoặc chương trình thực tế.

Như vậy, chương trình thự tế là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định nêu trên. Việc đăng ký bản quyền chương trình truyền hình thực tế có nghĩa là thực hiện tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu đối với chương trình đó.

Hồ sơ đăng ký bản quyền đối với chương trình truyền hình thực tế bao gồm:

  • Bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc bản sao định hình đối tượng đăng ký quyền tác giả.
  • Căn cước công dân của tác giả.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức nếu chủ sở hữu thuộc về công ty.
  • Giấy ủy quyền nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là người được ủy quyền.
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng thuê sáng tạo, được thừa kế hoặc được chuyển giao quyền.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.

Trên đây là bài viết “Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không?

Vấn đề bảo vệ quyền tác giả đang thu hút được nhiều sự chú ý hiện nay. Nhiều tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thường đặt ra câu hỏi liệu họ có quyền khởi kiện khi chưa đăng ký bản quyền cho tác phẩm của mình hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Căn cứ theo Điều 56 Nghị định 17/2023/NĐ-CP và thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan. Theo đó, chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm:

Thứ nhất: Tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; người thừa kế hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm theo hợp đồng; người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát sóng;

Thứ hai: Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền.

Thứ ba: Cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.

Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không?

2. Không đăng ký quyền tác giả có đươc khởi kiện không?

Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ quy đinh về quyền tác giả, quyền liên quan thì quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được tạo ra  và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Do đó, khi bị xâm phạm quyền tác giả, tác giả hoặc chủ sở hữu có quyền khởi kiện khi chưa đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm. Tuy nhiên việc chứng minh mình là chủ sở hữu sẽ gặp khó khăn.

Bởi khi người khởi kiện khởi kiện một vụ án tranh chấp bản quyền thì người khởi kiện/ nguyên đơn đầu tiên phải chứng munh mình là chủ thể quyền sở hữu đối với tác phẩm. Nếu không chứng minh được hoặc các chứng cứ không được Tòa án chấp nhận thì xem như nguyên đơn đã thất bại trong vụ án bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan này.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì các chứng cứ để nguyên đơn chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm:

  • Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
  • Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.

Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật sở hữu trí tuệ quy định: Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình trừ khi có tranh chấp trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Hơn nữa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nhũng tình tiết, sự kiện đã được xác định trong Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh là thông tin về chủ sở hữu tác phẩm, tác giả của tác phẩm,…

Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, thì theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 6, Điều 12a, Điều 13, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 198a Luật SHTT hiện hành; Điều 59, Khoản 3 Điều 65 Nghị định 17/2023 các chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan có thể là:

  • Bản gốc hoặc bản sao tác phẩm với tên chủ thể quyền.
  • Tài liệu chứng minh bạn là người trực tiếp tạo ra tác phẩm.
  • Các tài liệu từ cơ sở dữ liệu máy tính ghi nhận quá trình tạo tác phẩm.
  • Văn bản giao việc cho tác giả hoặc hợp đồng thuê tác giả.
  • Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, hoặc các tài liệu liên quan đến việc công bố, phân phối tác phẩm.

Tuy nhiên theo quy định của Điều 94 và Điều 108 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì các tài liệu như nêu trên chỉ được xem là nguồn của chứng cứ và phải được Tòa án đánh giá tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng tài liệu này khi giải quyết tranh chấp; và do vậy các tài liệu này có thể được chấp nhận là chứng cứ để chứng minh rằng nguyên đơn là chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan trong vụ tranh chấp.

Từ những căn cứ trên cho thấy Giấy chứng nhận quyền tác giả không phải là tài liệu bắt buộc để khởi kiện tuy nhiên, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên đăng ký bản quyền để bảo vệ quyền tác giả đặc biệt là trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.

Trên đây là bài viết “Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?

Trong lĩnh vực điện ảnh, sự sáng tạo và tâm huyết của các nhà sản xuất, đạo diễn và diễn viên là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt trong thời địa số hóa hiện nay nơi thông tin và nội dung dễ dàng được chia sẻ và tiếp cận, việc bảo vệ bản quyền trở thành một thách thức lớn đối với ngành công nghiệp điện ảnh. Tình trạng quay lén, chụp ảnh trong các rạp chiếu phim sau đó đăng lên các trạng mạng xã hội ngày càng phổ biến. Vậyquay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Quay lén có phải là hành vi sao chép hay không?

Quay lén phim trong rạp là hành vi sử dụng các thiết bị ghi hình, ghi âm (như camera, microphone) để ghi lại hình ảnh, âm thanh của tác phẩm điện ảnh mà không có sự đồng ý và thông báo trước.

Căn cứ theo khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đưa ra khái niêm về sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Ngoài ra theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hành vi sao chép tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trừ trường hợp để nghiên cứu cá nhân thì được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Đồng thời căn cứ theo Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình cho thấy hành vi này được xem xét là một hình thức sao chép tác phẩm ghi hình vì nó tạo ra một bản sao khi chưa được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, việc livestream hoặc quay lén phim tại rạp chiếu không chỉ vi phạm quyền tác giả mà còn gây thiệt hại cho nhà sản xuất. Các hành vi này thường bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và có thể bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật hiện hànhtùy vào mức độ và thiệt hại mà nhà sản xuất phải đối mặt.

Do đó hành vi quay lén phim trong rạp được xem là hành vi xâm phạm bản quyền.

Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?

2. Mức xử phạt đối với hành vi quay lén phim trong rạp.

  • Theo Điều 27 Nghị định 131/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP) quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

“1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép bản ghi âm, ghi hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định về khung phạt tiền với cá nhân và tổ chức như sau:

Khung phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là khung phạt tiền áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 5; Khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều 7 Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm, khung phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần khung phạt tiền đối với cá nhân.

Như vậy, việc quay lén phim chiếu rạp thì có thể bị phạt lên tới 35.000.000 đồng với cá nhân và 70.000.000 đồng với trường hợp là tổ chức. Đồng thời phải bị buộc dỡ các bản quay lén hoặc tiêu hủy toàn bộ tang vật tùy vào từng trường hợp

  • Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm a khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) người có hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

“1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.”

Do đó, hành vi quay lén phim chiếu rạp có thể bị phạt tiền lên đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Như vậy, quay lén phim chiếu rạp lên mạng xã hội thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là bài viết “Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?

Ngày nay, quyền tác giả đã trở thành một vấn đề thiết yếu trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không chỉ là một tài liệu pháp lý mà còn là công cụ giúp các tác giả khẳng định quyền sở hữu đối với tác phẩm của mình. Tuy nhiên, quá trình xin cấp Giấy chứng nhận này không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhiều đơn xin cấp Giấy chứng nhận đã bị từ chối cấp. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn hiểu “Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?”.

1. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả hay còn gọi là bản quyền là độc quyền của tác giả đối với tác phẩm của chính họ. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm đó được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ mà không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Quyền tác giả là sự xác nhận của cơ quan chức năng đối với các sản phẩm trí óc do con người bỏ chất xám và kỹ năng của mình để tạo ra. Sự xác nhận này bảm đảm rằng người tạo ra sản phẩm đó được toàn quyền sử dụng tác phẩm của mình cho mục đích kinh tế và bất kỳ ai muốn sử dụng tác phẩm với mục đích thương mại phải được sự cho phép của họ. Nếu không có sự đồng ý mà sử dụng tác phẩm không phải so mình sáng tạo ra sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Do đó, Giấy chứng nhận quyền tác giả được hiểu là văn bản do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả. Trên Giấy chứng nhận quyền tác giả sẽ bao gồm các nội dung sau:

  • Tên tác phẩm.
  • Loại hình tác phẩm.
  • Tên, địa chỉ, quốc tịch, số chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ( Số giấy đăng ký kinh doanh nếu chủ sở hữu là tổ chức).
  • Sổ và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?

2. Các trường hợp bị từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 39 Nghị định 17/2023/ND-CP cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Không đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 38 Nghị định này về chủ thể và đối tượng đăng ký.

Trường hợp 2: Hồ sơ đăng ký không hợp lệ

Trong vòng 01 tháng kể từ ngày tiếp nhận Hồ sơ, Cục bản quyền tác giả sẽ xem xét hình thức đơn có hợp lệ không và sẽ có thông báo bằng văn bản thông qua thông tin liên lạc người nộp hồ sơ lưu lại nếu có sai sót về hồ sơ:

  • Chưa đăng ký lấy mã hồ sơ trên cổng dịch vụ công quốc gia.
  • Hồ sơ không đúng mẫu, sai chính tả, tẩy xóa,…
  • Tài liệu đính kèm thiếu hoặc không phù hợp.
  • Đơn không mô tả tác phẩm, thiếu thông tin, không ghi rõ đối tượng đăng ký,….

Trường hợp 3: Phát hiện tác phẩm có hình thức và nội dung vi phạm các quy định của Hiến pháp, Pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước.

Trường hợp 4: Phát hiện tác phẩm đang có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và chưa có quyết ffinhj có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trường hợp 5: Hết thời hạn quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền không nhận được hồ sơ hợp lệ hoặc hồ sơ đã nộp vẫn không hợp lệ. Do đó theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 38 Nghị định này quy định trong thời hạn tối đa 01 tháng tổ chức, cá nhân kể từ ngày nhận được thông báo để sửa đổi, bổ sung trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật phải bổ sung đầy đủ hồ sơ.

Vì vậy, khi nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, các tổ chức và cá nhân cần lưu ý các điều kiện cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận. Đồng thời, họ cũng phải tuân thủ các quy định về thời hạn bổ sung hồ sơ để tránh việc bị từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.

3. Dịch vụ tư vấn liên quan đến hồ sơ và thủ tục dăng ký bản quyền tác giả của VCD.

Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam (VCD) tư vấn các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

  • Tư vấn hồ sơ, thủ tục, soạn thảo các văn bản, giấy tờ gửi tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Tư vấn giải quyết tranh chấp bản quyền.
  • Tư vấn chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Đại diện tham gia tố tụng các vấn đề về bản quyền.
  • Hợp tác khai thác quyền tác giả, quyền liên quan.

Bản quyền Việt Nam với sứ mệnh thực hiện việc bảo vệ bản quyền tác giả, đem lại những tác động tích cực cho môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bản quyền, trở thành hình mẫu doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong việc chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông tin trong việc bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Các “tác phẩm được thuê làm” đăng ký bản quyền như thế nào?

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp sáng tạo đã làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tác giả. Tác phẩm được thuê làm là một khái niệm khá quen thuộc trong lĩnh vực đăng ký quyền tác giả. Tuy nhiên, điều này đặt ra nhiều câu hỏi về cách thức đăng ký bản quyền cho các tác phẩm này như thế nào? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Học thuyết “work made for hire”.

Học thuyết “work made for hire” được hình thành từ pháp luật bản quyền của Hoa Kỳ, “work made for hire” được dịch sang Tiếng Việt là “tác phẩm được thuê làm” có nghĩa là quyền tác giả không thuộc về tác giả.

Quyền tác giả về cơ bản được hiểu là quyền độc quyền làm bản sao và kiểm sát bản gốc tác phẩm văn học nghệ thuật( ví dụ như tác phẩm viết, báo chí, điện ảnh, kiến trúc, mỹ thuật ứng dụng,…) được bảo hộ bởi pháp luật về quyền tác giả trong một thời hạn nhất định ( thường là 50 năm sau khi tác giả qua đời). Biểu tượng chữ C trong vòng tròn © thường hay xuất hiện trên các ấn phẩm là ký hiệu cảnh báo về tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, luật pháp không yêu cầu phải có ký hiệu © trên tác phẩm thì quyền tác giả mới được bảo hộ.

Theo Cornell Law Shool quyền tác giả là quyền làm bản sao, công bố, bán hoặc phân phối đối tượng bảo hộ quyền tác giả. Trong khi đó, theo Harvard University, quyền tác giả là quyền hợp pháp dành cho tác giả, nghệ sĩ, nhà soạn nhạc hoặc những người sáng tạo khác, cho phép họ kiểm soát việc người khác sử dụng tác phẩm của họ mà theo đó nhìn chung tác phẩm có bản quyền không thể bị sao chụp, phổ biến hoặc chiếm đoạt bởi người khác mà không có sự cho phép của họ.

“Tác phẩm được thuê làm” có nguồn gốc từ phán quyết số 1989 của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Community for Creative Non-Violencev.Reid.

Điều 101 Đạo luật bản quyền Mỹ năm 1976 chia “tác phẩm được thuê làm” thành hai phần:

  • Tác phẩm được làm bởi người lao động trong quá trình người này thực hiện công việc thuộc phạm vi của nhiệm vụ của quan hệ hợp đồng lao đông.
  • Tác phẩm được đặt hàng hoặc thuê khoán được dùng với ý nghĩa:
  • Một phần đóng góp hoặc bài viết cho tác phẩm chung hoặc tuyển tập.
  • Một phần của tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác.
  • Bản dịch.
  • Tác phẩm bổ trợ (lời giới thiệu, lời nói đầu, minh họa, bình luận, minh họa,…).
  • Tác phẩm biên soạn.
  • Văn bản hướng dẫn.
  • Bài thi kiểm tra.
  • Tài liệu trả lời cho bài thi kiểm tra.
  • Tác phẩm bản đồ.

Nếu các bên cùng thỏa thuận bằng văn bản được ký bởi chính họ rằng tác phẩm đó phải được xem là “tác phẩm được thuê làm”.

Các “tác phẩm được thuê làm” đăng ký bản quyền như thế nào?

2. Các “tác phẩm được thuê làm” đăng ký bản quyền như thế nào?

Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, tại Khoản 2 Điều 4 quy định quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân sáng tạo ra tác phẩm hoặc sở hữu tác phẩm. Trong đó đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Trong pháp luật Việt Nam không có khái niệm pháp lý về “tác phẩm được thuê làm” hay còn gọi là “work made for hire”. Cái gọi là “tác phẩm được thuê làm” dưới dạng tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm hoặc theo dạng tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả thuộc tổ chức của mình để sáng tạo. Tuy nhiên các dạng này đều không phải là “tác phẩm được thuê làm” theo định nghĩa tại Điều 101 của Luật Bản quyền Hoa Kỳ nêu trên và vì Việt Nam không chấp nhận chuyển giao quyền nhân thân trừ quyền công bố và cho phép người khác công bố và cũng không công nhận tác giả là tổ chức hoặc pháp nhân.  Do đó, tác giả của tác phẩm phải là người được thuê hoặc giao nhiệm vụ còn chủ sở hữu quyền tác giả chính là người thuê hoặc tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm này bao gồm:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả.
  • Bản sao của tác phẩm.
  • Bản cam đoan của tác giả.
  • Hợp đồng thuê sáng tạo/thiết kế (nếu có).
  • Quyết định giao việc/giao nhiệm vụ (nếu có).
  • Văn bản thỏa thuận giữa các đồng tác giả (nếu có).
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu quyền tác giả (nếu có).
  • Giấy ủy quyền nếu người nộp hồ sơ đăng ký là người được ủy quyền.
  • Căn cước công dân của tác giả.
  • Đăng ký kinh doanh của công ty nếu chủ sở hữu là tổ chức.

Theo đó, đối với việc đăng ký quyền tác giả, có thể đến nộp hồ sơ ở một số địa điểm sau đây:

  • Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hà Nội.
  • Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh.
  • Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng.

Trên đây là bài viết “Các “tác phẩm được thuê làm” đăng ký bản quyền như thế nào? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bản quyền số trong môi trường số hóa

Trong thời đại công nghệ số đang bùng nổ, bản quyền số đã trở thành một yếu tố quyết định trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ của tác giả và nhà sáng tạo. Với sự phát triển của internet, cách thức sáng tạo, phân phối và tiêu thụ tác phẩm đã có những thay đổi mạnh mẽ. Các tác phẩm không còn bị giới hạn trong các hình thức vật lý mà có thể được chia sẻ và tiếp cận dễ dàng qua các nền tảng trực tuyến. Vậy bản quyền số trong môi trường số hóa có sự thay đổi như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Bản quyền số là gì?

Bản quyền được coi là một dạng tài sản trí tuệ. Nó không phải là thương hiệu cũng không phải là bằng sáng chế. Bản quyền được hiểu là quyền hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu đối với tác phẩm do mình tạo ra hoặc sở hữu, các cá nhân, tổ chức không được xâm phạm đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả về việc quản lý, sử dụng, khai thác giá trị của tác phẩm nếu chưa có sự đồng ý của họ.

Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa về bản quyền nhưng theo ngôn ngữ pháp lý bản quyền là quyền tác giả thì theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2022: quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ quy định bao gồm 12 loại tác phẩm được bảo hộ. từ đó có thể hiểu bản quyền là những quyền lợi mà tác giả được hưởng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học của mình. Không có tác phẩm sẽ không có bản quyền.

Do đó, bản quyền số là sự phong phú hóa và mở rộng các quyền lợi của tác giả khi các tác phẩm của họ được nhân bản và phát hành dưới hình thức số hóa. Tác phẩm được sao lưu và nhân bản trên nhiều loại phương tiện xuất bản như đĩa cứng, đĩa CD và các thiết bị lưu trữ số khác, nhằm phát hành rộng rãi. Việc truyền bá và phát hành tác phẩm có thể thực hiện qua các phương tiện như đĩa CD, đĩa cứng, ổ lưu trữ, hoặc thông qua mạng internet và mạng không dây.

Bản quyền số trong môi trường số hóa

2. Những thay đổi về nội dung số trong môi trường số hóa

Khách thể của quyền lợi thay đổi:

Đối tượng bảo hộ của bản quyền chính là các tác phẩm được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ được gọi chung là các tác phẩm van học, nghệ thuật, khoa học. Thông thường có thể sử dụng các hình thức tác phẩm được quy định trong luật để khái quát chúng như tác phẩm văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm thanh, hình ảnh. Tuy nhiên, sự phát triển của kỹ thuật số đã cho phép mọi loại hình tác phẩm được biểu hiện và truyền bá dưới dạng thông tin và được mã hóa.

Xu thế liên kết các loại hình tác phẩm ngày một ro ràng. Ví dụ như game online tích hợp từ nhiều tác phẩm khác nhau như tác phẩm âm nhạc, mỹ thuật, tác phẩm đồ họa cho tới tác phẩm hoạt hình.

Có mối liên hệ giữa tác phẩm với phương tiện xuất bản dần hạn chế. Tác phảm truyền thống bất kể là trong quá trình truyền bá hay sử dụng đều yêu cầu phải sử dụng một phương tiện xuất bản nhất định để biến tác phẩm thành một tác phẩm hữu hình. Việc áp dụng kỹ thuật truyền thông số cho phép tất cả các loại tác phẩm được ghi chép dưới dạng mã nhị phân, chỉ sử dụng hai ký tự 0 và 1, từ đó có thể được truyền bá và lưu thông một cách tự do. Chỉ cần có một chiếc máy vi tính và thiết bị kết nối mạng, người dùng có thể dễ dàng tải về những tác phẩm mà họ mong muốn từ bất kỳ đâu. Vì vậy, tác phẩm không nhất thiết phải tồn tại dưới hình thức vật lý trên các phương tiện xuất bản mà vẫn có thể được truyền bá và sử dụng. Mạng internet cùng với kỹ thuật truyền thông số đã mở ra một hướng đi mới cho việc lan tỏa tác phẩm.

Chủ thể quyền lợi thay đổi:

Tác phẩm số thường là tập hợp nhiều loại hình tác phẩm do đó chủ thể của quyền cũng trở nên phức tạp hơn. Những loại hình tác phẩm khác nhau cấu thành nên một tác phẩm mới. ngoài ra tác phẩm mới này có thể bị phân chia hoặc hợp thành các tác phẩm khác.

Trong môi trường số hóa những quyền liên quan đến bản quyền số cũng thay đổi theo. Sự thay đổi trong phương thức truyền thông đac dẫn đến sự biến đổi trong các quyền liên quan đến quyền tác giả tạo ra những đối tượng hưởng quyền lợi mới như nhà cung cấp dịch vụ mạng trung gian internet. Đóng vai trò là đơn vị truyền bá tác phẩm nên họ có khả năng phát tán tác phẩm trên toàn cầu. Do đó việc xác định tư cách pháp nhân và vị trí của các bên liên quan trong quá trình truyền bá có ý nghĩa rất quan trong trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm. Có thể thấy mối quan hệ giữa nhà cung cấp nội dung trên mạng với tác giả phải cân bằng. Phạm vi bảo hộ bản quyền số không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ quyền lợi của tác giả như trong xuất bản truyền thống, mà còn cần xem xét lợi ích của các nhà cung cấp nội dung và dịch vụ mạng internet. Chỉ có như vậy, mối quan hệ giữa tác giả, người truyền bá và người sử dụng tác phẩm mới thực sự được cân bằng.

Nội dung quyền thay đổi:

  • Quyền đứng tên thay đổi

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ tác giả có quyền đứng tên tác phẩm hoặc không, có thể sử dụng tên thật hoặc bút danh. Trong bảo hộ bản quyền truyền thống, quyền đứng tên và tư cách của tác giả dễ phân biệt. Tuy nhiên, trong môi trường internet, tính nặc danh làm phức tạp việc xác định tư cách tác giả và quyền đứng tên. Điều này khiến tác giả phải chứng minh quyền sở hữu tác phẩm. Ngoài ra, kỹ thuật truyền thông số cho phép chỉnh sửa tác phẩm mà không để lại dấu vết, làm tăng độ khó trong việc xác định tác giả thực sự và đánh giá tính xác thực của tác phẩm, từ đó đặt ra thách thức cho bảo hộ bản quyền.

  • Quyền sao chép tác phẩm

Quyền sao chép trong bảo hộ bản quyền truyền thống chỉ bao gồm quyền nhân bản tác phẩm thành nhiều bản thông qua các phương thức như in, copy, ghi âm, ghi hình và scan. Những phương thức này không bao gồm sao chép tác phẩm trong môi trường internet. Quyền sao chép đối với các tác phẩm số hóa đã có sự thay đổi quan trọng, với hai vấn đề cần xem xét: Việc “số hóa” tác phẩm có được coi là hành vi sao chép hay không? Và các bản sao tạm thời hình thành trong quá trình truyền bá tác phẩm trên mạng internet có thuộc quyền sao chép không?

Trên đây là bài viết “Bản quyền số trong môi trường số hóa” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Làm video lyric có vi phạm bản quyền âm thanh trên Youtube?

Video lyric đã trở thành một phần không thể thiếu trong thế giới âm nhạc trực tuyến, mang đến cho người yêu nhạc cơ hội thưởng thức giai điệu cùng với lời ca một cách sinh động. Tuy nhiên, khi tạo ra những video này, nhiều người đặt ra câu hỏi: Liệu việc làm video lyric có vi phạm bản quyền âm thanh trên YouTube hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Video lyric là gì?

Video lyric là loại video tập trung vào hiển thị lời của ca khúc trên màn hình khi bài hát được phát. Chúng thuộc dạng video kết hơp giữa audio và lời bài hát. Với cách làm này người ca sĩ trình bày không cần xuất hiện cũng như không thực sự cần quan tâm đến cảm xúc của người nghe. Thay vào đó là yếu tố truyền cảm hứng trực quan và ý nghĩa sâu sắc của từng lời ca trong bài hát mới thực sự là điều mà người nghe chú trọng. Do đó, đây là một thể loại được nhiều người yêu thích.

Ngoài ra, lyric video cũng được coi là một phương pháp khá hay để các nghệ sĩ thăm dò thị hiếu của khán giả trước khi bài hát trở thành single chính thức. Chúng quyết định đến tỷ lệ thành công của bản nhạc khi được tung MV đồng thời mức độ đầu tư cho một video lyric không cao và tốn ít hơn so với MV ca nhạc nên không chỉ tăng phần hiệu ứng truyền thông còn giúp cho nghệ sĩ tiết kiệm được chi phí.

Làm video lyric có vi phạm bản quyền âm thanh trên Youtube?

2. Làm video lyric có vi phạm bản quyền trên Youtube không?

Bản quyền âm nhạc là quyền của tác giả đối với tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào viecj trình diễn hay không trình diễn kể từ thời điểm mà tác giả tạo ra sản phẩm. Vì vậy khi nhắc đến tác phẩm âm nhạc là bao gồm cả phầm âm nhạc và phần lời bài hát. Do đó, khi viết một bài hát người nghệ sĩ sẽ sở hữu bản quyền trong tác phẩm âm nhạc đó và nếu ghi âm lại một phiên bản của bài hát đó người nghệ sĩ sẽ sở hữu một bản quyền thứ hai trong bản ghi âm đó.

Quy tắc YouTube về bản quyền:

Nhà sáng tạo nội dung chỉ được phép đăng tải những video mà họ đã sản xuất hoặc có quyền sử dụng. Điều này có nghĩa là họ không được phép đăng tải video mà không do chính họ tạo ra, cũng như không được sử dụng trái phép nội dung có bản quyền của người khác trong video của mình. Ví dụ, việc sử dụng các bản nhạc, trích đoạn từ chương trình có bản quyền, hoặc video do người dùng khác sản xuất mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là không được phép.

Âm thanh trong các video được tải lên Youtube thường được phân loại thành ba dạng chính:

  • Miễn phí hoặc không vi phạm bản quyền: có thể sử dụng âm thanh một cách thoải mái mà không lo bị vi phạm bản quyền.
  • Có vi phạm bản quyền nhưng được phép sử dụng: có thể sử dụng âm thanh nhưng video sẽ không đủ điều kiện để kiếm tiền.
  • Có vi phạm bản quyền và không được phép sử dụng: sử dụng âm thanh ở nhóm này video có thể bị tắt tiếng hoặc bị xóa hoàn toàn.

Khi tải lên video có chứa âm thanh thuộc dạng thứ ba ngay lập tức sẽ bị hệ thống trên Youtube đánh bản quyền và bị thực hiện các biện pháp ngăn chặn.

Do đó hầu hết các âm thanh tati từ mạng rơi vào trường hợp hai và ba còn trường hợp đầu tiên là âm thanh do tự ghi âm hoặc sáng tác.

Có hai cách chính để làm video không bị vi phạm bản quyền âm nhạc:

  • Tự ghi âm: Đây là cách tốt nhất để bạn sở hữu bản quyền hoàn toàn cho nội dung âm thanh.
  • Sử dụng nhạc từ thư viện YouTube Audio Library: Thư viện này có hơn 150.000 bài nhạc và 100.000 hiệu ứng âm thanh mà bạn có thể sử dụng thoải mái. Bạn có thể truy cập tại YouTube Audio Library.
  • Trong thư viện âm thanh, có ba mục chính:

Free Music: Đây là phần chứa âm thanh và nhạc miễn phí. Bạn có thể tải về và sử dụng mà không lo về bản quyền. Các thể loại nhạc từ cổ điển đến hip-hop đều có sẵn.

Ad-Supported Music: Đây là các bài hát có bản quyền nhưng bạn vẫn có thể sử dụng. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý về các giới hạn sử dụng. Ví dụ, nếu bạn sử dụng bài “Let it Go,” video của bạn có thể bị cấm ở một số quốc gia. Bạn không thể tải các bài này, mà chỉ có thể tham khảo thông tin.

Free Sound Effects: Phần này cung cấp các hiệu ứng âm thanh miễn phí, từ tiếng trẻ em khóc đến tiếng bom nổ, và bạn có thể tải về và sử dụng thoải mái.

Từ các căn cứ trên cho thấy làm video lyric mà không có sự cho phép từ chủ sở hữu bản quyền cho lời bài hát và nhạc nền sẽ có khả năng cao vi phạm bản quyền trên YouTube. Để tránh rủi ro hãy sử dụng âm thanh và nội dung có bản quyền rõ ràng hoặc nội dung miễn phí.

Trên đây là bài viết “Làm video lyric có vi phạm bản quyền âm thanh trên Youtube? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bản quyền nhân vật và những điều cần biết

Trong bối cảnh ngành công nghiệp giải trí và sáng tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhân vật truyện tranh, nhân vật game, mascot và các biểu tượng văn hóa khác đã trở thành một yêu cầu thiết yếu. Những nhân vật này không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là tài sản thương mại có giá trị, góp phần tạo dựng thương hiệu và thu hút khán giả. Vậy, cần biết những gì về  bản quyền nhân vật?. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Bản quyền nhân vật là gì

Bản quyền hay còn gọi là quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Tạo hình nhân vật là việc sử dụng cá phương tiện, chất liệu và công cụ cần thiết để tạo ra các hình thể nhân vật bằng các đường nét, hình khối, màu sắc khác nhau dưới dạng 2D hoặc 3D bao gồm các chi tiết về diện mạo, ngoại hình, trang phục, cử chỉ và sắc thái của nhân vật đó.

Hình ảnh nhân vật là sản phẩm sáng tọa được thể hiện dưới nhiều hình thức và lưu trên nhiều kênh giải trí như: truyện, phim hoạt hình, game giải trí,…

Bản quyền nhân vật là quyền sở hữu trí tuệ đối với các nhân vật do bạn tạo ra bao gồm các yếu tố như tên, hình ảnh, tính cách, câu chuyện liên quan hoặc bất kỳ đặc điểm nào khác mà bạn đã phát triển cho nhân vật đó. Quyền này bảo vệ các sáng tạo của bạn khỏi việc bị sao chép, sử dụng trái phép bởi người khác.

2. Vấn đề bản quyền nhân vật trên thế giới

Trên thế giới, việc bảo vệ bản quyền nhân vật trở nên đã trở thành một yếu tố quan trọng trong ngành công nghiệp giải trí và sáng tạo. Hai ví dụ điển hình là Mickey của Disney và các nhân vật trong vũ trụ Marvel.

Mickey Mouse là một trong những nhân vật có bản quyền nổi tiếng nhất trên thế giới. Từ khi ra đời vào năm 1928 Disney đã đầu tư mạnh mẽ vào việc bảo vệ bản quyền hình ảnh và thương hiệu của Mickey. Công ty sử dụng các biện pháp để ngăn chặn việc sử dụng trái phép hình ảnh Mickey.

Hay ở vũ trụ Marvel với hàng loạt các nhân vật nổi tiếng như: Spider-Man, Iron Man,… cũng là một trong các ví dụ điển hình về việc bảo vệ bản quyền hiệu quả hình ảnh nhân vật. Marvel Studio đã áp dụng các chiến lược bảo vệ bản quyền mạnh mẽ bao gồm việc đăng ký bản quyền cho các nhân vật, câu chuyện và thậm chí là cả các biểu tượng liên quan.

Việc bảo vệ bản quyền nhân vật không chỉ ngăn chặn hành vi sao chép trái phép mà còn tạo ra cơ hội kinh doanh lớn từ các sản phẩm được gắn với các hình ảnh nhân vật.

Bảo vệ bản quyền nhân vật qua ví dụ của Disnry và Marvel giúp các công ty duy trì kiểm soát và khai thác tối đa giá trị kinh tế từ những nhân vật do họ tạo ra góp phần thúc đẩy sự sáng tạo.

Bản quyền nhân vật và những điều cần biết

3. Vấn đề bản quyền nhân vật ở Việt Nam

Tại Việt Nam vấn đề bản quyền nhân vật được quy định cụ thể tại Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2022 và các văn bản hướng dẫn khác.

  • Về đối tượng đăng ký:  hình ảnh nhân vật có thể đăng ký bảo hộ dưới danh nghĩa là một tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Đây là một trong 14 loại hình tác phẩm theo Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể được quy định tại Khoản 8 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP:

“8. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.”

  • Về bản chất của quyền tác giả đối với hình ảnh nhân vật: là quyền của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả trong việc chống lại người khác thực hiện hành vi sao chép trái phép tạo hình nhân vật của mình. Khi có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, chủ sở hữu không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp.
  • Điều kiện đăng ký: Tác phẩm hình ảnh nhân vật khi đăng ký theo cơ chế này phải đảm bảo tính sáng tạo và tính nguyên gốc, không sao chép từ bất kỳ nguồn nào.

Quyền tác giả đối với hình ảnh nhân vật phát sinh khi tác phẩm được định hình ra mà không cần thực hiện thủ tục xác lập quyền. Tuy nhiên, cơ chế tự động bảo hộ này rất khó để chứng minh và bảo vệ quyền lợi cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả khi xảy ra tranh chấp, do đó khuyến khích tác giả, chủ sở hữu thực hiện thủ tục đăng ký để có Giấy tờ pháp lý chứng minh quyền tác giả đối với tác phẩm.

Trên đây là bài viết “Bản quyền nhân vật và những điều cần biết” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,