Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Mua bản quyền âm nhạc ở đâu?

Hiện nay, ngày càng xảy ra nhiều tranh chấp liên quan đến bản quyền bài hát. Điều này cho thấy các tác giả bài hát đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của mình. Bên cạnh đó, việc nhiều nền tảng mạng xã hội phát triển cùng với sự phát triển của các công cụ phát hiện và đánh vi phạm bản quyền âm nhạc đã làm cho các tổ chức, cá nhân ý thức hơn về bản quyền tác giả khi sử dụng bài hát của người khác. Vậy Mua bản quyền âm nhạc ở đâu?. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Bản quyền âm nhạc là gì

Bản quyền (hay quyền tác giả) là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng để mô tả quyền mà tác giả có đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ.

Âm nhạc(bài hát) hay còn gọi là tác phẩm âm nhạc. Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc được hiểu là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Do đó, bản quyền âm nhạc hay còn gọi là bản quyền bài hát được hiểu là quyền của tác giả đối với tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn kể từ thời điểm mà tác giả tạo ra tác phẩm.

Một bài hát khi được giới thiệu đến công chúng, thì bài hát đó là kết quả sáng tạo của Nhạc sỹ (người sáng tác tác phẩm âm nhạc), Người biểu diễn, trình bày tác phẩm (ca sĩ, nhạc công,…) và của Nhà sản xuất âm nhạc (ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn). Theo đó, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bảo hộ Quyền tác giả cho tổ chức, cá nhân sáng tạo ra hoặc sở hữu tác phẩm âm nhạc và Bảo hộ Quyền liên quan đến quyền tác giả cho tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình.

2. Vai trò của bản quyền bài hát

  1. Bảo vệ ý tưởng của người sáng tác

Vai trò lớn nhất của bản quyền bài hát đó là bảo vệ những ý tưởng, những chất xám mà người sáng tác bài hát dày công nghĩ ra. Đó là sức lao động của một con người, mang giá trị tinh thần nhất định. Vì thế, không thể để người khác tự ý sử dụng những thành quả lao động đó mà không tốn chút công sức nào. Khi có bản quyền bài hát, những hiện tượng trên mạng không thể lợi dụng điều đó để làm nổi bật bản thân hoặc có những hành vi thiếu tôn trọng tác giả khác.

  • Tránh tác giả bị mạo danh

Người sáng tác có thể bị mạo danh để tạo nên những bản nhạc không phù hợp khác. Hoặc kẻ xấu có thể đánh cắp rồi giả danh nhạc sĩ để bán bài hát hoặc lừa đảo các ca sĩ khác. Khi có bản quyền bài hát thì bạn coi như có một tờ giấy chứng minh thân phận hoặc đích danh mình là người sáng tác trong bản quyền này, xác minh được việc bạn là nhạc sĩ sáng tác bài này.

  • Tránh bài hát bị đạo nhạc

Thị trường âm nhạc hiện nay có phần hỗn loạn bởi nhiều phong cách âm nhạc giống nhau. Nhiều nhạc sĩ không chịu sáng tạo mà đi ăn cắp, đạo nhái theo giai điệu hoặc lời bài hát của người khác. Chính vì vậy, các tác giả luôn chuẩn bị bản quyền bài hát để sẵn sàng kiện nếu có người đạo nhạc của mình.

  • Bảo vệ bài hát không bị biến chất

Ngoài ra, thị trường âm nhạc không chỉ bao gồm các bài hát chính thống mà còn nhạc chế, nhạc hài, nhạc biến tấu,… Vì vậy, nhạc sĩ cũng cần xem xét cho phép những ai có thể chế nhạc của mình sao cho hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Còn nếu họ tự ý hoặc cố tình chế nhạc khi chưa được cho phép sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật.

Mua bản quyền âm nhạc ở đâu?

3. Mua bản quyền bài hát ở đâu

Để mua bản quyền bài hát, bạn cần liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc chủ sở hữu của bài hát. Đây là các chủ thể có quyền định đoạt, sử dụng đối với tác phẩm của họ. Tuy nhiên, để xin phép và trả tiền bản quyền tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, chi phí. Khi mà các chủ sở hữu thường có tâm huyết lớn đối với tài sản tinh thần của họ.

Trong trường hợp tác phẩm âm nhạc có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm âm nhạc có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả có quyền chuyển nhượng quyền tác giả đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Ngoài ra, trường hợp bạn có quan hệ với nhiều tác giả thì việc liên hệ rất dễ dàng. Hoặc các bên thấy được năng lực, hiệu quả hợp tác để cùng tìm kiếm lợi ích, tăng giá trị cho tác phẩm. Tuy nhiên trường hợp bạn không có mối quan hệ với các tác giả thì việc liên hệ mất khá nhiều thời gian.

Các tổ chức, cá nhân muốn sử dụng tác phẩm âm nhạc phải tiến hành xin phép và trả tiền bản quyền tác giả âm nhạc phải chủ động liên hệ trực tiếp làm việc với tác giả bài hát trong nhiều trường hợp sẽ gặp khó khăn. Để được thực hiện nhanh chóng, thuận tiên và chính xác thì các cá nhân, tổ chức có thể thông qua một đầu mối quản lý tập thể quyền.

Hiện nay, các tác giả bài hát có xu hướng ủy quyền cho các tổ chức thực hiện quản lý tập thể đối với các Quyền tác giả, VCD là một tổ chức như vậy, VCD đại diện cho họ làm việc với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng hoặc mua bản quyền bài hát. Vì vậy, bạn có thể liên hệ làm việc trực tiếp với VCD về vấn đề mua bản quyền bài hát nếu tác giả bài hát đã ủy quyền cho VCD.

Mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Âm nhạc hiện nay là một trong những phương tiện giải trí, giúp cho con người giải tỏa căng thẳng, lo lắng, nó cũng là một cách giúp con người phát triển cảm xúc và học hỏi được nhiều điều qua những giai điệu, lời bài hát. Đây là loại hình tác phẩm rất dễ bị sao chép, sử dụng trái pháp luật. Theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, tác phẩm âm nhạc là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Vậy mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc cần lưu ý những vấn đề gì mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Tác phẩm âm nhạc là gì

Tác phẩm âm nhạc là một tác phẩm được tạo ra và thể hiện qua âm nhạc. Đây là một loại tác phẩm nghệ thuật, do nhạc sĩ hoặc nhóm nhạc sĩ sáng tác và trình diễn. Tác phẩm âm nhạc có thể được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc, hoặc truyền đạt qua các ký tự âm nhạc khác (ví dụ: hợp âm, tab guitar). Ngoài ra, tác phẩm âm nhạc cũng có thể được ghi lại và phát hành dưới dạng bản ghi âm, cho phép người nghe tận hưởng và trải nghiệm âm nhạc qua các phương tiện truyền thông.

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở Hữu trí tuệ 2005 thì tác phẩm âm nhạc là một trong các loại hình tác phẩm nghệ thuật được bảo hộ quyền tác giả.

Dẫn chiếu đến khoản 4 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP thì “Tác phẩm âm nhạc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.”

Tác phẩm âm nhạc được bảo hộ quyền tác giả kể từ thời điểm tác phẩm được tạo ra dưới hình thức có thể ghi nhận được ở dạng vật chất, hình thức ghi nhân có thể là trên giấy, đánh máy hoặc một hình thức ghi nhận khác, Như vậy, khi nhạc sĩ chỉ mới suy nghĩ lời nhạc ở trong đầu mà chưa thể hiện ở hình thức vật chất, thì bài nhạc chưa được quyền tác giả bảo hộ.

2. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Để đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc, tác giả cần chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu như sau:

Tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (theo mẫu số 04 tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan):

–  Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ ký tên. Tờ khai cần ghi đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan. Tờ khai cần có tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn.

– Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả:

– 01 bản lưu tại Cục Bản quyền tác giả và 01 bản đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký gửi trả lại cho chủ thể được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.

Đối với tác phẩm âm nhạc: 02 bản in phần nhạc + lời hoặc bản ghi âm (thu âm) trong trường hợp đã ghi âm.

– Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng ủy quyền, trường hợp bên ủy quyền là cá nhân thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.

– Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;

– Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;

– Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.

– Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;

– Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).

Tất cả các tài liệu nộp kèm đơn đăng ký quyền tác giả phải được làm bằng tiếng Việt, trường hợp làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và có công chứng hoặc chứng thực.

Mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

3. Lưu ý khi  điền Tờ khai Đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Tại mục (1) Trường hợp Tờ khai đăng ký quyền tác giả cho cá nhân, ký nháy từng trang Tờ khai; trường hợp Tờ khai đăng ký quyền tác giả cho tổ chức, đóng dấu giáp lai Tờ khai.

Tại mục (2) Phát hành bản sao để phổ biến tới công chúng như xuất bản, ghi âm, ghi hình, in ấn, đăng tải lên mạng viễn thông, mạng Internet và các hình thức khác.

Tại mục (3) Cam đoan: Nội dung tác phẩm do tác giả/đồng tác giả sáng tạo, không sao chép từ tác phẩm của người khác, không vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam.

Đối với những tác phẩm chứa nội dung liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốc gia, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, thuần phong mỹ tục, sức khỏe, danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, thì phải cam đoan: không có nội dung, hình ảnh vi phạm, không xuyên tạc, không gây ảnh hưởng tới các vấn đề này.

Tại mục (4)

4.1. Khai đầy đủ các đồng tác giả (nếu có) và nêu rõ vai trò của từng đồng tác giả trong sáng tạo tác phẩm;

4.2. Trường hợp tác giả đã chết, ghi rõ năm tác giả chết tại mục này.

Tại mục (5), mục (7) Khai đầy đủ các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, nếu có.

Tại mục (6) Khai đầy đủ các đồng tác giả, nếu có.

Tại mục (8) Trường hợp đăng ký cho tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì tác giả là người ký tên trên Tờ khai.

Trường hợp đăng ký cho chủ sở hữu quyền tác giả thì chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu quyền tác giả là người ký tên và đóng dấu (trong trường hợp là tổ chức) trên Tờ khai.

Trường hợp tác phẩm có đồng tác giả/đồng chủ sở hữu quyền tác giả thì phải có chữ ký của tất cả các đồng tác giả/đồng chủ sở hữu quyền tác giả. Tờ khai có thể do một trong số các đồng tác giả/đồng chủ sở hữu quyền tác giả ký tên nếu có văn bản ủy quyền của các đồng tác giả/đồng chủ sở hữu quyền tác giả còn lại theo quy định của pháp luật.

Bài hát dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ không?

Hiện nay sự giao lưu âm nhạc giữa các quốc gia đã trở nên dễ dàng hơn nhờ có sự giúp đỡ của internet. Bài hát là một loại hình tác phẩm nghệ thuật có thể được thể hiện dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau. Vậy nếu bản gốc bài hát được bảo hộ quyền tác giả liệu bản dịch bài hát bằng ngôn ngữ khác có được bảo hộ quyền tác giả hay không?. Hãy theo dõi bài viết “Bài hát dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ không?”của VCD dưới đây.

1. Bản dịch bài hát là gì

Bản dịch là sản phẩm của việc chuyển đổi ngôn ngữ từ ngôn ngữ nguồn đến ngôn ngữ đích cần dịch thuật. Quá trình chuyển đổi ngôn ngữ này được gọi là biên dịch (hay còn gọi là dịch giấy). Bản dịch sẽ được chia ra làm hai loại chính đó là Bản dịch nội dung và Bản dịch công chứng.

Bài hát (các từ đồng nghĩa trong tiếng Việt: bài ca, ca khúc hay khúc ca) là một sáng tác âm nhạc được trình bày bởi giọng người. Điều này thường được thực hiện ở các cao độ (giai điệu) riêng biệt và cố định bằng cách sử dụng các mẫu âm thanh và khoảng lặng.

Tác phẩm âm nhạc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Theo đó, bản dịch bài hát là bản được dịch ra một ngôn ngữ khác dựa trên ngôn ngữ gốc của bài hát. Theo đó bản dịch bài hát được coi là một loại tác phẩm phái sinh. Khi khán giả thưởng thức tác phẩm phái sinh sẽ liên tưởng đến tác phẩm gốc bởi tác phẩm phái sinh thừa hưởng những nền tảng nhất định của tác phẩm gốc như nội dung, giai điệu,… Qua đó, có thể hiểu rằng bản dịch bài hát trên được coi là một tác phẩm dịch.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả đối với bài hát

Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không bắt buộc phải đăng ký hay công bố (theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ).

Tuy nhiên, để tránh khỏi những tranh chấp và chứng minh bài hát thuộc quyền sở hữu của mình thì tác giả, chủ sở hữu nên thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho bài hát. Nếu không đăng ký, việc chứng minh này rất khó khăn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của tác giả, chủ sở hữu với bài hát.

Đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với bài hát đồng nghĩa với việc sản phẩm của bạn sẽ được pháp luật bảo hộ và được bảo đảm sản phẩm của bạn sẽ không bị sử dụng trái phép như: sao chép, lạm dụng… Đăng ký bản quyền tác giả là cách tốt nhất để chứng nhận cho sự sáng tạo của con người, là phần thưởng xứng đáng nhất cho người sáng tạo.

Bài hát dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ không

3. Bài hát dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ không

Để được bảo hộ bản quyền bài hát dịch từ tiếng nước ngoài cần phải đáp ứng ba điều kiện sau:

Thứ nhất, tác phẩm phái sinh được gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ). Theo đó, bản dịch bài hát sẽ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền nhân thân và quyền tài sản của tác phẩm gốc.

Thứ hai, làm tác phẩm dịch phải xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tại Khoản 7 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định rằng nếu làm tác phẩm phái sinh mà không xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì đây là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Trừ trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị theo Điểm i Khoản 1 Điều 25 của Luật này.

Thứ ba, tác phẩm phái sinh phải mang dấu ấn riêng của tác giả. Do tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc nhưng có sự mới mẻ trong lối hành văn, cách truyền đạt…Những điều này tạo nét riêng cho tác phẩm phái sinh và thể hiện sự đặc trưng, dấu ấn của tác giả với công chúng.

Việc đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm dịch dù không bắt buộc nhưng rất quan trọng, vì việc này sẽ giúp cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ngăn chặn được các hành vi xâm phạm quyền tác giả và là chứng cứ để chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp phát sinh liên quan đến quyền tác giả.

Như vậy, bản dịch bài hát ra ngôn ngữ khác muốn được bảo hộ thì phải xin phép và được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác của bài hát gốc.

Trên đây là bài viết “Bài hát dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ không?” của VCD hy cọng sẽ giúp ích cho bạn.

Cover bài hát có cần phải xin phép không?

Trào lưu hát cover (hát lại một bài hát dưới nhiều hình thức) đang ngày càng phổ biến trong showbiz Việt. Nó có thể đưa một giọng ca vô danh trở thành “thánh nữ”, “nam thần” cover trên YouTube nhưng cũng có thể quay lại vùi dập tên tuổi, tố cáo cái tầm và tài năng của ca sĩ. Thực tế, cover lại các bài hát đang nổi hoặc đã nổi tiếng không phải là việc làm xấu, ẩn sau những bản cover đủ phong cách, xuất hiện liên tục trên các trang mạng là những câu chuyện buồn, bộc lộ nhiều mặt hạn chế mà không phải ai cũng có thể nhận thấy. Vậy câu hỏi đặt ra là Cover bài hát có cần phải xin phép không? Hãy theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Cover bài hát là gì?

Cover bài hát là một thuật ngữ được dùng để nói về một sản phẩm âm nhạc, bài hát được làm lại hoặc hát lại từ một ca khúc đã hát và thu âm trước đó. Đã có rất nhiều người với khả năng ca hát của mình cover những bản nhạc nổi tiếng của các sĩ khác và nhận được sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng mạng cũng như fan yêu âm nhạc.

Cover một bài hát được hiểu là việc hát lại một ca khúc đã có sẵn trước đó mà ca khúc đó được phát hành thương mại hoặc một ca khúc nổi tiếng.

Cover lại một bài hát có nghĩa là người cover sẽ sử dụng bản beat của bài hát gốc và hát lại trên nền nhạc đó. Hoặc với người cover, họ có thể thêm tài đánh đàn, piano biến tấu lại bài hát theo chất riêng của mình.

2. Cover bài hát có cần xin phép không?

Cover bài hát được xem là tác phẩm phái sinh của tác phẩm gốc hoặc biểu diễn trước công chúng.

Tác phẩm âm nhạc là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ .

Theo điểm b khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và khoản 1 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định quyền tài sản của quyền tác giả thì: Hành vi cover bài hát của người khác khi chưa xin phép là hành vi xâm phạm quyền tác giả về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng.

Theo khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ  có thể kết luận rằng, việc cover bài hát của người khác nếu không xin phép là hành vi xâm phạm quyền tác giả về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng. Việc cover bài hát của người khác phải thực hiện xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Tuy nhiên, việc cover bài hát của người khác nếu thuộc các trường hợp sau thì không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút hoặc không cần phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút:

–  Các trường hợp không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút theo khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ :

+ Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân.

+ Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình.

+ Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu.

+ Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại.

+ Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.

+ Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.

+ Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy.

+ Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó.

+ Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị.

+ Nhập khẩu bản sao tác phẩm để người khác sử dụng riêng.

– Các trường hợp không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút theo khoản 1 Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ:

+ Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng.

+ Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ

Từ các quy định trên, khi cover bài hát của người khác để đăng lên các nền tảng mạng xã hội nói chung thì cần phải thực hiện việc xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Cover bài hát có cần phải xin phép không?

3. Mức phạt đối với hành vi cover bài hát mà chưa xin phép

Đối với hành vi cover bài hát mà chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả thì có thể bị xử phạt như sau theo khoản 2 Điều 2, Điều 13 Nghị định 131/2013/NĐ-CP:

– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn trực tiếp tác phẩm trước công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn tác phẩm thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình vi phạm.

Trên đây là mức phạt hành chính đối với cá nhân, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì bị phạt gấp đôi cá nhân.

Như vậy, hành vi cover bài hát mà không xin phép, trả tiền có thể bị phạt hành chính lên đến 30 triệu đồng. Tuy nhiên, thực tế, với một bài hát hot được cover trên youtube thu nhập có thể lớn hơn con số này. Ngoài ra, việc khởi kiện hoặc yêu cầu xử lý vi phạm quyền tác giả tại Việt Nam còn chưa đủ sức răn đe do vậy VCD khuyên các chủ sở hữu tác phẩm nên chú ý hơn đối với việc bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách đăng ký bản quyền tác giả để có cơ sở làm bằng chứng trước toà.

Xử lý vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc

Cùng với sự phát triển của các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội, dịch vụ phát nội dung online vấn đề vi phạm bản quyền trên không gian mạng, đặc biệt lĩnh vực âm nhạc luôn là chủ đề nhức nhối trong dư luận. Vậy hành vi này sẽ bị xử phạt như thế nào? Mời các bạn theo dõi bài viết “Xử lý vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc” của VCD.

1. Vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc là gì?

Bản quyền (hay quyền tác giả) là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng để mô tả quyền mà tác giả có đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ.

Vi phạm bản quyền là việc sử dụng trái phép tác phẩm có bản quyền của người khác mà không có sự cho phép. Từ đó vi phạm một số quyền nhất mà chủ thể của những tác phẩm đó được cấp quyền sao chép, quyền phân phối, hiển thị hoặc thực hiện tác phẩm được bảo vệ. Chủ thể bản quyền ở đây có thể là tác giả, người tạo ra tác phẩm, nhà xuất bản hoặc doanh nghiệp được giao quyền phân phối.

Theo đó, vi phạm bản quyền âm nhạc có thể hiểu là bài hát, tác phẩm âm nhạc bị cắt, sử dụng mà không có sự cho phép của chủ sở hữu bài hát. Cụ thể hơn là các hành vi như ăn cắp logo, tên tác phẩm; sửa chữa trái phép, sử dụng cho mục đích quảng cáo thương mại, bán bất hợp pháp và phổ biến nhất là sao chép và đạo văn. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sáng tạo và quyền bảo vệ tác phẩm âm nhạc của chính tác giả.

2. Thực trạng vi phạm bản quyền âm nhạc hiện nay

Mới đây, Diễn đàn bản quyền Việt Nam – Hàn Quốc (do Cục Bản quyền tác giả, Bộ VH-TT-DL và Cơ quan Bảo vệ bản quyền Hàn Quốc – KCOPA tổ chức) diễn ra tại TP.HCM sáng 26/3. Diễn đàn được tổ chức với Chủ đề “Chính sách bản quyền trên môi trường số và phương án hợp tác giữa hai quốc gia”, đặc biệt tập trung vào nội dung bảo hộ quyền tác giả âm nhạc.

Thông tin về đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên bản quyền, Cục trưởng Cục bản quyền tác giả Trần Hoàng cho biết, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018-2022 đóng góp ước bình quân đạt 1,059 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD). Trong đó, hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong giai đoạn 2018-2022 có sự tăng trưởng, giá trị sản xuất bình quân tăng 5,59%/năm, giá trị gia tăng của lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn bình quân tăng 5,67%/năm. Việt Nam được xem là có tiềm năng phát triển thị trường âm nhạc, có đủ điều kiện và cơ sở vật chất để thực hiện các chương trình biểu diễn âm nhạc lớn, quy mô quốc tế.

 Tuy nhiên hiện nay việc vi phạm bản quyền được phát hiện nhiều trên các nền tảng mạng xã hội. Nhiều hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được thực hiện thông qua các hành vi chiếm đoạt, mạo danh tác giả, chủ sở hữu quyền; sao chép, công bố, phân phối tác phẩm, sửa chữa tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu, gây thiệt hại đáng kể cho các chủ thể quyền, đồng thời cũng gây nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý, thực thi trong việc phát hiện và xử lý. Ví dụ như ca khúc Chúng ta của tương lai – Sơn Tùng MTP có vô số trang cho phép tải về máy miễn phí ngay sau khi ca sĩ phát hành chi vài giờ.

Vì vậy cần áp dụng các biện pháp công nghệ để bảo vệ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo quy định của pháp luật, cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Xử lý vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc

3. Xử phạt vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc

Căn cứ theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định về các mức xử phạt hành chính đối với các hành vi xâm phạm như sau:

Đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả: Căn cứ theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP có một số khoản bị thay thế bởi khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP:

–  Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng

–  Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại: Căn cứ theo Điều 29 Nghị định 131/2013/NĐ-CP có một số khoản bị thay thế bởi khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP:

–  Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng:

+  Đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch, cửa hàng, siêu thị mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.

–  Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng:

+  Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định;

+  Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong lĩnh vực hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh thương mại khác mà không trả tiền sử dụng  cho chủ sở hữu theo quy định.

–  Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng:

+  Đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính viễn thông, môi trường kỹ thuật số mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.

–  Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số đối với hành vi quy định.

Trên đây là bài viết của VCD : xử lý vi phạm bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc. Mong sẽ giúp ích cho bạn.

Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào?

”Hiện nay, tài sản trí tuệ do con người sáng tạo ra thông qua các hoạt động tư duy, sáng tạo trong đời sống xã hội ngày càng tăng cao kèm theo đó là việc mọi người sử dụng sản phẩm trí tuệ đó mà không có sự cho phép của tác giả dẫn đến tình trạng xâm phạm bản quyền tác giả. Chính vì vậy để bảo vệ quyền tác giả chúng ta cần phải xác định rõ những đối tượng nào là chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD về vấn đề này.“Hiện nay, tài sản trí tuệ do con người sáng tạo ra thông qua các hoạt động tư duy, sáng tạo trong đời sống xã hội ngày càng tăng cao kèm theo đó là việc mọi người sử dụng sản phẩm trí tuệ đó mà không có sự cho phép của tác giả dẫn đến tình trạng xâm phạm bản quyền tác giả. Chính vì vậy để bảo vệ quyền tác giả chúng ta cần phải xác định rõ những đối tượng nào là chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy mời các bạn theo dõi bài viết “ Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào?“ của VCD:

1. Chủ sở hữu quyền tác giả là gì?

Chủ sở hữu là chủ thể có các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản, một khối tài sản được pháp luật thừa nhận.

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản, quyền công bố tác phẩm. Chủ sở hữu quyền tác giả nguyên thủy là tác giả, người chiếm hữu quyền tác giả theo luật dựa trên cơ sở sáng tạo ra tác phẩm, tuy nhiên chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả hoặc không đồng thời là tác giả. Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả là chủ thể quyền tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được chủ thể này chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản, quyền công bố tác phẩm.

Tại Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ quy định như sau:

Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Theo quy định này cho thấy tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra nhằm khuyến khích tư duy, sáng tạo của con người ngày càng phát triển tạo ra nhiều hơn các loại hình tác phẩm đồng thời đảm bảo quyền tự do sáng tạo Luật bản quyền các nước đều dành cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả các quyền mà khi khai thác sẽ mang lại lợi ích kinh tế bù đắp chi phí đầu tư sáng tạo.

2.  Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào?

        Theo quy định từ Điều 36 đến Điều 42 tại Chương III về Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan Luật sở hữu trí tuệ quy định các đối tượng chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm:

2.1. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả

   Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Theo quy định tại Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ nêu rõ chủ thể là cá nhân, tổ chức sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm. Đây là trường hợp chủ thể vừa là tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, vừa là chủ thể có sự đóng góp về tài chính, cơ sở vật chất khác trong suốt quá trình trước, trong và sau khi hoàn thành tác phẩm, do đó chủ thể vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

2.2.  Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả

           Đồng tác giả là những người cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Đồng tác giả có thể là đồng tác giả không thể phân chia và đồng tác giả có thể phân chia. Đồng tác giả không thể phân chia khi không xác định được mỗi đồng tác giả sáng tạo ra phần nào của tác phẩm. Đồng tác giả có thể phân chia khi mỗi đồng tác giả sáng tạo ra một phần tác phẩm và phần đó có thể sử dụng độc lập hoặc mỗi tác giả sáng tạo ra một bộ phận xuyên suốt tác phẩm.

               Như vậy đối chiếu với quy định tại Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ cho thấy các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả sáng tạo ra tác phẩm, công trình. Trong trường hợp này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền đối với phần riêng biệt đó.

Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào?

2.3.  Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc kết hợp với tác giả

     Tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm có thể do nhiệm vụ hoặc theo sự giao kết hợp đồng với các chủ thể khác. Theo quy định tại Điều 39 Luật sở hữu trí tuệ thì tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản và quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm theo quy định của Luật này.

    Căn cứ phát sinh quyền này không phải là dựa trên cơ sở chiếm hữu nguyên thủy quyền tác giả mà dựa trên cở sở luật định. Trên cơ sở sự đầu tư về tài chính, các điều kiện cơ sở vật chất khác cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, các chủ thể này là người “đặt hàng” để tác giả sáng tạo ra tác phẩm.

   Đối với tổ chức giao nhiệm vụ cho một người hoặc một nhóm người thực hiện thì tổ chức đó là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản và quyền công bố, cho người khác công bố tác phẩm. Các quyền liên quan đến nhân thân của tác giả vẫn thuộc về tác giả và được tôn trọng trong suốt quá trình khai thác, sử dụng tác phẩm. Đối với cá nhân thỏa thuận cho người khác tạo ra tác phẩm để đáp ứng nhu cầu vật chất hay tinh thần của mình. Trong cả hai trường hợp tổ chức giao nhiệm vụ hoặc cá nhân xác lập hợp đồng để tạo ra tài sản trí tuệ thì trong hợp đồng hai bên cần thỏa thuận rõ phạm vi quyền của bên giao nhiệm vụ đối với tác phẩm. Lao động sáng tạo trực tiếp của tác giả kết tinh trên tác phẩm đã được các cá nhân, tổ chức này bù đắp vật chất trước, trong và kể cả sau khi kết thúc quá trình sáng tạo. Vì vậy cũng là hợp lý nếu để các đối tượng chủ thể này nắm các quyền khai thác sử dụng về mặt kinh tế đối với tác phẩm sau khi hoàn thành nhằm thu hồi lại vốn đầu tư trước đó.

2.4. Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản của người đã mất (chết) cho người còn sống, những tài sản để lại được gọi là di sản. Thừa kế được có thể được chia theo di chúc hoặc nếu người chết không để lại di chúc thì sẽ tiến hành chia thừa kế theo pháp luật. Người để lại di sản là cá nhân có quyền lập ra di chúc để định đoạt những tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật. Do đó có 2 loại người thừa kế là người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc.

Như vậy căn cứ theo Điều 40 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành cho thấy tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu có các quyền tài sản, quyền công bố hoặc cho phép công bố tác phẩm.

2.5. Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền

Chủ sở hữu quyền tác giả là người được hưởng quyền có một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và nhân thân trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng ( Điều 41 Luật Sở hữu trí tuệ ).

Căn cứ phát sinh quyền này là dựa trên cơ sở pháp luật về chuyển nhượng quyền sở hữu quyền tác giả. Quyền tác giả có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thông qua hình thức chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng. Chuyển nhượng quyền tác giả được hiểu là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu các quyền của mình theo quy định của pháp luật. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả được hiểu là việc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền của mình theo quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.

2.6. Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước

Căn cứ phát sinh quyền sở hữu quyền tác giả của nhà nước dựa trên cở sở pháp luật tại Điều 42 và Khoản 1 Điều 1 nghị định 85/2011/NĐ-CP:

       Thứ nhất, tác phẩm khuyết danh trừ trường hợp quy định tại Điều 41 của Luật Sở hữu trí tuệ. Tác phẩm khuyết danh do các tổ chức, cá nhân đang quản lý thì tổ chức, cá nhân đó được phép chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh cho tổ chức, cá nhân khác và được hưởng thù lao từ việc chuyển nhượng quyền đó và tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả được xác định.

Thứ hai, tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không còn người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.

Cuối cùng, tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho nhà nước. Khi cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước ở trường hợp này có nghĩa vụ xin phép sử dụng; thanh toán tiền nhuận bút, thù lao, các quyền, lợi ích vật chất khác; nộp một bản sao tác phẩm trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày phổ biến, lưu hành. Cá nhân, tổ chức thực hiện các nghĩa vụ trên tại Cục Bản quyền tác giả.

Trên cơ sở phân tích các đối tượng của chủ sở hữu quyền tác giả cũng như những đặc thù của tác phẩm, có thể thấy rằng bất kỳ các sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định đều là đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả. Tuy nhiên, để được bảo hộ, các tác phẩm đó cũng phải tuân theo những nguyên tắc bảo hộ nhất định.

Trên đây là bài viết: Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho bạn.

Tại sao phải đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc?

Thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ và mang đến nhiều thành tựu nổi trội không chỉ cho các ca sĩ mà còn cả các nhà soạn nhạc. Cùng với sự phát triển đó là tình trạng vi phạm bản quyền nghệ thuật nói chung, vi phạm bản quyền âm nhạc nói riêng đang không ngừng gia tăng ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều nghệ sĩ gây bức xúc trong dự luận. Do đó việc đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc là điều cần thiết giúp bảo vệ quyền và lợi ích cho tác giả. Dưới đây là bài viết của VCD về “Tại sao phải đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc?”

1. Đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc là gì

Âm nhạc hay còn gọi là tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Bản quyền âm nhạc là việc ghi nhận, khẳng định quyền của tác giả đối với tác phẩm âm nhạc mà họ đã lao động bằng trí não để hoàn thành, sáng tạo ra tác phẩm. Việc đăng ký với cơ quan nhà nước là việc ghi nhận chứ không có nghĩa là tại thời điểm đó mới phát sinh quyền tác giả mà ngay khi tác phẩm được hoàn thành đã phát sinh các quyền tác giả.

Như vậy, đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc là việc tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nộp đơn đăng ký bản quyền tác giả tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền âm nhạc do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu để được nhà nước ghi nhận tránh những trường hợp xâm phạm đến quyền của mình.

2. Điều kiện bảo hộ bản quyền cho tác phẩm âm nhạc

Tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm âm nhạc là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả với điều kiện tác phẩm đó phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Cùng với quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ:  quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký. Nghĩa là khi nào tác phẩm được tạo ra và con người có thể xác định được sự tồn tại của nó thì lúc này tác phẩm đó sẽ được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả. Do đó, đối với tác phẩm âm nhạc cũng vậy, khi nhạc sĩ chỉ mới sáng tạo ra giai điệu trong suy nghĩ của nhạc sĩ lúc này tác phẩm âm nhạc này chưa được bảo hộ. Chỉ khi nào, người nhạc sĩ tiến hành việc thể hiện tác phẩm đó dưới dạng hình thức vật chất nhất định (viết giai điệu, nốt nhạc vào giấy, thể hiện trên máy tính,…) thì quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc đó sẽ được phát sinh.

Nội dung chính sách của nhà nước quy định tại Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ như sau: công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

Tóm lại, điều kiện để bảo hộ bản quyền tác phẩm âm nhạc bao gồm:

– Là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

– Được sáng tạo và thể hiện dưới một dạng hình thức vật chất nhất định

– Nội dung không được trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng an ninh.

Tại sao phải đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc?

3. Tại sao phải đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc

Bản quyền âm nhạc là một khái niệm không quá mới tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Tuy nhiên để thật sự hiểu và vận dụng được luật bản quyền và sở hữu trí tuệ vào việc bảo vệ được các sản phẩm sáng tạo của mình thì bản thân nhiều nghệ sĩ vẫn chưa thực sự nắm vững. Đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc là cách để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của những người sáng tác, sản xuất hoặc sở hữu bản quyền âm nhạc. Sau khi đăng ký bản quyền, chủ sở hữu sẽ có quyền kiểm soát việc sao chép, phân phối, sử dụng hoặc bán nhạc của họ. Dưới đây là những lý do cần thiết để đăng ký bản quyền âm nhạc:

Thứ nhất, Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Đăng ký bản quyền là cách để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của người sáng tác, sản xuất hoặc sở hữu bản quyền âm nhạc, tránh bị sao chép, phát hành hoặc sử dụng trái phép.

Thứ hai, Chống lại việc sao chép và vi phạm bản quyền: Đăng ký bản quyền sẽ giúp chủ sở hữu có chứng cứ pháp lý để chống lại việc sao chép và vi phạm bản quyền. Nếu có bất kỳ ai vi phạm bản quyền, chủ sở hữu có thể đưa ra các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Thứ ba, kiếm tiền từ bản quyền âm nhạc: Bằng cách đăng ký bản quyền, chủ sở hữu sẽ có quyền kiểm soát việc phát hành và sử dụng nhạc của họ, từ đó có thể kiếm được tiền bản quyền từ các bản sao, sử dụng thương mại và cả quyền phát sóng.

Cuối cùng, là làm tăng giá trị thương hiệu: Bản quyền cũng giúp tăng giá trị thương hiệu của nhạc sĩ, ca sĩ, ban nhạc hoặc công ty âm nhạc. Điều này có thể thu hút nhiều khán giả và doanh nghiệp, tăng doanh thu và cải thiện vị trí thị trường của họ.

Việc các bài hát bị đạo nhạc, chế lời đang ngày càng lan tràn. Thính giả thì không biết đâu là tác phẩm GỐC, đâu là tác phẩm NHÁI. Nó không những gây hại cho chính tác giả sáng tác ra cả về mặt tinh thần lẫn vật chất, không những thế nó còn phần nào ảnh hưởng xấu tới nền âm nhạc Việt Nam nói riêng và Văn hóa thưởng thức của người Việt trên quy mô rộng. Tuy nhiên việc đăng ký bản quyền tác phẩm âm nhạc là không bắt buộc nhưng VCD khuyến khích khách hàng cần tiến hành đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc để tránh các tranh chấp phát sinh và có căn cứ chứng minh quyền sở hữu đối với tác phẩm khi có tranh chấp.

Trên đây là bài viết của VCD về : tại sao phải đăng ký bản quyền cho tác phẩm âm nhạc. Hy vọng sẽ giúp ích cho bạn.

Sử dụng sách giáo trình photo có vi phạm pháp luật không?

Giáo trình là tài liệu không thể thiếu trong quá trình học tập. Hiện nay việc photo sách diễn ra rất phổ biến đặc biệt là trong các trường học học sinh, sinh viên lựa chọn sử dụng giáo trình photo để tiết kiệm chi phí hơn. Vậy, sử dụng giáo trình photo có vi phạm pháp luật không hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Giáo trình photo là gì?

Theo Wikipedia định nghĩa về giáo trình như sau:

Giáo trình là hệ thống chương trình giảng dạy của một môn học. Nó là tài liệu học tập hoặc giảng dạy được thiết kế và biên soạn dựa trên cơ sở chương trình môn học. Mục đích để làm tài liệu giảng dạy chính thức cho giáo viên, hoặc làm tài liệu học tập chính thức cho học sinh, sinh viên.

Theo Điều 6 nghị định 17/2023/NĐ/CP quy định khái niệm: giáo trình là là tài liệu giảng dạy, học tập, nghiên cứu chính có nội dung phù hợp với chương trình đào tạo, bồi dưỡng được người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp duyệt, lựa chọn hoặc được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

Photo hay còn gọi là sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Dựa vào những khái niệm trên có thể hiểu giáo trình photo là sản phẩm của quá trình sao chép toàn bộ tác phẩm gốc và được in ấn thành bản cứng.

2. Giáo trình có được bảo hộ quyền tác giả không?

Tác phẩm được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung, ý tưởng, quan điểm thế hiện trong tác phẩm. Do đó, theo pháp luật quyền tác giả của nhiều quốc gia, những tác phẩm có nội dung trái đạo đức, trật tự công cộng vần có thể được bảo hộ nếu nó là kết quả sáng tạo tinh thần của tác giả. Công ước Berne là công ước quốc tế về quyền tác giả lâu đời nhất và có số lượng quốc gia thành viên đông đảo nhất đã nêu ra một danh sách không hạn chế những tác phẩm được bảo hộ đồng thời không phân biệt hình thức và cách thức thể hiện.

Trên cơ sở Công ước Berne, Việt Nam quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.

Mặt khác, điều kiện bảo hộ tác phẩm lại nằm trong khoản 3 Điều 14: tác phẩm được bảo hộ ‘‘phải do tác giả trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”.

Đầu tiên tác phẩm phải là thành quả của hoạt động sáng tạo tinh thần. Để có thể được bảo hộ quyền tác giả tác phẩm phải dựa trên kết quả của quá trình suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, phản ánh tư tưởng, tình cảm của người sáng tác. Hay nói cách khác, tác phẩm phải dựa trên kết quả sáng tạo có chứa đựng nội dung tinh thân nhất định của tác giả.

Thứ hai, tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Các sáng tạo nếu mới chỉ là ý tưởng nằm trong đầu tác giả, chưa được thể hiện ra bên ngoài thế giới vật chất bằng hình thức nhất định thì không thể được coi là một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả vì vậy mà tác phẩm chỉ được bảo hộ quyền tác giả khi nó được thể hiện thông qua hình thức nhất định để người khác có thể nhận biết, xác định được tác phẩm.

Và cuối cùng, tác phẩm phải mang tính nguyên gốc (originality). Tính sáng tạo nguyên gốc của tác phẩm không đồng nghĩa với “tính mới” về mặt thời gian. Tác phẩm không cần phải có nội dung, ý tưởng mới. mà chì cân do tác giả tạo ra, mang dấu ấn riêng đê phân biệt được với tác phẩm của người khác. Điều này đòi hỏi tác phẩm phải do tác giả độc lập và trực tiếp sáng tạo ra mà không sao chép từ người khác

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác.

Như vậy theo quy định nêu trên, sách giáo trình, sách giáo khoa hoặc các loại sách nghiên cứu chuyên ngành khác đều được xếp vào loại hình các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

3.  Sử dụng sách giáo trình photo có vi phạm pháp luật không?

Mục đích thương mại là hành vi nhằm phát sinh lợi nhuận về kinh tế hoặc lợi ích khác. Hiện nay có rất nhiều quan điểm liên quan đến vi phạm quyền tác giả đối với giáo trình photo, tùy vào mục đích sử dụng giáo trình photo để xác định có vi phạm hay không. Có 2 trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: 

Sử dụng giáo trình photo không vi phạm quyền tác giả nếu người sử dụng tuân theo các quy định của Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Căn cứ theo Điều 25 Luật sở hữu quy định về các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả theo đó giáo trình photo là một trong những hình thức sao chép tác phẩm vì vậy người sử dụng phải thỏa mãn các điều kiện sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao trong Điều 25 của Luật này, cụ thể như sau:

  • Giáo trình được sao chép phục vụ cho mục đích học tập cá nhân, không khai thác thương mại.
  • Chuyển thể giáo trình thành hình thức dễ tiếp cận cho người khuyết tật, khiếm thị, không với mục đích thương mại.

Trong đó, không nhằm mục đích thương mại có nghĩa là với những trường hợp xác định mục đích sử dụng là nhằm sinh lợi như cho thuê, người sử dụng sẽ không được hưởng quy định ngoại lệ không xâm phạm này. Như vậy hành vi tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân được áp dụng không nhằm mục đích thương mại.

Trường hợp 2: 

Sử dụng giáo trình photo vi phạm quyền tác giả nếu đây là hành vi chép giáo trình với mục đích thương mại, buôn bán, hoặc lợi nhuận, sẽ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của tác giả, có thể dẫn đến hậu quả pháp lý. Căn cứ theo điều 28 Luật sở hữu trí tuệ các hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trừ quy định tại Điều 25 Luật này đã nêu ở trường hợp 1 thì các hành vi đó bị coi là vi phạm quyền tác giả.

Tuy nhiên, thực tế hiện này xuất hiện ngày càng nhiều càng đối tượng trục lợi từ photocopy các giáo trình gốc để bán, thu được lợi nhuận. Điều này sẽ ảnh hưởng đến công sức, thu nhập và trí tuệ của tác giả. Thế nên, việc các trường đại học cho phép sinh viên lạm dụng quá nhiều bản sao tài liệu, giáo trình nghiên cứu học tập có thể xem là hình thức tiếp tay gián tiếp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của tác giả.

4. Mức phạt đối với hành vi sao chép tác phẩm

VIệc sử dụng giáo trình photo không nhằm mục đích nghiên cứu khoa học mà nhằm mục đích thương mại sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm đối với cá nhân vi phạm và đối với tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp 2 lần khung phạt tiền đối với cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP. 

Theo đó, hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân và bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức. Ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: buộc dỡ bỏ bản sao, bản photo tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm ở đây là sách.

Trên đây là bài viết: Sử dụng sách giáo trình photo có vi phạm pháp luật không? Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

VCD thành công đạt được thỏa thuận cấp phép âm nhạc với Tik Tok

Trong thế kỷ 21, việc tận dụng các nền tảng truyền thông xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu của ngành âm nhạc nói chung và các nghệ sĩ nói riêng. TikTok, một trong những ứng dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực này, đã trở thành một cơ hội vàng cho các ca sĩ, nghệ sĩ để có thể tiếp cận một lượng khán giả và người xem khổng lồ. Tuy nhiên, để được cấp phép và thu tiền bản quyền từ “ông lớn” này là điều không hề dễ dàng. Ngày 27/02/2024, Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam (“VCD”) đã chính thức đạt được thỏa thuận cấp phép âm nhạc với TikTok, mở ra một cánh cửa mới trong hành trình phát triển kinh doanh mình. Vì vậy, ở bài viết dưới đây sẽ tìm hiểu chi tiết về sự kiện này và lợi ích của việc đạt được thỏa thuận cấp phép âm nhạc đối với VCD và TikTok.

1. TikTok – Sân chơi giúp tiếp cận nhiều cơ hội mới

TikTok, hay còn biết tới là Douyin (Đấu Âm) tại Trung Quốc, là một nền tảng video âm nhạc và mạng xã hội của Trung Quốc được tạo ra bởi Trương Nhất Minh – người sáng lập của ByteDance. TikTok được sử dụng để tạo các video ca nhạc ngắn, hát nhép, khiêu vũ, hài kịch và tài năng từ 3 giây đến 10 phút, và các video lặp lại ngắn từ 3 đến 60 giây.

Nếu như chỉ tính một vài năm trước đây thì YouTube, ZingMP3… là một trong những nền tảng được các ca sĩ, nghệ sĩ ưu tiên sử dụng để truyền bá sản phẩm âm nhạc của mình đến đại chúng. Và họ sẽ căn cứ vào tỷ lệ lượt xem trên các nền tảng này để đánh giá sức ảnh hưởng,  sự thành công, sự chào đón của người hâm mộ cho mình.

TikTok, một nền tảng chia sẻ video ngắn, đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng toàn cầu trong khoảng 3-4 năm trở lại đây, kể từ khi dịch Covid 19 hoành hành. Với hàng tỉ người dùng trên khắp thế giới, TikTok được nhận định không chỉ là một nơi giải trí với các màn nhảy theo trend mà còn là một cơ hội kinh doanh, quảng cáo lớn. Từ người dùng, ca sĩ, nghệ sĩ,… đến doanh nhân, doanh nghiệp từ các ngành công nghiệp khác nhau đã nhìn nhận được tiềm năng của TikTok và bắt đầu tận dụng nền tảng này để tiếp cận các đối tượng, khản giả của mình.

2. Thỏa thuận cấp phép âm nhạc: Bước đột phá của VCD trong việc quản lý và kinh doanh các sản phẩm âm nhạc của ca sĩ, nghệ sĩ

Thỏa thuận cấp phép giữa VCD và TikTok được xem là một bước đột phá quan trọng trong sự phát triển của công ty. Theo thỏa thuận này, tác phẩm âm nhạc là một bản nhạc thuộc sở hữu, kiểm soát và/hoặc quản lý bởi VCD, toàn bộ hoặc một phần. TikTok và TikTok Affiliates được sử dụng hợp pháp các tác phẩm âm nhạc mà VCD quản lý, bao gồm việc thực hiện những việc sau: sao chép và lưu trữ các tác phẩm âm nhạc trên máy chủ; cho phép người dùng, TikTok Affiliates và TikTok ghi và lưu trữ nội dung được phát trực tiếp; cho phép sử dụng, tạo các bản sao của tác phẩm âm nhạc… Nhìn chung, TikTok và TikTok Affiliates được quyền sử dụng các tác phẩm âm nhạc mà VCD quản lý nhằm mục đích khai thác thương mại trên nền tảng TikTok.

Về việc thanh toán tiền bản quyền, theo thỏa thuận này, Tik Tok đồng ý thanh toán tiền bản quyền cho VCD theo lịch hàng tháng và VCD sẽ nhận được thanh toán tiền bản quyền theo lịch hàng quý trong thời hạn như hai bên thỏa thuận thông qua bản báo cáo kế toán hàng quý. Về cách thức tính tiền bản quyền, TikTok sẽ dựa trên tổng số video có sử dụng tác phẩm âm nhạc mà VCD quản lý được tạo ra trên TikTok làm cơ sở để thanh toán tiền bản quyền. Và số tiền bản quyền mà các nghệ sĩ, tác giả nhận được sẽ dựa trên cơ sở tiền bản quyền mà VCD thu được từ TikTok cũng như căn cứ theo thỏa thuận bằng hợp đồng giữa VCD và các nghệ sĩ, tác giả.

3. Lợi ích cho cả hai bên

VCD tự hào và khẳng định là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả cho các nghệ sĩ, tác giả. Thỏa thuận cấp phép âm nhạc với TikTok không chỉ mang lại lợi ích cho các nghệ sĩ, tác giả mà VCD quản lý tác phẩm âm nhạc mà còn đem lại nhiều cơ hội cho TikTok.

Trước hết là đối với các nghệ sĩ, tác giả mà VCD quản lý tác phẩm âm nhạc, việc tham gia thỏa thuận cấp phép âm nhạc với TikTok sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho sự phát triển như sau:

  • Một là giúp các nghệ sĩ, tác giả gia tăng thu nhập: việc các nghệ sĩ, tác giả ủy quyền cho VCD quản lý các tác phẩm âm nhạc và thỏa thuận cấp phép âm nhạc với TikTok sẽ mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho các nghệ sĩ, tác giả vì họ sẽ được trả tiền cho các sáng tác của mình, từ đó tăng doanh thu từ các nền tảng truyền thông xã hội của của họ, bên cạnh YouTube, Spotify… và các nền tảng âm nhạc khác.
  • Hai là giúp tăng cường sự hiện diện trên mạng xã hội và công chúng: việc TikTok sử dụng các tác phẩm âm nhạc của nghệ sĩ, tác giả  sẽ giúp các nghệ sĩ, tác giả tiếp cận với một lượng lớn người dùng trên toàn cầu. Đặc biệt, với các công cụ hiện đại, các bài hát cũ của họ có thể được thổi một luồng sinh khí mới và trở nên “viral”. TikTok cũng là một nền tảng phổ biến cho việc chia sẻ nội dung âm nhạc sáng tạo. Việc sử dụng âm nhạc của nghệ sĩ trên TikTok có thể giúp tạo ra sự quan tâm từ phía người hâm mộ, tăng cường tương tác và thúc đẩy việc chia sẻ âm nhạc của họ (đặc biệt khi ra mắt các tác phẩm âm nhạc mới).
  • Ba là tạo ra các cơ hội hợp tác và quảng cáo: Thông qua việc có mặt trên TikTok, nghệ sĩ và tác giả có thể tạo ra các cơ hội hợp tác và quảng cáo với các nhãn hàng, nhà sản xuất hoặc các đối tác khác. Điều này có thể giúp họ mở rộng tầm ảnh hưởng của mình và tạo ra các cơ hội kinh doanh mới.

Và bằng cách hợp tác với các doanh nghiệp như VCD, TikTok cũng củng cố vị thế của mình trong thị trường quảng cáo trực tuyến và thu hút thêm nhiều doanh nghiệp muốn tham gia vào nền tảng này và mang lại nhiều lợi ích như sau:

  • Một là đa dạng hóa nội dung: Thỏa thuận cấp phép âm nhạc giữa VCD và TikTok cho phép TikTok sử dụng các bài hát khác nhau mà VCD quản lý từ các nghệ sĩ, tác giả. Điều này tạo ra một môi trường đa dạng và phong phú cho người dùng, giúp TikTok thu hút một số đối tượng người dùng lớn hơn.
  • Hai là tăng doanh thu quảng cáo: việc sử dụng, lồng ghép các tác phẩm âm nhạc từ các nghệ sĩ, tác giả nổi tiếng trong các clip quảng cáo, bán sản phẩm có thể tạo ra các nội dung hấp dẫn và thu hút sự chú ý của người dùng. Điều này có thể giup TikTok tăng doanh thu tiền quảng cáo khi các nhãn hàng muốn quảng cáo trong các video sử dụng âm nhạc của họ.
  • Ba là tạo sự kết nối với cộng đồng âm nhạc: bằng việc hợp tác với các công ty quản lý tác phẩm âm nhạc như VCD, TikTok có thể xây dựng mối quan hệ với cộng đồng âm nhạc, từ đó mở rộng cơ hội hợp tác trong tương lai và các cơ hội kinh doanh mới.

Thỏa thuận cấp phép âm nhạc giữa VCD và TikTok là một ví dụ điển hình cho việc các công ty truyền thông thừa nhận, tôn trọng và có sự đãi ngộ xứng đáng cho các nhà làm nhạc cũng như sản phẩm của họ khi chúng được sử dụng trên nền tảng trực tuyến.

Mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Đọc tin tức từ trước tới nay luôn là món ăn tinh thần của người dân Việt. Theo thời gian và cùng với sự phát triển của thời đại, tin tức trên các tờ báo dần được chuyển hóa thành các trang web giúp người đọc dễ dàng truy cập và nắm bắt thông tin. Tuy nhiên, đây cũng là một thực trạng nhức nhối khi nhiều bài báo ngày nay thường xuyên bị xâm phạm quyền tác giả như: sao chép, ăn cắp chất xám…Theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, tác phẩm báo chí là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Vậy mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí cần lưu ý những vấn đề gì mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Tác phẩm báo chí là gì

Theo khoản 7 Điều 3 Văn bản hợp nhất Luật Báo chí hiện hành: “Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.”

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan có quy định như sau: “Tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.”

Mỗi tác phẩm nói chung và tác phẩm báo chí nói riêng đều được tạo nên từ chính tâm huyết, sự sáng tạo và thể hiện được những giá trị tinh thần cốt lõi của con người. Vì vậy mà loại hình tác phẩm này trở thành một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Dựa theo quy định này, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm báo chí được ra đời và đã được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Có nghĩa là tác phẩm báo chí đó được lưu lại dưới bất kỳ hình thức, phương tiện, ngôn ngữ nào, dù đã được công bố hay chưa công bố, đã được đăng ký quyền tác giả hay chưa được đăng ký thì đều phát sinh quyền tác giả. Như vậy, sự xuất hiện của tác phẩm chính là căn cứ phát sinh quyền tác giả và quyền này cần được tôn trọng, bảo vệ.

3. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả

Để đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm, tác giả cần chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu như sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu tương ứng tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan). Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ ký tên. Tờ khai cần ghi đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan. Tờ khai cần có tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn.
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả:

01 bản lưu tại Cục Bản quyền tác giả và 01 bản đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký gửi trả lại cho chủ thể được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.

Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh bản sao tác phẩm đăng ký được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều.

  • Với tác phẩm viết: 02 quyển trên giấy A4 có đánh số trang và chữ ký của tác giả vào từng trang hoặc dấu giáp lai công ty;
  • Với chương trình máy tính: 02 bản in mã nguồn + giao diện phần mềm trên giấy A4 + 02 đĩa CD có nội dung mã nguồn và giao diện trên đó;
  • Đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng: 02 bản in trên giấy A4 tác phẩm có chữ ký hoặc dấu của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Đối với tác phẩm âm nhạc: 02 bản in phần nhạc + lời hoặc bản ghi âm (thu âm) trong trường hợp đã ghi âm;
  • Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng ủy quyền, trường hợp bên ủy quyền là cá nhân thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.
  • Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).

Tất cả các tài liệu nộp kèm đơn đăng ký quyền tác giả phải được làm bằng tiếng Việt, trường hợp làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Theo điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan thì tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí sẽ là mẫu số 01.

Đối với tác phẩm báo chí, khi đăng ký quyền tác giả thì tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm phải ghi đúng thông tin về tác phầm như tên tác phẩm, ngày tháng năm hoàn thành tác phẩm, công bố tác phẩm… và quan trọng là nội dung chính của tác phẩm.

Ở phần nội dung chính của tác phẩm thì tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm báo chí đó cần nêu tóm tắt những nội dung chính của tác phẩm, cũng như ghi rõ số phần, số trang của tác phẩm. Một lưu ý ở đây là tên tác phẩm trong tờ khai và tên tác phẩm trong bản in thuyết minh cần phải trùng nhau.

Bên cạnh đó, các thông tin về tác giả, thông tin về chủ sở hữu quyền tác giả, cơ sở phát sinh sở hữu quyền, bên được ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký (nếu có) phải chính xác và trùng khớp với các văn bản nộp cùng hồ sơ.

Trên đây là bài viết: “Mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.