Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Những lưu ý cần thiết khi đăng ký bản quyền logo

Logo là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng để khiến khách hàng nhận diện doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ. Việc thiết kế một logo đẹp, thu hút là điều mà các doanh nghiệp hướng tới, để ghi lại dấu ấn của mình trên thị trường. Có những doanh nghiệp rất thành công trong việc định hình thương hiệu của mình trên thị trường, phần lớn nhờ vào hình ảnh logo. Chính vì vậy, việc bảo hộ logo là điều rất cần thiết, để tránh những tranh chấp, đạo nhái hình ảnh làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Vậy, khi đăng ký bản quyền logo cần phải lưu ý những điểm nào sẽ được thể trong bài viết dưới đây.

1. Đăng ký bản quyền logo

Bản quyền hay còn gọi là quyền tác giả của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo quy định, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Bản quyền Logo là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong kinh doanh nói chung và trong hoạt động xây dựng thương hiệu nói riêng. Bản quyền logo là việc nhà nước bảo hộ để người sử dụng logo đó được sử dụng độc quyền, duy nhất mà không có bất kỳ bên thứ ba nào sử dụng logo trùng hoặc tương tự giống như vậy.

Vì vậy, việc bảo hộ này sẽ được tiếp cận dưới hai hình thức là bảo hộ thương hiệu và bảo hộ quyền tác giả. Tương ứng với hai hình thức bảo hộ này: thương hiệu hay quyền tác giả, thì thủ tục để đăng ký bảo hộ hoàn toàn khác nhau, theo đó, quyền và lợi ích khi logo được bảo hộ cũng rất khác nhau, mà pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới gọi là bảo hộ song trùng. Ở đây, đăng ký bản quyền logo là thủ tục pháp lý giúp nhà đầu tư doanh nghiệp chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với logo, nhãn hiệu. Thủ tục đăng ký sẽ được tiến hành theo nhiều bước khác nhau, bao gồm tra cứu khả năng đăng ký nhãn hiệu, nộp đơn và theo dõi quá trình thẩm định đơn cho đến khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký.

2. Thủ tục đăng ký

Về cơ bản, thủ tục đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với logo sẽ diễn ra theo thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm khác, bao gồm: (1) Chuẩn bị hồ sơ; (2) Nộp hồ sơ; (3) Tiếp nhận hồ sơ; (4) Rà soát, phân loại hồ sơ; (5) Trả kết quả.

Cụ thể, các bạn đọc thêm trong bài viết của VCD.

Đăng ký quyền tác giả đối với logo sẽ là loại hình đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Theo Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 17/2023, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.

3. Những lưu ý cần thiết khi đăng ký bản quyền logo

Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung ngày 01/01/2023, vào ngày 26/04/2023 Chính phủ đã cho ban hành Nghị định 17/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan. Ngày 02/06/2023 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng đã cho ban hành Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Mặc dù đã có Nghị định và Thông tư hướng dẫn cho những quy định mới, tuy nhiên, thực tế khi tiến hành thủ tục đăng ký sẽ gặp không ít khó khăn cho người nộp đơn khi chuẩn bị hồ sơ.

Một trong những điểm khác biệt của Tờ khai đăng ký theo Nghị định 17/2023 so với quy định cũ là tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm phải cung cấp nhiều thông tin hơn nữa đối với tác phẩm của mình. Cụ thể trong phần mô tả logo như sau:

  • Đường link địa chỉ trang điện tử (trong trường hợp công bố trên mạng Internet)
  • Mô tả đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục, tính năng hữu ích của tác phẩm: Đối với chữ cái thông thường, phải miêu tả được thứ tự sắp xếp và phông chữ cụ thể của các chữ cái. Đối với những chữ cái đã được thiết kế đặc biệt, người điền tờ khai phải miêu tả cụ thể thiết kế của chữ cái đó như một ký hiệu đặc biệt trong logo. Đối với ký hiệu thông thường, phải miêu tả chính xác hình dạng, màu sắc và vị trí của ký hiệu. Đối với những ký hiệu được thiết kế đặc biệt, phải miêu tả cụ thể thiết kế của ký hiệu.
  • Công cụ, ứng dụng dùng để sáng tạo tác phẩm
  • Tác phẩm được tạo ra để gắn liền với đồ vật hữu ích nào (nếu có), được sản xuất thủ công hay công nghiệp
  • Cam đoan về việc sáng tạo tác phẩm

Để chuẩn bị một bộ hồ sơ theo quy định mới của Luật Sở hữu trí tuệ là không đơn giản, yêu cầu người chuẩn bị hồ sơ phải có kiến thức chuyên môn và có kinh nghiệm thực tiễn thì mới có thể đảm bảo được hồ sơ đăng ký trôi chảy và có khả năng cao được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Những lưu ý cần thiết khi đăng ký bản quyền logo”. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các bạn.

Đăng ký bản quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố như thế nào?

Thông thường, một tác phẩm khi được sáng tạo và định hình dưới dạng vật chất nhất định sẽ được tác giả hoặc chủ sở hữu đăng ký bảo hộ quyền tác giả để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên không phải tác giả hay chủ sở hữu nào cũng sẽ đăng ký bảo hộ bản quyền cho tác phẩm của mình ngay lập tức mà có thể vì một lý do nào đó hoặc có hành vi xâm phạm bản quyền nên họ mới đăng ký bảo hộ quyền tác giả. Vậy một câu hỏi đặt ra là: Đăng ký bản quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố như thế nào?

1. Tác phẩm đã công bố là gì?

Theo khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.

Công bố tác phẩm là quyền nhân thân và là một trong những nội dung quan trọng của quyền tác giả. Tác giả (trong trường hợp đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm) có toàn quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình. Khi công bố tác phẩm, tác giả còn có quyền lựa chọn hình thức, loại hình nghệ thuật thích hợp với tác phẩm đó. Theo khoản 8 Điều 3 Nghị định 17/2023/NĐ – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan  thì “Công bố tác phẩm, cuộc biểu diễn đã định hình, bản ghi âm, ghi hình là việc phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn đã định hình, bản ghi âm, ghi hình dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng hợp lý đủ để công chúng tiếp cận được tùy theo bản chất của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình. Tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm kiến trúc được coi là đã công bố nếu tác phẩm đó được đặt tại nơi công cộng với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả cho công chúng tiếp cận và có thể sao chép”.

Như vậy có thể hiểu, tác phẩm đã công bố là việc tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm phát hành bản sao tác phẩm đến công chúng, với số lượng đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm.

2. Vấn đề pháp lý

2.1. Tác phẩm đã công bố có được đăng ký bản quyền tác giả không?

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Như vậy, đăng ký quyền tác giả là hình thức không bắt buộc, và ngay sau khi hoàn thành tác phẩm, mặc dù chưa tiến hành thủ tục đăng ký bản quyền thì quyền tác giả vẫn phát sinh từ thời điểm đó.

Bên cạnh đó, tác phẩm ở đây phải đảm bảo có tính nguyên gốc do chính tác giả sáng tạo ra, không sao chép và bắt chước tác phẩm khác và được cụ thể hóa dưới dạng vật chất nhất định sẽ được bảo hộ quyền tác giả.

Pháp luật Việt Nam không quy định một tác phẩm được sáng tạo ra phải lập tức đăng ký quyền tác giả vì bản thân tác phẩm đó từ khi được hình thành đã có quyền tác giả. Vì vậy, tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, chỉ cần được định hình dưới dạng vật chất nhất định sẽ được đăng ký quyền tác giả. Tuy nhiên, việc đăng ký sẽ chứng minh và bảo về quyền và lợi ích của tác giả và chủ sở hữu như sau:

  • Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả sẽ đồng nghĩa với việc tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm, tránh những hành vi với mục đích thu lợi nhuận bất hợp pháp khác. Nếu người khác muốn sử dụng hoặc sao chép thì phải có sự đồng ý của chủ sở hữu.
  • Một tác phẩm ngoài giá trị tinh thần song song đó là yếu tố thương mại đi kèm nếu như để các hành vi xâm phạm quyền tác giả đó tiếp tục xảy ra thì đây thực sự là một điều bất công với tác giả đã sử dụng chất xám của mình tạo ra tác phẩm.
  • Trong thực tế việc chứng minh quyền sở hữu khi chưa được đăng ký bảo hộ là rất khó khăn. Đặc biệt là những tác phẩm đã được sáng tạo ra từ rất lâu. Đây chính là nguyên nhân quan trọng giải thích tại sao phải đăng ký bản quyền tác giả. Vì thông qua việc đăng ký bản quyền sẽ được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đây chính là tài liệu quan trọng nhất để chứng minh tác giả và chủ sở hữu của tác phẩm.

2.2. Đăng ký bản quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố như thế nào?

Hiện nay, pháp luật Sở hữu trí tuệ không quy định cụ thể các bước tiến hành đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố mà chỉ quy định về việc đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả với tác phẩm nói chung theo Nghị định 17/2023/NĐ – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan ngày 26/04/2023. Về cơ bản, việc đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố sẽ theo trình tự thủ tục được nêu trong Điều 38 và 39 Nghị định 17/2023/NĐ – CP, và hồ sơ đăng ký sẽ bao gồm:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu tương ứng tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan).
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả: 01 bản lưu tại Cục Bản quyền tác giả và 01 bản đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký gửi trả lại cho chủ thể được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.
  • Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng ủy quyền, trường hợp bên ủy quyền là cá nhân thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.
  • Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).
  • Các tài liệu khác tùy theo từng trường hợp.

Tuy nhiên, khi đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố, cần lưu ý điền thông tin ở Tờ khai đăng ký quyền tác giả. Theo đó, đối với mục tác phẩm đăng ký sẽ có hai hình thức cần điền là đã công bố và chưa công bố, đối với tác phẩm đã công bố thì sẽ điền vào mục đã công bố. Ở đây, tác giả và chủ sở hữu phải điền thêm thông tin đầy đủ về ngày công bố, hình thức công bố (hình thức phát hành bản sao như xuất bản, ghi âm, ghi hình), nơi công bố ở tỉnh thành và quốc gia nào. Việc cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ ở mục này sẽ là căn cứ để chuyên viên Cục Bản quyền rà soát và đánh giá tác phẩm một cách tốt nhất, để bảo đảm tối ưu quyền và lợi ích của tác giả và chủ sở hữu.

3. Kết luận

Thực tế hiện nay càng ngày càng có nhiều tác giả và chủ sở hữu đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm đã công bố của mình. Vì vậy, việc nắm rõ quy định pháp luật là điều rất cần thiết.

Trên đây là bài viết: “Đăng ký bản quyền tác giả đối với tác phẩm đã công bố như thế nào?”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Quy trình đăng ký bản quyền tác giả tại Việt Nam

Trong đời sống xã hội hiện nay, việc đăng ký quyền tác giả ngày càng được coi trọng, nhất là khi thực trạng xâm phạm quyền tác giả diễn ra ngày một phức tạp. Vì vậy, việc nắm chắc quy trình và những tài liệu cần thiết khi đăng ký quyền tác giả rất quan trọng. Cụ thể sẽ được thể hiện trong bài viết “Quy trình đăng ký bản quyền tác giả tại Việt Nam” dưới đây.

1. Đăng ký quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ). Do vậy, quyền tác giả (hay bản quyền) là một loại quyền sở hữu trí tuệ được cấp cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả để kiểm soát việc sao chép, sử dụng, phân phối và trình bày tác phẩm của họ để bảo vệ tác phẩm khỏi việc sao chép hoặc sử dụng mà không được phép.

Như vậy, có thể hiểu đăng ký quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nộp hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cục bản quyền tác giả) để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả và điều kiện đăng ký bản quyền tác giả đối với chủ thể đăng ký

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Pháp luật Việt Nam chỉ bảo hộ tác phẩm khi chúng được hình thành dưới dạng vật chất nhất định như giấy viết,… và phải đảm bảo tác phẩm đó là công sức sáng tạo của tác giả, không sao chép hoặc bắt chước tác phẩm khác.

Căn cứ theo quy định từ Điều 37 đến Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả:

  • Tác giả, các đồng tác giả,
  • Tổ chức – cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả,
  • Người thừa kế, người được chuyển giao quyền, Nhà nước.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Quy trình đăng ký bản quyền tác giả tại Việt Nam

3.1. Xác định loại hình tác phẩm đăng ký

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng; Tác phẩm nhiếp ảnh; Tác phẩm kiến trúc; Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Điều 14 còn quy định: Tác phẩm phái sinh (Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn) chỉ được bảo hộ theo quy định tại điểm a nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh

Ngoài ra, tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác và bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

3.2. Chuẩn bị hồ sơ

Để đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm, tác giả cần chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu như sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu tương ứng tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan). Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ ký tên. Tờ khai cần ghi đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan. Tờ khai cần có tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn.
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả:

01 bản lưu tại Cục Bản quyền tác giả và 01 bản đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký gửi trả lại cho chủ thể được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.

Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh bản sao tác phẩm đăng ký được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều.

  • Với tác phẩm viết: 02 quyển trên giấy A4 có đánh số trang và chữ ký của tác giả vào từng trang hoặc dấu giáp lai công ty;
  • Với chương trình máy tính: 02 bản in mã nguồn + giao diện phần mềm trên giấy A4 + 02 đĩa CD có nội dung mã nguồn và giao diện trên đó;
  • Đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng: 02 bản in trên giấy A4 tác phẩm có chữ ký hoặc dấu của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Đối với tác phẩm âm nhạc: 02 bản in phần nhạc + lời hoặc bản ghi âm (thu âm) trong trường hợp đã ghi âm;
  • Đối với tác phẩm kiến trúc: 02 bản vẽ trên giấy A3
  • Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng ủy quyền, trường hợp bên ủy quyền là cá nhân thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.
  • Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).

Tất cả các tài liệu nộp kèm đơn đăng ký quyền tác giả phải được làm bằng tiếng Việt, trường hợp làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và có công chứng hoặc chứng thực.

3.3. Nộp hồ sơ

Hiện nay có ba con đường để nộp hồ sơ, bao gồm nộp trực tiếp, nộp qua đường bưu điện và nộp trực tuyến, cụ thể như sau:

  • Khi nộp trực tiếp hồ sơ, tác giả hoặc chủ sở hữu có thể nộp đến các địa chỉ sau:
  • Cục Bản quyền tác giả: Số 33 Ngõ 294/2 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội, TP. Hà Nội.
  • Văn phòng đại diện tại TP. Hồ Chí Minh: Số 170 Nguyễn Đình Chiểu, P. 6, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.
  • Văn phòng đại diện tại TP. Đà Nẵng: Số 58 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  • Khi nộp qua đường bưu điện, tác giả hoặc chủ sở hữu có thể nộp đến địa chỉ: Cục Bản quyền tác giả: Số 33 Ngõ 294/2 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội, TP. Hà Nội.
  • Khi nộp trực tuyến, tác giả hoặc chủ sở hữu có thể nộp qua cổng dịch vụ trực tuyến: http://dichvucong.gov.vn/

3.4. Theo dõi phản hồi của Cục Bản quyền

Để nộp bộ hồ sơ chính xác và hoàn chỉnh để đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm thường sẽ mất khá nhiều thời gian, đòi hỏi tác giả và chủ sở hữu phải thận trọng trong việc chuẩn bị hồ sơ. Hồ sơ trong quá trình nộp và sau khi nộp thành công sẽ được các chuyên viên thẩm định và rà soát kỹ lưỡng, trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì chuyên viên Cục bản quyền sẽ hướng dẫn chỉnh sửa thông qua mail hoặc điện thoại; trường hợp hồ sơ hợp lệ thì tác giả và chủ sở hữu sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ.

3.5. Nhận kết quả

Sau khi hồ sơ được thẩm định và xác nhận và hợp lệ và đầy đủ, Cục bản quyền sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký cho chủ sở hữu để ghi nhận quyền sở hữu cho chủ sở hữu. Thời gian thường sẽ kéo dài 02 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ, bao gồm 01 tháng để phân loại và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, trường hợp hồ sơ hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 15 ngày làm việc (không tính thứ 7 và chủ nhật), Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả và Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

4. Kết luận

Tùy vào từng loại hình và các mối quan hệ xoay quanh tác phẩm mà các tài liệu trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả là khác nhau, ví dụ tác phẩm được sáng tạo ở Việt Nam nhưng chủ sở hữu là pháp nhân ở nước ngoài. Vì vậy, để chuẩn bị một hồ sơ hợp lệ thì tác giả và chủ sở hữu phải có kiến thức và chuyên môn, nếu không thì phải ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác có kinh nghiệm để chuẩn bị và theo dõi quá trình nộp hồ sơ tại Cục bản quyền.

Trên đây là bài viết “Quy trình đăng ký bản quyền tác giả tại Việt Nam”. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các bạn.

Thông báo ghi nhận tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan

Kính gửi: các Quý khách hàng, Quý đối tác, Các tổ chức, cá nhân,

Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam (“VCD”) là đơn vị thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Liên quan đến việc Thông báo ghi nhận tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan VCD tự hào khi thông báo như sau:

Ngày 28/11/2023, VCD đã được ghi nhận là tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo Giấy ghi nhận số 28/2023/TCTVDV và được ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia về tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.

Trên tinh thần tự nguyện, VCD thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, cụ thể trong việc tư vấn; đại diện tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan và tham gia các quan hệ pháp luật khác về quyền tác giả, quyền liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo ủy quyền.

VCD cảm ơn các Quý khách hàng, Quý đối tác, các tổ chức, cá nhân đã luôn ủng hộ và mong nhận được nhiều hơn nữa sự hợp tác của các Quý khách hàng, Quý đối tác, các tổ chức, cá nhân vì lợi ích chung, vì sự phát triển chung của cả hai bên.

Trân trọng./.

ChatGPT và vấn đề về quyền tác giả

Kể từ khi ra mắt đến nay, một siêu trí tuệ có sức mạnh khủng khiếp, có thể đe dọa đến sự xóa sổ của hàng chục nghề nghiệp trong tương lai là ChatGPT vẫn đang không ngừng làm mưa làm gió. Tuy nhiên, bên cạnh sự tiện năng của mình, ChatGPT vẫn đặt ra nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề bản quyền. Vì vậy, bài viết dưới đây sẽ tập trung chỉ ra ChatGPT và vấn đề về quyền tác giả

1. Chat GPT là gì?

Chat GPT là viết tắt của Chat Generative Pre-training Transformer đây là ứng dụng được Công ty OpenAI cho ra mắt vào tháng 11 năm 2022. ChatGPT là một mô hình sử dụng công nghệ AI để xử lý ngôn ngữ, có khả năng tạo văn bản giống với con người chỉ với những từ khóa cơ bản. Hiểu một cách đơn giản, công cụ này xử lý ngôn ngữ tự nhiên và có thể được dùng như một trợ lý trò chuyện như con người. Một điểm đáng chú ý chính là việc tương tác dưới dạng đàm thoại và đưa ra những phản hồi rất đáng kinh ngạc.

Công cụ này thậm chí còn có thể tạo ra những hình ảnh và video mới dựa trên những gì nó đã học được từ cơ sở dữ liệu khổng lồ là các cuốn sách điện tử (e-books), các bài viết trực tuyến và các phương tiện khác. Với tiềm năng ứng dụng to lớn đó, ChatGPT được đánh giá là một trong những đối thủ đáng gờm của Google. Thậm chí, nhiều người tin rằng, ChatGPT sẽ khiến cho nhiều nghề nghiệp “ra chuồng gà” vì độ thông minh và tốc độ xử lý nhanh chóng của nó.

Và một trong những ảnh hưởng mà ChatGPT gây ra chính là đối với ngành xuất bản sách. Theo một báo cáo mới đây, tính đến giữa tháng 2/2023 đã có hơn 200 sách điện tử trong cửa hàng Kindle đề tên ChatGPT là tác giả hoặc đồng tác giả. Trên thư viện sách Amazon còn có thêm một số mục về sách được hỗ trợ bởi ChatGPT hoặc sách được viết hoàn toàn bởi siêu AI. Với những gì đang diễn ra, AI đang bị lo ngại sẽ tác động lớn đến ngành xuất bản.

2. Vấn đề pháp lý đặt ra

2.1. Nội dung do ChatGPT tạo ra có được bảo hộ bản quyền?

Mặc dù đem đến nhiều tiện ích cho người dùng, nhưng ChatGPT vẫn gây ra nhiều e ngại liên quan đến vấn đề đạo đức như khả năng truyền bá tin giả, tiếp tay cho kẻ xấu lừa đảo… Và một trong những khía cạnh được nhiều người quan tâm hơn cả là khía cạnh bản quyền của những tác phẩm do công cụ này tạo ra.

Thứ nhất, về vấn đề quyền tác giả đối với các tác phẩm tạo ra bởi ChatGPT, theo Luật bản quyền của hầu hết các quốc gia trên thế giới, chỉ có những tác phẩm được tạo ra bởi con người mới được bảo hộ bản quyền. Ví dụ như Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định để một tác phẩm được bảo vệ bản quyền, tác phẩm đó phải được sáng tạo bởi con người, không có đầu vào là sự sáng tạo của con người, một tác phẩm sẽ không được bảo vệ quyền tác giả. Và Việt Nam không ngoại lệ khi Luật Sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 12a Văn bản Hợp nhất 11/VBHN – VPQH 2022, Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm”.

Điều này được quy định hợp lý vì để đăng ký quyền tác giả đối với một tác phẩm sẽ phải trải qua nhiều công đoạn từ làm hồ sơ, nộp hồ sơ đến theo dõi phản hồi của Văn phòng Bản quyền hay ở Việt Nam là Cục Bản quyền tác giả, do vậy, việc ChatGPT đăng ký bản quyền có thể sẽ gặp những trở ngại lớn.

2.2. Trường hợp các tác phẩm do ChatGPT tạo ra được bảo hộ quyền tác giả thì ai là chủ sở hữu?

Chỉ trong vòng 30s, ChatGPT hoàn toàn có thể tạo ra một bài thơ ngắn hay một đoạn văn. Vậy bài thơ hay các tác phẩm do ChatGPT tạo ra thì ai sẽ là chủ sở hữu? Hiện nay có ba quan điểm khác biệt như sau:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng ChatGPT được xem là chủ sở hữu vì các lý do sau:

Một trong những điểm khiến ChatGPT được đánh giá cao hơn các công cụ khác như Google Search là ChatGPT tự tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tạo ra một câu trả lời theo cách hiểu và phương trình của nó, chứ không phải dựa vào trí tuệ, kiến thức của người dùng.

Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 13 Văn bản Hợp nhất Luật sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm…” Vì vậy, ChatGPT mới được coi là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm mình tạo ra.

  • Quan điểm thứ hai cho rằng ChatGPT không phải là chủ sở hữu vì các lý do sau:

Đầu tiên, Chat GPT đưa ra câu trả lời sau khi người dùng đặt câu hỏi – không thể chủ động tạo ra tác phẩm được.

Tiếp đó, giữa người dùng và nền tảng này có xác lập một giao dịch dân sự (dù người dùng bỏ tiền ra hay sử dụng miễn phí) mà theo đó, người dùng được trao quyền sở hữu nguồn tài nguyên có sẵn trên hệ thống dữ liệu của ChatGPT. Người dùng ở đây có quyền yêu cầu ChatGPT xuất bản một tác phẩm hay trả lời bất cứ câu hỏi nào của người dùng. Theo khoản 2 Điều 39 Văn bản Hợp nhất Luật sở hữu trí tuệ: “Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này”. Do vậy, người sử dụng ChatGPT để tạo ra tác phẩm có thể được công nhận chủ sở hữu quyền tác giả.

  • Quan điểm thứ ba cho rằng cả ChatGPT và người dùng đều được xác định là đồng chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm do ChatGPT tạo ra.

Nếu xem ChatGPT là tác giả tạo ra tác phẩm thì thông qua việc được cấp quyền để dùng các chức năng có sẵn của ChatGPT thì người dùng là bên đã thuê ChatGPT tạo ra tác phẩm. Ở đây, ChatGPT sẽ có quyền nhân thân, bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả khi tác phẩm được công bố và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm do chính ChatGPT tạo ra; còn người dùng có quyền tài sản như quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối, cho thuê tác phẩm.

Tuy nhiên, trước khi xác định ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm mà ChatGPT tạo ra thì cần phải cân nhắc đến một yếu tố nữa là “Điều khoản sử dụng dịch vụ” của ChatGPT. Nếu như Điều khoản sử dụng dịch vụ này có quy định rằng Chat GPT hoặc đơn vị tạo ra nền tảng này mới chính là tác giả và chủ sở hữu toàn vẹn quyền tác giả của tác phẩm do Chat GPT tạo ra, thì khi đó người dùng nền tảng này sẽ không có đầy đủ các quyền của một chủ tác quyền như không có quyền sửa chữa, cắt xén tác phẩm, biểu diễn, phân phối tác phẩm đó.

3. Kết luận

Theo như quan điểm truyền thống, một tác phẩm được tạo ra là thường tốn rất nhiều công sức, tiền bạc và là thành quả của tác giả hoặc cá nhân, tổ chức. Vì vậy, pháp luật bảo hộ quyền và lợi ích của họ bằng các trao cho các chủ thể này quyền tác giả để ghi nhận trí tuệ, sức lao động của chính tác giả, đặc biệt các tác phẩm thơ ca, văn chương hay tác phẩm biểu diễn.

Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển kéo, công nghệ hiện đại ngày càng đổi mới và sự ra đời của các siêu trí tuệ nhân tạo là một thách thức đối với quy định pháp luật nói chung và quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ nói riêng. Bởi vì khác với con người là sử dụng đầu óc và định hình tác phẩm dưới một hình thức vật chất nhất định để tạo ra tác phẩm thì ChatGPT lại tập hợp kiến thức, dữ liệu và được lập trình sẵn trong một nền tảng công nghệ nên việc tạo ra một tác phẩm hay ho chỉ tốn 3 giây hoặc ngắn hơn.

Do vậy, việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ sao cho phù hợp là một điều cần thiết và thiết thực đối với thực tiễn ngày nay.

Trên đây là bài viết “ChatGPT và vấn đề về quyền tác giả”. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các bạn.

THÔNG BÁO: Về việc nhận ủy quyền thu phí bản quyền của ca sĩ Yanbi

Ca sĩ Yanbi là một trong những hiện tượng của giới Underground, và một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của ca sĩ Yanbi là bài hát “Thu cuối” đình đám đến tận hôm nay. Liên quan đến vấn đề thu phí bản quyền bài hát, VCD có thông báo như sau:

Ngày 11/05/2023 Hợp đồng ủy quyền quản lý quyền tác giả âm nhạc giữa Yanbi và Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (“VCPMC”) đã được thanh lý.

Kể từ ngày 12/05/2023, Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam (“VCD”) sẽ là đại diện cho Yanbi quản lý và kinh doanh quyền tác giả đối với các tác phẩm do Yanbi là tác giả và là đồng tác giả theo Hợp đồng Hợp tác quản lý quyền tác giả số 16523/HĐHT-VCD ngày 16 tháng 05 năm 2023.

Vì vậy, mọi công việc liên quan đến quản lý và kinh doanh quyền tác giả đối với các tác phẩm mà Yanbi sở hữu hợp pháp sẽ do VCD đại diện và phụ trách. Các quý đối tác, tổ chức và cá nhân có nhu cầu xin phép sử dụng và trả phí bản quyền các tác phẩm do Yanbi là tác giả và đồng tác giả vui lòng liên hệ với VCD để được hỗ trợ và giải quyết.

Một lần nữa, VCD cảm ơn ca sĩ Yanbi đã tin tưởng và chúc ca sĩ Yanbi ngày càng thành công hơn nữa trên con đường sự nghiệp của mình.

Trân trọng./.

Phân tích vụ việc quản lý ca sĩ Đ.T kiện 3 ca sĩ Việt

Những ngày gần đây, cộng đồng mạng xôn xao trước thông tin ông bầu H.T – quản lý của ca sĩ Đ.T kiện ba ca sĩ Việt là T.T, D.E và B.C vì vấn đề bản quyền. Vậy vụ việc này dưới góc nhìn Luật Sở hữu trí tuệ nói chung sẽ như nào? Mời các bạn theo dõi bài viết “Phân tích vụ việc quản lý ca sĩ Đ.T kiện 3 ca sĩ Việt” dưới đây của VCD.

1. Toàn cảnh vụ việc

Vào cuối năm 2022, quản lý Đ.T từng cho biết D.E xin phép cover 3 ca khúc Mưa trên cuộc tình, Tình đơn phương, Cuộc tình trong cơn mưa nhưng chỉ đồng ý cho nam ca sĩ đăng tải bản thu âm lên YouTube, không đồng ý việc sử dụng nhằm mục đích biểu diễn. Theo ông H.T, cả 3 ca khúc này đều được D.E biểu diễn ở nhiều show khác nhau mà không có sự xin phép. Vụ việc cũng xảy ra tương tự với ca sĩ T.T và B.C.

Quản lý của ca sĩ Đ.T khẳng định dù đã nhắc nhở nhưng một số ca sĩ vẫn ngang nhiên sử dụng. Chính vì vậy, phía quản lý của ca sĩ Đ.T đã thông qua luật sư để tiến hành khởi kiện ra tòa án các ca sĩ như D.E, T.T, B.C. Bên cạnh đó, YouTube cũng đã gỡ các bài sử dụng trái phép.

Sau khi đăng tải thông tin lên trang cá nhân, quản lý của T.T đã liên hệ xin lỗi và chịu chi phí thuê luật sư nên quản lý của ca sĩ Đ.T rút đơn khởi kiện.

Sau đó, chiều 30-10, đơn vị quản lý kênh YouTube của ca sĩ B.C – cũng đã liên hệ phía công ty của ca sĩ Đ.T để xin lỗi và chịu trả phần chi phí thuê luật sư nên cũng rút đơn khởi kiện.

Riêng trường hợp của D.E, ông bầu H.T cho biết sẽ kiện đến cùng với lý do nhiều lần liên hệ mà không có phản hồi.

2. Vấn đề pháp lý đặt ra

2.1. Ca sĩ Đ.T có quyền đối với 3 tác phẩm này không?

Thời kỳ thập niên 90s, 00s nhạc Hoa lời Việt như là 1 cơn sốt càn quét khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam tại nước ta. Có thể nói, mọi đầu báo, truyền thông, Radio và thói quen nghe nhạc của người dân lúc bấy giờ luôn ưu tiên các bản nhạc Hoa lời Việt. Hòa cùng với xu hướng đó, không thể không kể đến ca sĩ Đ.T với những tác phẩm Mưa trên cuộc tình, Tình đơn phương, Cuộc tình trong cơn mưa đã làm xao xuyến biết bao thế hệ. Một hai năm trở lại đây, sức hút của các bản nhạc Hoa lời Việt như được bùng nổ trở lại với sự thể hiện của nhiều ca sĩ trẻ, kéo theo đó là sức hút của các bản nhạc xưa. Nhưng thật không may, song song với sự trở lại đầy mạnh mẽ này lại xảy ra nhiều vấn đề liên quan đến bản quyền âm nhạc. Vậy, trước hết ca sĩ Đ.T có quyền đối với 3 tác phẩm này không?

Về phần nhạc, cả ba tác phẩm này đều có nguồn gốc là nhạc Hoa. Còn về phần lời, cả ba tác phẩm đều được phổ cập thành lời Việt. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, cả ba tác phẩm này đều là tác phẩm phái sinh (khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ) và thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Về cơ bản, một tác phẩm không cần phải đăng ký quyền tác giả mới được pháp luật bảo vệ mà quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

  • Trường hợp ca sĩ Đ.T chứng minh những tác phẩm này đã được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu để làm tác phẩm phái sinh và chứng minh được là tác giả hoặc chủ sở hữu của ba tác phẩm phái sinh trên thì ca sĩ Đ.T có quyền đối với 3 tác phẩm. Và một trong những căn cứ thuyết phục nhất để chứng minh quyền của mình là Giấy chứng nhận quyền tác giả, nếu không có Giấy chứng nhận đăng ký thì ca sĩ Đ.T sẽ phải chứng minh mình là tác giả hoặc là chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm bằng rất nhiều tài liệu, chứng cứ thể hiện rõ thời điểm hoàn thành tác phẩm và độ tin cậy của các tài liệu, chứng cứ này trước cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
  • Trường hợp ca sĩ Đ.T không chứng minh được những tác phẩm trên được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu để làm tác phẩm phái sinh và chứng minh được là tác giả hoặc chủ sở hữu của ba tác phẩm phái sinh trên thì sẽ không có quyền đối với ba bài hát này và không có cơ sở để kiện ba ca sĩ trên.

2.2. Ca sĩ T.T, D.E và B.C có quyền hát ba tác phẩm trên không?

Theo như tìm hiểu, cuối năm 2022, quản lý của ca sĩ Đ.T đã đồng ý cho ba ca sĩ trên đăng tải bản thu âm ba bài hát Mưa trên cuộc tình, Tình đơn phương và Cuộc tình trong cơn mưa nhưng không đồng ý việc sử dụng nhằm mục đích biểu diễn. Tuy nhiên, điểm a khoản 1 Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

“a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”

Như vậy, theo Luật Sở hữu trí tuệ, ba ca sĩ trên có quyền hát các ca khúc này mà không cần phải xin phép, tuy nhiên phải trả phí bản quyền cho tác giả hoặc chủ sở hữu bài hát kể từ khi sử dụng, và mức tiền sẽ được quyết định theo thỏa thuận hai bên, trường hợp không đạt được thỏa thuận thì sẽ căn cứ theo khoản 3 Điều 34 Nghị định 17/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan:

“3. Tỷ lệ phân chia tiền bản quyền trong trường hợp bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ thực hiện theo thoả thuận của chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình đó. Trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện phân chia theo tỷ lệ như sau: Chủ sở hữu quyền tác giả hưởng 50%, người biểu diễn hưởng 25%, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình hưởng 25% trên tổng số tiền bản quyền thu được”.

2.3. Việc ca sĩ Đ.T và công ty chủ quản yêu cầu YouTube gỡ các video của D.E có sử dụng ba bài hát trên là đúng hay sai?

Sau khi nhận được lời xin lỗi từ ca sĩ T.T và B.C, phía công ty chủ quản của ca sĩ Đ.T đã có thái độ tích hơn và thu hồi đơn khởi kiện. Tuy nhiên, điều này lại không được áp dụng với phía ca sĩ D.E. Vì vậy, ông bầu H.T có một câu nói đanh thép “quyết kiện đến cùng” và yêu cầu ca sĩ D.E gỡ bỏ các video sử dụng bài hát trên YouTube.

Theo như tìm hiểu, để có thể sử dụng ba bài hát Mưa trên cuộc tình, Tình đơn phương, Cuộc tình trong cơn mưa, công ty chủ quản của ca sĩ Đ.T và ca sĩ D.E phải có Hợp đồng dịch vụ riêng, theo đó phải quy định cụ thể các điều khoản liên quan đến sử dụng ba bài hát trên. Tuy nhiên, phía ca sĩ D.E vẫn “ngang nhiên” sử dụng và biểu diễn tại các liveshow ca nhạc, đăng tải lên YouTube đã chạm vào “vảy ngược” của đại diện công ty chủ quản của ca sĩ Đ.T, khiến ông bầu H.T yêu cầu YouTube gỡ bỏ video có sử dụng ba bài hát trên. Liệu điều này có đang xâm phạm quyền theo thỏa thuận Hợp đồng của hai bên?

Mặc dù, có thể trong trường hợp này, phía ca sĩ D.E đã có vi phạm, nhưng chưa chắc hành vi yêu cầu YouTube gỡ bỏ bài hát của ông bầu H.T đã đúng vì nếu đã vi phạm thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật và ông bầu H.T cũng như công ty chủ quản của ca sĩ Đ.T chỉ có thể yêu cầu gỡ bỏ nếu điều này được đề cập trong Hợp đồng giữa hai bên. Như vậy, cần nhấn mạnh một điều là các bên khi đã tham gia quan hệ Hợp đồng thì cần phải có sự tôn trọng và tuân thủ các quy định mà mình đã thỏa thuận.

3. Kết luận

Vụ việc trên chưa biết ai đúng ai sai, nhưng có thể thấy là quyền tác giả (hay bản quyền) đang ngày càng được tôn trọng và được pháp luật quy định rất cụ thể để bảo vệ quyền và lợi ích của tác giả và chủ sở hữu. Tuy nhiên, đây là một trong những vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi nghệ sĩ và công ty chủ quản có đủ kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, hạn chế xảy ra những vụ việc như trên.

Trên đây là bài viết: “Phân tích vụ việc quản lý ca sĩ Đ.T kiện 3 ca sĩ Việt”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế

Ngày 26/10/2004, Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Sau nhiều lần sửa đổi, Công ước Berne đang đáp ứng được những yêu cầu bảo hộ Quyền tác giả trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Vì vậy, là thành viên của Công ước Berne, Việt Nam đã từng bước nghiên cứu và ban hành các quy định về Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu mà Công ước này đặt ra cho các Quốc gia thành viên, trong đó phải kể đến hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế.

1. Bảo hộ quyền tác giả là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “bảo hộ” có nghĩa là sự che chở và không dễ bị tổn thất. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả chính là sự đảm bảo của Nhà nước đối với các tác phẩm để các tác phẩm đó không bị xâm phạm hay tổn thất bởi người khác. Thông qua các quy định của pháp luật để xác định các quyền của các chủ thể đối với tác phẩm, xác định hành vi bị coi là xâm phạm cũng như thiết lập các phương thức bảo vệ quyền của tác giả, Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo hộ của mình một cách thuyết phục nhất. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lần đầu được quy định trong Phần thứ V của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Bảo hộ quyền tác giả theo công ước Berne Là tuân thủ các quy định về bảo hộ quyền tác giả theo như :

  • Về đối tượng: căn cứ điều 2 công ước Berne như sau:
    • 1. Tác phẩm văn học và nghệ thuật; 
    • 2. Khả năng yêu cầu sự định hình;
    • 3. Tác phẩm phái sinh; 
    • 4. Văn bản chính thức;
    • 5. Sưu tập;
    • 6. Nghĩa vụ bảo hộ, chủ thể hưởng sự bảo hộ; 
    • 7. Tác phẩm mĩ thuật ứng dụng và kiểu dáng công nghiệp;
    • 8. Tin tức
  • Hình thức của tác phẩm được bảo hộ: phải được thể hiện dưới dạng vật chất.
  • Thời hạn bảo hộ.
  • Ngoài ra, liên quan đến quyền bảo hộ còn phải tuân thủ các nguyên tắc như:
    • (1) Nguyên tắc đối xử quốc gia;
    • (2) Bảo hộ đương nhiên;
    • (3) Bảo hộ độc lập.

2. Quyền tác giả có hiệu lực quốc tế không?

Một tác phẩm sáng tạo được coi là được bảo hộ quyền tác giả ngay khi được tạo ra. Theo hai công ước quốc tế về quyền tác giả (đặc biệt là Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật), các tác phẩm văn học và nghệ thuật được bảo hộ mà không cần tiến hành thủ tục bất kỳ tại nước thành viên của các công ước này (151 quốc gia tính đến tháng 8 năm 2003 – danh sách các quốc gia thành viên ở Phụ lục VII). Quy định này cũng được áp dụng đối với tất cả thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới.

Quyền tác giả được quy định khá rông trong công ước Berne. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 3 và Điều 5 Công ước Berne quy định về quy tắc bảo hộ quyền tác giả quốc tế khá chi tiết như sau:

  • Về quy mô: tác phẩm được bảo hộ có thể là của công dân của một nước là thành viên của Công ước Berne hoặc không phải nhưng là công dân của một trong những nước là thành viên của Liên hiệp mà công bố lần đầu tiên ở một trong những nước thành viên của Liên hiệp, có nơi cư trú thường xuyên ở một trong những nước trên vẫn được tự động bảo hộ kể cả đã đăng kí văn bằng bảo hộ hay chưa.
  • Về pháp luật điều chỉnh: ngoài công ước này, việc bảo hộ quyền tác giả còn được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia gốc. Điều 5 quy định về quốc gia gốc như sau:

“a) Quốc gia thành viên Liên hiệp, nơi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Tuy nhiên, nếu là tác phẩm được công bố đồng thời ở nhiều nước thành viên Liên hiệp có thời hạn bảo hộ khác nhau thì Quốc gia gốc của tác phẩm là Quốc gia có thời hạn bảo hộ ngắn nhất”.

Vì vậy, không có thủ tục đăng ký quốc tế để bảo hộ quyền tác giả như sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Trong khi không có thủ tục quốc tế nào về đăng ký bảo hộ quyền tác giả ở nước ngoài và tác phẩm của bạn sẽ tự động được bảo hộ mà không cần đăng ký ở tất cả các quốc gia thành viên của Công ước Berne.

Mặc dù vẫn còn một vài điểm khác biệt nhưng Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đều quy định bảo hộ các tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ. Ngoài ra, công ước Berne và Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đều quy định về việc bảo hộ đương nhiên, cụ thể là một tác phẩm được tạo ra bởi trí tuệ sẽ được tự động bảo hộ kể cả công bố, đăng kí văn bằng bảo hộ hay chưa.

Trên đây là bài viết: “Hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn”.

Không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không?

Đối với tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm, việc đăng ký quyền tác giả sẽ là sự ghi nhận công sức, sự sáng tạo của họ, là lá bùa hộ mệnh để chứng minh nếu như có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, thực tế, vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh việc đăng ký quyền tác giả. Và, liệu không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không? Hãy cùng theo dõi bài viết của chúng tôi dưới đây.

1. Đăng ký bản quyền tác giả là gì?

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, phần mềm máy tính… Khi một tác phẩm được sáng tạo thì tác giả, hay chủ sở hữu tác phẩm sẽ có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm đó.

Đăng ký quyền tác giả là việc mà tác giả, chủ sở hữu làm thủ tục đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm mục đích xác lập, tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm thông qua Giấy chứng nhận. Đây như là một sự công nhận có căn cứ theo pháp luật cho sự sáng tạo; công sức của tác giả với đứa con tinh thần của họ. Hiện nay, việc đăng ký bản quyền tác giả không phải là bắt buộc nhưng chỉ những chủ thể có đủ điều kiện sau mới có quyền đăng ký quyền tác giả:

  • Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra sản phẩm, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam như trên.
  • Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm có thể là cá nhân, pháp nhân trong nước hoặc cá nhân, pháp nhân nước ngoài đều có quyền nộp đơn đăng ký bản quyền tác giả  cho tác phẩm của mình tại Cục Bản quyền tác giả.

Khi tiến hành nộp đơn đăng ký cá nhân, pháp nhân trong nước có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức đại diện quyền tác giả thay mặt mình nộp đơn đăng ký tới cơ quan đăng ký. Đối với cá nhân, pháp nhân nước ngoài muốn đăng ký bản quyền tác giả  tại Việt Nam sẽ ủy quyền cho tổ chức đại diện quyền tác giả nộp đơn đăng ký cho tác phẩm tại Việt Nam.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”. Theo đó, quyền tác giả được bảo hộ khi thỏa mãn 02 điều kiện:

  •  Có tính định hình (fixation): thể hiện dưới dạng vật chất nhất định;
  • Có tính nguyên gốc (originalilty): được hiểu là do chính tác giả sáng tạo ra tác phẩm, và tác phẩm này phải là kết quả của sự sáng tạo nguyên bản đầu tiên.

Vì vậy, ngay sau khi hoàn thành tác phẩm và mặc dù chưa tiến hành thủ tục đăng ký bản quyền, quyền tác giả vẫn sẽ phát sinh từ thời điểm đó. Khi có tranh chấp xảy ra, bên cạnh căn cứ theo Giấy chứng nhận bản quyền tác giả, Cơ quan Nhà nước sẽ căn cứ theo thời điểm mà tác phẩm đó được sáng tạo và định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

3. Tác dụng của việc đăng ký quyền tác giả

Mặc dù đăng ký bản quyền không phải là bắt buộc. Tuy nhiên nếu tác giả chủ sở hữu tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả với Cục bản quyền tác giả sẽ mang lại rất nhiều thuận lợi. Sau khi làm thủ tục đăng ký quyền tác giả thì tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm được cấp Giấy chứng nhận bản quyền tác giả. Đây là sự chứng nhận cho sự sáng tạo của tác giả các phần thưởng xứng đáng, động viên tinh thần làm việc cho người sáng tạo. Đặc biệt, việc đăng ký sẽ là cơ sở xác nhận thời điểm phát sinh quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm.

Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả nhằm đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng tác phẩm đó.

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là bằng chứng tốt nhất chứng minh quyền sở hữu của tác giả đối với tác phẩm. Bởi vì, trong thực tế việc chứng minh quyền sở hữu tác phẩm khi chưa được đăng ký bảo hộ là rất khó khăn.

Nếu tác giả phát hiện có người sử dụng trái phép tác phẩm của mình, tác giả có thể yêu cầu người sử dụng đó ngừng sử dụng và có thể đòi bồi thường thiệt hại. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tác giả đã đăng ký bản quyền tác giả.

Giấy chứng nhận bản quyền tác giả là một loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tác phẩm, được sử dụng khi định giá tài sản của công ty trong trường hợp cổ phần hóa, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Trên đây là bài viết “Không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không?”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế

Việc đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm đã và đang trở thành một thủ tục tất yếu khi vấn đề xâm phạm bản quyền, sử dụng mà không xin phép sự đồng ý của tác giả diễn ra ngày một phổ biến. Tuy nhiên, thực tế việc đăng ký quyền tác giả là một thủ tục phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, dẫn đến thực trạng nhiều tác giả hay các chủ thể khác đăng ký thường sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Vì vậy, bài viết này sẽ tập trung khai thác về đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế

1. Thủ tục đăng ký quyền tác giả

Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Theo đó, quyền tác giả được bảo hộ khi thỏa mãn 02 điều kiện: (1) có tính định hình, được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định; (2) có tính nguyên gốc, tác phẩm đó phải được sáng tác lần đầu tiên và được chính tác giả đó sáng tác.

Hiện nay, việc đăng ký quyền tác giả sẽ dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022); Nghị định 17/2023/NĐ – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan; Thông tư 08/2023 quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.

  • Xác định thể loại tác phẩm đăng ký

Trước khi chuẩn bị hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả, chủ sở hữu, tác giả thực hiện phải xác định thể loại tác phẩm dự định đăng ký thuộc trường hợp tác phẩm nào theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

  • Chuẩn bị, soạn thảo hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả

Sau khi xác định được loại hình tác phẩm dự định đăng ký bàn quyền, chủ sở hữu, tác giả tác phẩm tiến hành soạn thảo hồ sơ đăng ký bản quyền theo quy định pháp luật.

Về cơ bản, khi đăng ký bản quyền tác giả, tác giả cần chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu (bằng tiếng Việt) như sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu tương ứng tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan).
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả. Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh bản sao tác phẩm đăng ký được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều.
  • Trường hợp tác giả, chủ sở hữu ủy quyền cho tổ chức khác thì phải có thêm giấy ủy quyền, còn nếu ủy quyền cho cá nhân khác thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung;
  • Chứng minh nhân dân công chứng của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).
  • Nộp hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả

Có ba con đường để nộp hồ sơ đăng ký bản quyền: (1) nộp trực tiếp tại Cục Bản quyền; (2) nộp qua đường bưu điện; (3) nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công trực tuyến.

2. Một số khó khăn thực tế khi đăng ký quyền tác giả

Tuy việc đăng ký quyền tác giả đã và đang trở phổ biến nhưng trên thực tế, việc đăng ký này vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn:

Thứ nhất, thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký chậm hơn so với quy định. Theo quy định của pháp luật, thời gian để Cục Bản quyền xử lý, tra soát tính hợp lệ của hồ sơ là 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ. Trường hợp hồ sơ hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 15 ngày làm việc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Tuy nhiên một thực trạng chung các hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm, đơn giản như tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm viết, tác phẩm nhiếp ảnh … thì thời gian thực hiện trên thực tế thường cũng phải kéo dài đến hơn một tháng, hoặc thậm chí là hơn hai tháng. Điều này có lẽ một phần cũng xuất phát từ việc lượng hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả ngày càng tăng qua các năm dẫn đến quá tải.

Thứ hai, tên và nội dung của tác phẩm đăng ký bảo hộ với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng cần lưu ý loại bỏ từ “biểu ngữ” hay “slogan” ra khỏi tên tác phẩm. Trong khoảng 2-3 năm trở lại ây Cục bản quyền thường không được chấp thuận các tác phẩm đăng ký chứa các cụm từ trên với lý do, việc bảo hộ quyền tác giả không bảo hộ “slogan”.

Thứ ba, hệ thống tra cứu các hồ sơ đã đăng ký bản quyền còn sơ khai. Hiện tại, các tác phẩm đã được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả chỉ có thể tra cứu được trên một kênh duy nhất là tại mục tra cứu niên giám trên website của cục bản quyền. So với các kênh tra cứu về sở hữu công nghiệp thì tra cứu này còn quá thô sơ và lượng thông tin được cập nhật vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tra cứu của khách hàng.

Bên cạnh đó, vẫn còn một vài khó khăn còn tồn tại như:

  • Quá trình chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và giấy tờ liên quan rất khó để tự tìm hiểu và chuẩn bị. Hồ sơ tiến hành đăng ký có thể không hợp lệ, thiếu, thậm chí là sai gây nên mất thời gian cho quá trình giải quyết sau này;
  • Các trường hợp ở xa không thuận tiện đi lại, nộp phí đăng ký qua hình thức chuyển khoản sau đó nộp hồ sơ qua đường bưu điện đến cơ quan có thẩm quyền. Đây là quá trình gây ra nhiều vấn đề phát sinh nhất mà chủ thể tiến hành cần giải quyết vì sẽ không nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ phía cơ quan chức năng;
  • Nộp hồ sơ xong cần theo dõi tình trạng của hồ sơ đăng ký để kịp thời trả lời bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có vấn đề phát sinh.
  • Khó khăn để tiến hành hoàn thiện và bổ sung hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật.

Việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan có nhiều lợi ích là vậy, thêm vào đó hướng dẫn về thủ tục và hồ sơ đăng ký quyền tác giả quyền liên quan cũng được cục bản quyền đăng tải rất chi tiết trên website của cục bản quyền đã tạo rất nhiều thuận lợi cho người dân trong quá trình xác lập quyền tác giả. Quy định về việc đăng ký quyền tác giả giấy trắng mực đen đơn giản là thế nhưng đến khi đăng ký quyền tác giả trên thực tế mới thấy những bất cập và khó khăn. Vì vậy, để tránh mất nhiều thời gian, tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm nên tìm đến các tổ chức dịch vụ, tư vấn có kinh nghiệm để được hỗ trợ và xử lý kịp thời.

Trên đây là bài viết: “Đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế”. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các bạn.