Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Có cần đăng ký bản quyền cho Podcast không?

Hiện nay, Podcast đang ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Với sự tiện lợi, đa dạng chủ đề và khả năng cá nhân hóa cao, podcast đáp ứng nhu cầu giải trí và học tập của nhiều người. Tuy nhiên, việc thiếu nhận thức về pháp luật bản quyền đối với các nội dung, âm thanh trong podcast đang khiến cho nhiều vi phạm bản quyền xảy ra.  Do đó cần hiểu rõ quy định của pháp luật bản quyền về podcast và liệu có cần đăng ký bản quyền cho podcast hay không? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Podcast là gì?

Podcast là thuật ngữ tiếng anh với sự kết hợp giữa từ “Ipod” (một dòng máy nghe nhạc của Apple) và từ “broadcast” (mang nghĩa truyền tải). Theo đó Podcast chỉ những nội dung âm thanh kỹ thuật số được đăng tải trên Internet mà người dùng có thể nghe trực tiếp bất cứ lúc nào, hay tải về máy cá nhân.

Ngoài ra, Podcast còn có thể hiểu như một chương trình radio với một chủ đề cụ thể được người tạo ra tự sáng tạo nội dung và phát thành nhiều tập, được xuất bản liên tục, định kỳ… Chủ đề của các kênh Podcast rất đa dạng như trao đổi, bình luận về đề tài nào đó, ký sự hoặc đưa tin thời sự, sách nói,…

Podcast là một loại hình tác phẩm phổ biến tới công chúng nên cần đảm bảo rằng nội dung cung cấp trong podcast là hoàn toàn hợp pháp không vi phạm quyền Sở hữu trí tuệ của người khác. Phần lớn các podcast hiện nay đều có các nội dung trò chuyện, trong đó tác giả podcast trao đổi, thảo luận một vấn đề nào đó. Podcast là những nội dung mang tính sáng tạo nên không có gì đáng ngạc nhiên khi pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ sẽ được áp dụng. Không hiếm các vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đã xảy ra liên quan đến podcast: dùng nhạc hay nội dung sáng tạo trong podcast mà không có sự cho phép của tác giả hoặc không trích nguồn tác phẩm…

Nội dung trong podcast là trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật hay khoa học và mang tính sáng tạo không sao chép nội dung đã được phổ biến thì nội dung podcast cũng sẽ được pháp luật bản quyền bảo hộ. Tất nhiên nếu nội dung podcast do nhiều người cùng sáng tạo ra thì sẽ có các đồng giả. Ngoài ra, podcast là một tác phẩm ghi âm nên người thực hiện podcast cũng có quyền liên quan dành cho nhà satn xuất ghi âm theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Trong nhiều trường hợp người diễn đạt nội dung podcast còn có thể được công nhận quyền của người biểu diễn vốn được dành cho nghệ sĩ, diễn viên biểu diễn.

2. Quy định của Pháp luật bản quyền về Podcast

Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về đăng ký bản quyền cho podcast như sau:

Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

Theo đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

4. Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.

Ngoài ra, căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng quy định về loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

2. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

Bên cạnh đó, căn cứ Điều 9 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về quyền tác giả đối với podcast như sau:

Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác

Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 44 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo đó, podcast là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Người trực tiếp sáng tạo ra bản podcast sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả đối với podcast và được nhận các quyền theo quy định.

Như vậy, bản quyền podcast sẽ được tự động phát sinh kể từ khi bản podcast được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một dạng nhất định như bản ghi âm, bản ghi hình,… mà không cần đăng ký bản quyền cho podcast. Tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật luôn khuyến khích tác giả hoặc chủ sở hữu podcast thực hiện đăng ký bản quyền cho podcast để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả nhằm bảo hộ quyền lợi của tác giả tốt nhất.

Đối với thời gian bảo hộ quyền tác giả đối với podcast được quy định tại Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ. Theo đó bản podcast đã được công bố mà không biết ai là tác giả thì sẽ có thời hạn bảo hộ quyền tác giả là 75 năm kể từ khi bản podcast được công bố lần đầu.

Khi có bản podcast đã có thông tin về tác giả thì thời hạn bảo hộ quyền tác giả sẽ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết, trường hợp có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Lưu ý rằng thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định trên sẽ chấm dứt vào 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Qua phân tích trên, VCD thấy rằng bản quyền podcast đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo và phát triển cộng đồng podcast chuyên nghiệp. Việc tôn trọng bản quyền không chỉ khuyến khích sự sáng tạo mà còn góp phần xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nơi mà các podcaster có thể yên tâm đầu tư thời gian và công sức vào việc sản xuất nội dung chất lượng.

Xin cấp giấy phép biểu diễn ca nhạc

Việc xin cấp phép biểu diễn ca nhạc không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn là một yêu cầu thiết yếu để đảm bảo trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của nhiều bên liên quan. Trên thực tế, việc cấp phép giúp kiểm soát chất lượng các chương trình biểu diễn, ngăn chặn những nội dung phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục hoặc gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng. Bên cạnh đó, quy định này còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các tác giả, nhà sáng tác, đảm bảo rằng họ được hưởng lợi xứng đáng từ những sáng tạo của mình. Do đó sự cần thiết phải hiểu rõ quy định của pháp luật về hồ sơ và thủ tục xin cấp phép buổi biểu diễn ca nhạc. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Giấy phép biểu diễn ca nhạc là gì

Biểu diễn ca nhạc là một hình thức nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo và cảm xúc của người nghệ sĩ trước công chúng. Đây là một lĩnh vực rất đa dạng, bao gồm nhiều thể loại khác nhau, từ các hình thức truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, cho đến những hình thức hiện đại hơn như nhạc kịch, giao hưởng, và tạp kỹ.

Giấy phép biểu diễn ca nhạc là một yêu cầu pháp lý quan trọng đối với các tổ chức và cá nhân muốn tổ chức hoặc tham gia vào hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Giấy phép này được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền, thường là các cơ quan văn hóa, thể thao và du lịch ở cấp tỉnh hoặc thành phố, hoặc các cơ quan tương đương.

Giấy phép biểu diễn ca nhạc không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn giúp đảm bảo rằng các hoạt động nghệ thuật được tổ chức một cách hợp pháp, an toàn và phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là cách để kiểm soát và quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật, bảo vệ quyền lợi của các nghệ sĩ và người tham gia, đồng thời đảm bảo rằng các sự kiện diễn ra không gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng.

Xin cấp giấy phép biểu diễn ca nhạc

2. Hồ sơ và thủ tục xin cấp giấy phép biểu diễn ca nhạc

Các cá nhân, tổ chức phải xin giấy phép biểu diễn bao gồm:

Đối tượng tổ chức biểu diễn:

  • Nhà hát; Đoàn nghệ thuật; Nhà Văn hóa; Trung tâm Văn hóa, Thể thao;
  • Nhà hát, đoàn nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang;
  • Doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh dịch vụ biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang;
  • Hội Văn học, nghệ thuật; cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật;
  • Cơ quan phát thanh, cơ quan truyền hình;
  • Chủ địa điểm, hộ kinh doanh tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang;

Đối tượng biểu diễn:

  • Cá nhân là người Việt Nam;
  • Cá nhân là người nước ngoài;
  • Cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Để xin cấp giấy phép tổ chức biểu diễn ca nhạc, các tổ chức hoặc cá nhân cần chuẩn bị và gửi hồ sơ đến các cơ quan có thẩm quyền như Cục Ca nhạc Biểu diễn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hoặc Sở Văn hóa và Thể thao.

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tổ chức biểu diễn ca nhạc bao gồm:

  • Đơn đề nghị cấp giấy phép tổ chức biểu diễn ca nhạc:

Đơn này phải được điền đầy đủ thông tin về người hoặc tổ chức xin cấp phép, thông tin về chương trình biểu diễn, địa điểm, và thời gian dự kiến.

  • Bản nội dung chương trình, tác giả, đạo diễn, người biểu diễn:

Bao gồm thông tin về các tiết mục, tác giả, đạo diễn, và người biểu diễn. Điều này giúp cơ quan cấp phép hiểu rõ về nội dung và cấu trúc của chương trình.

  • Bản nhạc đối với tác phẩm đề nghị công diễn lần đầu:

Đối với bản nhạc sử dụng tiếng nước ngoài, cần cung cấp bản dịch tiếng Việt và chứng nhận của công ty dịch thuật. Điều này đảm bảo rằng nội dung âm nhạc không vi phạm các quy định pháp luật và phù hợp với văn hóa địa phương.

  • Văn bản cam kết thực thi đầy đủ các quy định của pháp luật về quyền tác giả:

Hoặc bản sao hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận với tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này nhằm bảo đảm rằng quyền sở hữu trí tuệ được tôn trọng và không có tranh chấp.

  • Bản sao chứng thực quyết định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài:

Đối với chương trình có sự tham gia của tổ chức, cá nhân nước ngoài, hoặc cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần cung cấp bản sao chứng thực quyết định cho phép họ vào Việt Nam biểu diễn.

  • Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Đối với các tổ chức lần đầu thực hiện thủ tục hành chính, hoặc các tổ chức đã có hành vi vi phạm, cần nộp bản sao có chứng thực hoặc mang bản gốc để đối chiếu.

Khi mời tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn ca nhạc, bạn cần chuẩn bị và gửi hồ sơ đến Cục Ca nhạc Biểu diễn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hoặc Sở Văn hóa và Thể thao.

 Hồ sơ xin cấp phép vào Việt Nam biểu diễn ca nhạc cần gồm những tài liệu sau:

  • Đơn đề nghị cấp phép vào Việt Nam biểu diễn ca nhạc:

Đơn này cần cung cấp đầy đủ thông tin về người hoặc tổ chức mời, thông tin về cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, mục đích và thời gian biểu diễn.

  • Bản sao văn bản thỏa thuận:

Bản sao văn bản thỏa thuận với cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài. Văn bản này cần có bản dịch tiếng Việt và chứng nhận của công ty dịch thuật, đảm bảo sự chính xác và hợp pháp của các thỏa thuận.

  • Bản sao hộ chiếu và văn bản nhận xét của cơ quan ngoại giao Việt Nam tại nước sở tại:

Đối với cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần cung cấp bản sao hộ chiếu và văn bản nhận xét của cơ quan ngoại giao Việt Nam tại quốc gia nơi cá nhân đó cư trú.

  • Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Đối với tổ chức lần đầu thực hiện thủ tục hành chính hoặc tổ chức đã có hành vi vi phạm quy định, cần nộp bản sao có chứng thực hoặc mang bản gốc để đối chiếu.

VCD thấy rằng việc xin cấp phép biểu diễn ca nhạc để bảo vệ bản quyền là một quy định thiết yếu trong ngành âm nhạc. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của các tác giả, nhà sáng tác, đồng thời ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền, tạo ra một thị trường âm nhạc lành mạnh và phát triển bền vững. Bằng cách xin cấp phép, các đơn vị tổ chức biểu diễn không chỉ thể hiện sự tôn trọng đối với quyền sở hữu trí tuệ mà còn xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp, tránh rủi ro pháp lý và góp phần vào sự phát triển chung của ngành âm nhạc.

Bản quyền tác giả là gì? Những điều cần biết về bản quyền tác giả

Vi phạm bản quyền tác giả đang là một vấn đề nhức nhối và phổ biến trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong thời đại số. Với sự phát triển của internet và các công cụ chia sẻ thông tin, việc sao chép, chia sẻ và sử dụng trái phép các tác phẩm sáng tạo trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Do đó sự cần thiết phải biết “bản quyền tác giả là gì?”để nắm được và hiểu chi tiết tránh những vi phạm. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái niệm bản quyền tác giả

Theo Wikipedia: quyền lợi hay còn gọi là quyền là các nguyên tắc luật pháp, xã hội hoặc đạo đức về tự do hoặc những gì đáng có được, nghĩa là, quyền là các quy tắc quy phạm cơ bản về những gì được phép của mọi người hoặc người dân theo một số hệ thống pháp luật, quy ước xã hội hoặc lý thuyết đạo đức.

Theo góc độ pháp lý thì quyền là khái niệm pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.

Bản quyền trong tiếng anh được gọi là copyright, thuật ngữ copyright dùng để chỉ quyền phi vật thể của một người nào đó đối với các tác phẩm trí tuệ được tạo ra. Theo pháp luật Anh – Mỹ bản quyền bảo vệ quyền lợi kinh tế của người sở hữu quyền tác giả hơn là quyền nhân thân của tác giả. Khái niệm bản quyền không được quy định ở Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta hay nhắc đến khái niệm bản quyền để chỉ cho hình thức bảo hộ đối với quyền tác giả, quyền liên quan.

Còn quyền tác giả vốn là thuật ngữ được sử dụng trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Quyền này coi tác giả là trung tâm và bảo hộ tất cả các quyền về cả quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả.

Ở Việt Nam chỉ có quyền tác giả là được luật định nhưng theo thực tiễn áp dụng, quyền tác giả được hiểu đơn giản là bản quyền hay tác quyền là quyền của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra tránh bị xâm phạm bởi người khác. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu nó.

Bản quyền chỉ là một dạng tài sản trí tuệ. Bản quyền tập trung và khía cạnh giá trị thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Nó bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối với việc sử dụng, sao chép, phân phối hoặc thương mại hóa tác phẩm, sản phẩm dịch vụ của mình. Bản quyền có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và khuyến khích sáng tạo trong môi trường kinh doanh.

Còn quyền tác giả tập trung vào việc bảo vệ quyền của tác giả đối với tác phẩm của mình. Nó liên quan đến giá trị tinh thần, quyền cá nhân và sự gắn kết giữa tác giả và tác phẩm. Quyền tác giả đảm bảo sự bảo vệ toàn vẹn quyền của tác giả bao gồm quyền công nhận tác phẩm, kiểm soát việc sử dụng tác phẩm và quyền nhận chi phí thù lao khi tác phẩm được sử dụng.

Khái niệm bản quyền và quyền tác giả là hai khái niệm có sự liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau tuy nhiên do thời gian cũng như sự hội nhập của các quốc gia và các tổ chức quốc tế, pháp luật giữa các nước giao thoa với nhau nên những khác biệt này cũng dần được thay đổi và hòa hợp hơn.

Do đó, có thể hiểu đơn giản bản quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Nói cách khác, khi bạn tạo ra một tác phẩm như bài hát, bài thơ, bức tranh, tiểu thuyết, phần mềm,.., bạn sẽ tự động có quyền tác giả đối với tác phẩm đó. Quyền này bao gồm  bảo hộ quyền nhân thân, quyền tài sản và cả bảo vệ quyền lợi kinh tế của tác giả.

Bản quyền tác giả là gì?

2. Những điều cần biết về bản quyền tác giả

Mục đích của bảo hộ bản quyền tác giả:

  • Thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển khoa học, văn hóa và nghệ thuật. Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thể hiện sự tôn trọng dối với tác giả, động viên họ tiếp tục đóng góp những sáng tạo cho cộng đồng và xã hội.
  • Đảm bảo quyền tác giả đối với tác phẩm của họ bao gồm: quyền kinh tế( cho phép tác giả sở hữu độc quyền và khai thác kinh doanh trên chính tác phẩm đó), quyền nhân thân( bảo vệ quyền lợi của tác giả bao gồm quyền được ghi tên và tính nguyên vẹn của tác phẩm trong quá trình sử dụng và khai thác), quyền tinh thần ( bảo vệ các lợi ích phi kinh tế của tác giả đối với tác phẩm).
  • Bảo hộ bản quyền tác giả mang lại quyền kinh tế cho người sở hữu hợp pháp để ủy quyền hoặc ngăn chặn việc sử dụng tác phẩm trong hoạt động thương mại và nhận tiền thù lao. Chủ sở hữu cũng có quyền kiểm soát các hình thức sử dụng khác nhau của tác phẩm, bao gồm xuất bản, in ấn, ghi âm, biểu diễn công cộng, phát sóng đài phát thanh, dịch thuật, chuyển thể thành phim và nhiều hình thức khác. Điều này khuyến khích sự sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo trong xã hội.

Các tác phẩm được bảo hộ bản quyền tác giả:

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ bản quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ cụ thể như sau:

1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ thì các tác phẩm được liệt kê ở trên phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác thì mới được bảo hộ bản quyền tác giả.

VCD thấy rằng việc hiểu rõ về bản quyền tác giả là quan trọng vì nó bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo, khuyến khích sự sáng tạo, quản lý văn hóa và tư tưởng, cũng như thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ luật pháp trong việc sử dụng tác phẩm của người khác. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội thông qua việc bảo vệ và khuyến khích sự sáng tạo.

Bản quyền âm nhạc trong các dịch vụ phát trực tuyến

Sự phát triển của công nghệ và mạng Internet đã mở rộng khả năng truyền tải tác phẩm âm nhạc đến công chúng thông qua các nền tảng phát trực tuyến (streaming). Tuy nhiên, cùng với sự tiện lợi và phổ biến của các dịch vụ này, vấn đề vi phạm quyền tác giả cũng trở nên phức tạp hơn. Vậy, bản quyền âm nhạc trong các dịch vụ phát trực tuyến là như thế nào?. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái niệm bản quyền âm nhạc trong các dịch vụ phát trực tuyến

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì Bản quyền âm nhạc được hiểu là quyền pháp lý mà các tác giả, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn, và nhà sản xuất âm nhạc có đối với các tác phẩm âm nhạc của họ. Bản quyền đảm bảo rằng các tác giả và nhà sản xuất âm nhạc có quyền kiểm soát việc sử dụng và khai thác các tác phẩm của họ, đồng thời nhận được thù lao cho việc sử dụng đó.

Phát trực tuyến (steaming) là một thuật ngữ khá mới đây là sản phẩm của sự phát triển khoa học – công nghệ; được coi là một giải pháp thay thế cho việc tải xuống các tập tin theo phương thức truyền thống: cho phép phát trực tuyến cung cấp nội dung như nhạc phim để người dùng xem hoặc nghe mang tính chất tức thời và không lâu dài.

Dưới góc độ pháp lý hiện nay chưa có định nghĩa nào về khái niệm phát trưc tuyến hoặc điều chỉnh hành vi này.

Dịch vụ phát trực tuyến (hay còn gọi là dịch vụ streaming) là các nền tảng hoặc ứng dụng cung cấp nội dung truyền thông như âm nhạc, video, phim ảnh, chương trình truyền hình và các nội dung đa phương tiện khác thông qua internet. Thay vì phải tải xuống hoàn toàn trước khi có thể xem hoặc nghe, nội dung được truyền trực tiếp từ máy chủ của dịch vụ đến thiết bị của người dùng, cho phép xem hoặc nghe ngay lập tức.

Do đó, Bản quyền âm nhạc trên các dịch vụ phát trực tuyến đề cập đến việc bảo vệ quyền tác giả đối với các tác phẩm âm nhạc khi chúng được cung cấp và truy cập qua các nền tảng phát trực tuyến như Spotify, Apple Music, YouTube, Amazon Music, và các dịch vụ tương tự.

Bản quyền âm nhạc trong các dịch vụ phát trực tuyến

2. Quy định pháp luật về bản quyền âm nhạc trong các dịch vụ phát trực tuyến

Quyền tác giả theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hiện hành bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả được quy định cụ thể tại Điều 19 và Điều 20 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH.

 Liên quan đến Quyền tác giả, phát trực tuyến mang bản chất là một kênh truyền tải tác phẩm đến công chúng thông qua việc tạo ra bản sao tạm thời và người dùng trực tiếp xem, nghe âm thanh hoặc hình ảnh. Để thực hiện hoạt động phát trực tuyến người dùng thường phải sử dụng hai nhóm quyền bao gồm: quyền sao chép tác phẩm và quyền truyền đạt tác phẩm đến với công chúng được quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật này. Đồng thời khoản 3 Điều 20 đã ghi nhận thêm trong trường hợp tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền này thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu. Nói cách khác khi phát trực tuyến tác phẩm ít nhất phải có sự đồng ý của các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền tác giả trừ các trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 25 và 26 Luật này.

Dịch vụ phát trực tuyến hợp pháp bao gồm tất cả các nhà cung cấp dịch vụ internet thực hiện cung cấp quyền truy cập vào danh mục các tác phẩm âm nhạc hoặc nghe nhìn với sự cho phép của các chủ sở hữu quyền tác giả. Ví dụ các nền tảng cho phát trực tuyến các tác phẩm âm nhạc hợp pháp như: Spotify, Deezer, Apple Music….Theo đó những người tiếp cận các nền tảng này phải trả một khoản phí nhất định cho đơn vị cung cấp dịch vụ. Đơn vị cung cấp có trách nhiệm trả tiền nhuận bút, thù lao sử dụng tác phẩm âm nhạc cho chủ sở hữu quyền tác giả theo Hợp đồng hoặc theo sự thỏa thuận giữa các bên.

Ngoài ra còn có các dịch vụ phát trực tiếp bán hợp pháp cung cấp quyền truy cập vào các tác phẩm có bản quyền thông qua phát trực tuyến mà không yêu cầu sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Bên trung gian cung cấp dịch vụ này trong trường hợp phát hiện việc phát trực tuyến bất hợp pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành gỡ bỏ nội dung vi phạm. Ví dụ các nền tảng chia sẻ như: Youtube, Dalilymotion, dịch vụ lưu trữ hoặc các nhà cung cấp s dịch vụ nội dung tương tự khác.

Dịch vụ trung gian đóng vai trò không nhỏ trong việc truyền đạt, phân phối các tác phẩm đến công chúng bao gồm cả việc làm tăng hoặc giảm giá trị của các tác phẩm âm nhạc. Đặc biệt trong những trường hợp xảy ra hành vi xâm phạm Quyền tác giả doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này choinhs là chủ thể đầu tiên có khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 198b Dự thảo ngày 24/3/2022 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp không biết rằng nội dung thông tin số đó vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan; có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó khi biết rằng nội dung thông tin số đó vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

Tương tự, Điều 23d Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng) quy định điều kiện về quản lý thông tin đối với trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội có đặt ra yêu cầu về cơ chế phối hợp để có thể loại bỏ ngay nội dung vi phạm khoản 1 Điều 5 Nghị định này chậm nhất sau 03 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép (bằng văn bản, điện thoại, email). Do đó đây là trách nhiệm, nhưng cũng là một quyền của doanh nghiệp khi cung cấp dịch vụ trung gian để thực hiện hoạt động quản lý đối với nguồn thông tin được phân phối trên nền tảng mà mình cung cấp.

Qua đây VCD thấy rằng phát trực tuyến là một phương thức hiệu quả để truyền tải âm nhạc đến công chúng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về bản quyền. Việc sử dụng âm nhạc mà không có giấy phép và không trả tiền bản quyền là vi phạm nghiêm trọng đối với quyền tác giả. Các giải pháp pháp lý và công nghệ cần được thực hiện đồng bộ để bảo vệ quyền lợi của các tác giả và nhà sản xuất âm nhạc. Hợp tác quốc tế và sự tích cực của các tổ chức quản lý quyền tác giả cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này.

Ứng dụng công nghệ vào trong bảo vệ bản quyền âm nhạc

Công nghệ số hóa đối với ngành công nghiệp âm nhạc đã tạo ra những thay đổi đáng kể mà sự tiến triển của công nghệ số hóa đã mang lại cho ngành công nghiệp âm nhạc. Từ sự xuất hiện của các nền tảng phát sóng trực tuyến đến quá trình sản xuất và tiêu thụ âm nhạc, công nghệ số hóa đã thay đổi cách thức mọi người tạo ra, chia sẻ và thưởng thức âm nhạc. Do đó việc ứng dụng công nghệ trong bảo vệ bản quyền âm nhạc là tất yếu. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn.

1. Vì sao phải ứng dụng công nghệ vào trong bảo vệ bản quyền âm nhạc

Từ lâu nạm xâm phạm bản quyền đã trở thành “vết thương” khó lành đối với đội ngũ nghệ sĩ, nhà sáng tác, nhà sản xuất âm nhạc,…. Sự thuận tiện trong môi trường số khiến các tác giả có thể đưa tác phẩm đến với công chúng nhanh chóng, rộng rãi hơn, tuy nhiên đó cugnx là không gian khiến nạn xâm phạm bản quyền ngsfy càng nhức nhối. Thực tế, việc ứng dụng công nghệ số để giải quyết xâm phạm bản quyền đã được đặt ra từ lâu nhưng để biến công nghệ thành chiếc chòa khóa cho sự minh bạch thì vẫn còn nhiều nút thắt.

Ứng dụng công nghệ trong bảo vệ bản quyền âm nhạc là việc sử dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm âm nhạc. Các giải pháp này nhằm ngăn chặn việc sao chép, phân phối trái phép, đảm bảo quyền lợi của các nghệ sĩ và nhà sản xuất âm nhạc, và giúp quản lý, kiểm soát việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc một cách hiệu quả.

Mục đích ứng dụng:

  • Ngăn chặn vi phạm bản quyền: Trong kỷ nguyên số, việc sao chép và phân phối âm nhạc trái phép trở nên dẽ dàng hơn, các nền tảng chia sẻ tập tin, trang web phát trực tuyến trái phép ngày càng nhiều dẫn đến nhiều nghệ sĩ mất đi nguồn thu nhập quan trọng từ việc bán album và phát trực tuyến khi các tác phẩm của họ bị sao chép và phân phối trái phép.
  • Đảm bảo công bằng và minh bạch: Hiện nay nhiều nghệ sĩ thường gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền sở hữu đối với tác phẩm của họ khi xảy ra tranh chấp bản quyền đồng thời trong quá trình phân chia thù lao bản quyền họ cũng không nhận được đầy đủ do sự tiheesu minh bạch, Vì vậy áp dụng công nghệ sẽ đảm bảo các nghệ sĩ nhận được thù lao chính xác mỗi khi tác phẩm của họ được sử dụng.
  • Tăng cường quản lý và kiểm soát: Các nhà sản xuất và nghệ sĩ cần công cụ để kiểm soát ai có thể sự dụng tác phẩm của họ và dưới những điều kiện nào bởi các vi phạm bản quyền thường khó phát hiện khi âm nhạc được chia sẻ trên nhiều các nền tảng khác nhau.
  • Tăng cường trải nghiệm cho người dùng: Ngoài việc bảo vệ bản quyền cho nghệ sĩ việc áp dụng công nghệ còn giúp cho người dùng dễ dàng trong việc truy cập và tìm kiếm âm nhạc hợp pháp và chất lượng tránh được các rủi bảo mật cho người dùng khi họ sử dụng những trang web lậu.

Do đó, việc áp dụng công nghệ vào bảo vệ bản quyền âm nhạc là cần thiết để đối phó với những thách thức hiện đại và tận dụng các cơ hội mà công nghệ mang lại. Công nghệ không chỉ giúp ngăn chặn vi phạm bản quyền mà còn tạo ra một hệ thống minh bạch, công bằng và hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của các nghệ sĩ và nhà sản xuất, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp âm nhạc.

Ứng dụng công nghệ vào trong bảo vệ bản quyền âm nhạc

2. Một số ứng dụng phổ biến hiện nay

Thực trạng xâm phạm bản quyền trong âm nhạc vẫn đang xảy ra một cách phổ biến hiện nay, do đó để đối phó với những hành vi xâm phạm này nhiều đơn vị tổ chức đã ứng dụng công nghệ số để theo dõi, khai thác, quản lý việc sử dụng các tác phẩm giải trí trên không gian mạng nhằm tối ưu hóa và đem lại hiệu quả quản lý quyền tác giả trên môi trường internet đồng thời tăng khả năng theo dõi và kiểm soát vi phạm bản quyền trực tuyến.

  1. Ứng dụng Blockchain

Blockchain được biết đến với khả năng đảm bảo tính minh bạch và an toàn thông qua các hệ thống ghi chép phân tán cụ thể hóa. Công nghệ này mở ra những cơ hội mới nhằm mục đích cải thiện cách thức quản lý bản quyền, phân phối, và thậm chí là cách thức tạo ra và chia sẻ giá trị trong thế giới âm nhạc. Blockchain – công nghệ đứng sau sự nổi tiếng của Bitcoin, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, kiểm soát quyền sở hữu một cách chính xác mà còn đảm bảo sự phân chia lợi nhuận một cách công bằng và bền vững.

Ngoài ra Blockchain còn giúp các nghệ sĩ giảm bớt sự phụ thuộc vào các bên trung gian nhằm tối ưu hóa chi phí phân phối và tăng cường quyền lực quyền kiểm soát đối với tác phẩm. Nghệ sĩ có thể tận dụng các nền tảng âm nhạc dựa trên blockchain để phát hành tác phẩm của mình một cách trực tiếp đến người hâm mộ, không chỉ giảm chi phí mà còn tăng cường sự gắn kết và hợp tác với cộng đồng của mình. Người hâm mộ thông quan việc mua token hoặc tham gia vào các hệ thống hỗ trợ nghệ sĩ trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình phân phối tạo ra mô hình kinh doanh mới, minh bạch và công bằng hơn.

Lợi ích khi sử dụng Blockchain:

  • Không thể bị làm giả và phá hủy các chuỗi Blockchain: Chỉ bị phá hủy khi không còn internet.
  • Bất biến: Nếu giao dịch hoặc dữ liệu đã được ghi bởi người nắm giữ private key (mã khóa bí mật – chỉ người khởi tạo Blockchain mới có) dữ liệu đó không thể sửa chữa.
  • Bảo mật dữ liệu: Các thông tin, dữ liệu về các chuỗi blockchain được phân tán và an toàn tuyệt đối. Chỉ có người giữ private key mới có quyền truy xuất.
  • Minh bạch: Ai cũng có thể theo dõi được đường đi của blockchain từ địa chỉ này tới địa chỉ khác và thống kê toàn bộ lịch sử trên địa chỉ đó.
  • Hợp đồng thông minh: Hợp đồng thông minh (smart contracts) trên blockchain tự động thực hiện các giao dịch và thanh toán tiền bản quyền khi các điều kiện được xác định trước được đáp ứng. Hợp đồng thông minh đảm bảo rằng các nghệ sĩ nhận được thù lao một cách chính xác và minh bạch.

b. Ứng dụng Digital Rights Management (DRM)

DRM là công nghệ giúp quản lý các nội dung số, nhằm hạn chế vi phạm bản quyền dựa vào hình thức mã hóa. Hiểu đơn giản việc quản lý bản quyền nội dung số DRM ra đời với mục đích kiểm soát các hoạt động của người dùng trong quá truy cập và sử dụng mội dung nền tảng số.

Hiện nay rất nhiều người quan tâm nhiều đến bản quyền của những nội dung số mình truy cập. Họ chỉ cần có thể truy cập vào nội dung mình muốn còn việc nó có bản quyền hay không thường rất ít người chú ý. Nhưng khi DRM được ứng dụng ở các file nội dung số thì người tạo ra nội dung này có thể kiểm soát được quyền của người dùng. Khi đó người dùng sẽ biết họ có thể liên kết đến những gì trong nội dung số và những gì mình không thể truy cập.

Lợi ích khi sử dụng DRM:

  • Bảo vệ quyền sở hữu nội dung số: Sử dụng hệ thống DRM giúp ngăn chặn việc quay màn hình video và phân phối trái phép nội dung số, bảo vệ bản quyền cho chủ sở hữu nội dung. Nhờ vậy, họ có thể kiểm soát việc sử dụng và khai thác nội dung của mình hiệu quả hơn. Công nghệ quản lý quyền kỹ thuật số này đảm bảo giá trị của nội dung được duy trì, xứng đáng với công sức sáng tạo của tác giả bỏ ra.
  • Quản lý quyền truy cập: DRM giúp chủ sở hữu nội dung thiết lập các điều kiện cụ thể về cách thức và thời gian người dùng có thể truy cập và sử dụng nội dung đó. Công nghệ bảo mật này mang lại khả năng kiểm soát chặt chẽ đối với việc phân phối và sử dụng nội dung, từ đó ngăn ngừa việc sao chép trái phép hoặc lạm dụng “chất xám”.
  • Bảo vệ nguồn thu nhập: Các doanh nghiệp hay các nhà sáng tạo nội dung luôn phải đối mặt với nguy cơ thất thoát doanh thu bởi các hành vi đánh cắp sản phẩm số, sau đó tung lên mạng hoặc đi rao bán với giá rẻ như cho. Việc áp dụng công nghệ quản lý kỹ thuật số DRM không chỉ đơn thuần bảo vệ nội dung, chất xám mà còn góp phần duy trì thu nhập của chủ sở hữu.
  • Nâng cao trải nghiệm người dùng: Người dùng có thể truy cập nội dung file và các tài liệu bảo vệ bằng DRM mà không cần ứng dụng đặc biệt nào. DRM cho phép đọc qua ứng dụng bên thứ ba, giúp tiếp cận nội dung số dễ dàng mà không cần xác nhận phức tạp. Công nghệ này mã hóa tiêu chuẩn, cho phép truy cập an toàn và kiểm soát thông tin người dùng.

VCD thấy rằng việc ứng dụng công nghệ trong bảo vệ bản quyền âm nhạc là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các nghệ sĩ và nhà sản xuất âm nhạc. Các giải pháp công nghệ như blockchain, watermarking, DRM, AI, audio fingerprinting, và các hệ thống đám mây giúp ngăn chặn vi phạm đăng ký bản quyền, quản lý quyền sở hữu, và đảm bảo tính minh bạch trong việc sử dụng và phân phối âm nhạc.

Bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện

Âm nhạc không chỉ là nguồn giải trí đơn thuần mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra trải nghiệm độc đáo và giao tiếp mạnh mẽ trong sự kiện. Nó không chỉ là những nốt nhạc hòa quyện, mà còn là phương tiện tinh tế để kích thích cảm xúc và tạo nên không khí đặc biệt. Do đó, âm nhạc được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất của một sự kiện, bởi đây là phương tiện giúp sự kiện truyền tải thông điệp đến người tham dự nâng cao cảm xúc và cải thiện trải nghiệm của người tham gia. Tuy nhiên, pháp luật quy định như thế nào về bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện?. Hãy theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện là gì

Theo điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ thì tác phẩm âm nhạc là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Như vậy, bản quyền bài hát là quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc.

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc được hiểu là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Như vậy, bản quyền âm nhạc được hiểu là quyền của tác giả đối với tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn kể từ thời điểm mà tác giả tạo ra tác phẩm.

Do đó, Bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện là việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong các sự kiện công cộng hoặc thương mại, bao gồm các buổi biểu diễn trực tiếp, hội nghị, triển lãm, lễ hội, tiệc cưới, nhà hàng, quán bar, và các hoạt động tương tự. Điều này đòi hỏi tổ chức sự kiện phải xin phép sử dụng và trả tiền bản quyền cho các tác giả, nhạc sĩ, và nhà sản xuất âm nhạc thông qua các tổ chức quản lý quyền tác giả.

Bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện

2. Quy định của pháp luật về bản quyền âm nhạc trong tổ chức sự kiện

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 có quy định những trường hợp cho phép các sự kiện được sử dụng âm nhạc mà không cần xin phép người sở hữu.

Trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả phí bản quyền, nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm:

  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại;
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn nhằm mục đích đưa tin thời sự hoặc giảng dạy.

Trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả phí bản quyền, thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm:

  • Đối với các sự kiện, chương trình ghi hình, ghi âm có ca sĩ, nghệ sĩ biểu diễn:

Nếu ban tổ chức sử dụng phát sóng những tác phẩm âm nhạc đã được chủ sở hữu quyền tác giả công bố cho phép ghi hình nhằm mục đích thương mại thì không phải xin phép, nhưng phải trả phí tác quyền kể từ khi sử dụng.

Trong đó, nếu chương trình không có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, mức phí bản quyền và phương thức thanh toán theo quy định của Chính phủ.

Nếu chương trình có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, mức phí bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

  • Đối với những sự kiện, chương trình sử dụng âm nhạc là các bản ghi âm, ghi hình (đám cưới, lễ khánh thành, hội nghị, hội thảo,…):

 Theo Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022, các tổ chức hoặc cá nhân sử dụng các bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại trong các sự kiện như đám cưới, lễ khánh thành, hội nghị, hội thảo và các chương trình tương tự không cần xin phép, nhưng phải trả phí tác quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, và tổ chức phát sóng từ khi sử dụng.

Tuy nhiên, mức phí tác quyền phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của chương trình. Nếu chương trình không có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, thì các mức phí sẽ được quy định theo quy định của Chính phủ.

Trong trường hợp chương trình có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, các mức phí sẽ được thỏa thuận giữa các bên liên quan. Nếu không có thỏa thuận được, thì áp dụng quy định của Chính phủ.

Đối với chương trình có sự tham gia biểu diễn của các nghệ sĩ như vũ công, vũ đoàn và các người biểu diễn khác, thù lao của họ sẽ phụ thuộc vào thoả thuận với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình.

Tỉ lệ phân chia phí tác quyền và quyền lợi vật chất khác do các chủ thể quyền sở hữu hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thỏa thuận. Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể được uỷ thác để thu và phân phối phí tác quyền và quyền lợi vật chất khác. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được uỷ thác sẽ nhận một khoản phí nhất định theo thoả thuận giữa các bên.

Tuy nhiên, khi sử dụng tác phẩm âm nhạc, VCD khuyên các tổ chức và cá nhân phải tuân thủ các quy định về việc khai thác bình thường của tác phẩm và không gây tổn hại đến quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này có nghĩa là việc sử dụng tác phẩm âm nhạc không được làm ảnh hưởng đến quyền khai thác thông thường của tác phẩm và không gây thiệt hại đến quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.

Quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc

Trong bối cảnh nhạc số đang chiếm lĩnh thị trường cùng với công nghệ AI đang phát triển như vũ bảo, ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu cũng đang đối diện với nhiều cơ hội và thách thức. Đặc biệt là vấn đề quản lý tác quyền âm nhạc ở Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong những năm gần đây. Tuy nhiên quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc được pháp luật quy định như thế nào?. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái niệm quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc là gì

Tác quyền hay còn được gọi là quyền tác giả theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Luật sở hở hữu trí tuệ thì quyền tác giả là quyền của tổ chức cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra.

Âm nhạc là một trong những nguồn giải trí không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Với ca từ và giai điệu phản ánh trí tuệ, tư tưởng của con người nhàm truyền đạt mạnh mẽ đến cảm xúc và suy nghĩa của con người do đó âm nhạc mang đến cho mọi người hạnh phúc và yêu đời hơn.

Do đó, quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc là quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác và thực thi các quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, bao gồm việc quản lý các quyền tài sản và quyền nhân thân để đảm bảo rằng các tác giả, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc được bảo vệ quyền lợi và nhận được thù lao xứng đáng cho công sức sáng tạo của mình.

Quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc

2. Quyền quản lý tác quyền trong lĩnh vực âm nhạc

Tại Việt Nam, quyền quản lý tác quyền âm nhạc được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quản lý tập thể quyền (đại diện) quyền tác giả. Cụ thể như sau:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Căn cứ Điều 35 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định thẩm quyền của cơ quan cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan như sau:

  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có thẩm quyền cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ,
  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 của Luật sở hữu trí tuệ.
  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp lại trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị mất hoặc rách nát.
  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp đổi trong trường hợp thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc thay đổi thông tin về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị hủy bỏ hiệu lực trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 55 của Luật sở hữu trí tuệ.
  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định các mẫu Tờ khai đăng ký quyền tác giả, Tờ khai đăng ký quyền liên quan, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 50 và khoản 4 Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ.

Theo đó, cơ quan có thẩm quyền quyết định là Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL). Thông tin và địa chỉ Cục Bản quyền tác giả và các Văn phòng đại diện:

  • Trụ sở chính của Cục Bản quyền tác giả: Địa chỉ:33 Ngõ 294/2 Kim Mã, Quận Ba Đình, Hà Nội.
  • Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại TP. Hồ Chí Minh: Địa chỉ:170 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
  • Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại Đà Nẵng: Địa chỉ: 58 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng.
  • Đối với tổ chức tập thể quyền(đại diện) quyền tác giả

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều cơ chế để đảm bảo quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và quyền liên quan đến tác phẩm âm nhạc như: pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật hành chính, hình sự. Bên cạnh cơ chế tự bảo vệ của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật sở hữu trí tuệ thì còn có những tổ chức phi chính phủ được thành lập với chức năng nhiệm vụ bảo vệ các quyền, quyền liên quan đối với các chủ thể trong quan hệ pháp luật.

Quản lý tập thể quyền tác giả là một cơ chế quan trọng để bảo vệ và khai thác quyền tác giả một cách hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc là khả năng cấp phép cho người dùng để sử dụng toàn bộ kho tác phẩm do tổ chức quản lý tập thể đó quản lý hoạt động cấp phép góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa các tổ chức quản lý tập thể và các đơn vị sử dụng khác.

Có hai phương thức quản lý tập thể quyền phổ biến ở Việt Nam bao gồm:

  • Phương thức thứ nhất: các tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm đã thỏa thuận trả phí trực tiếp với các tác giả khi sử dụng tác phẩm của họ.
  • Phương thức thứ hai: các tác giả có thể giao kết hợp đồng ủy quyền quản lý và khai thác quyền với một tổ chức quản lý tập thể để được hưởng thù lao cho các tác phẩm của mình.

Độc quyền sử dụng và cấp phép sử dụng là quyền quan trọng nhất của tác giả đối với tác phẩm của mình. Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả không chỉ đại diện mang tính chất tập thể cho cộng đồng tác giả mà còn là tiếng nói chung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, việc vi phạm bản quyền và không trả tiền tác quyền cho tác giả xảy ra thường xuyên, điều này không chỉ xâm phạm quyền lợi của tác giả mà còn cho thấy vai trò thực tế của các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả vẫn chưa được tôn trọng và đánh giá cao.

Ở Việt Nam, VCD cũng là một tổ chức quản lý tập thể quyền tác tác giả, quyền liên quan. VCD được thành lập dựa trên những yêu cầu thực tiễn cho thấy việc hình thành một tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả là hệ quả tất yếu. Ngoài việc cung cấp dịch vụ đăng ký và khai thác quyền tác giả, quyền liên quan VCD còn đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp pháp lý về bản quyền cho các nghệ sĩ nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của họ.

Bản quyển âm nhạc giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI)

Xung đột bản quyền giữa các nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) hiện vẫn là vấn đề nóng trong ngành công nghiệp âm nhạc. Hiện nay, việc sử dụng dịch vụ AI tạo sinh đang lan rộng và được ứng dụng vào lĩnh vực sáng tạo nội dung ngày càng cao. Điều này khiến nhiều người e ngại về việc xung đột bản quyền dựa trên tiền đề sáng tạo âm nhạc của con người. Bài viết “Bản quyển âm nhạc giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI)” của VCD dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

1.Bản quyển âm nhạc giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI)

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc được hiểu là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Do đó, bản quyền âm nhạc được hiểu là quyền của tác giả đối với tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn kể từ thời điểm mà tác giả tạo ra tác phẩm.

Nhà sáng tạo âm nhạc(con người) là một cá nhân hoặc nhóm người tham gia vào quá trình sáng tác, sản xuất, và biểu diễn các tác phẩm âm nhạc. Nhà sáng tạo theo truyền thống thì quyền sở hữu bản quyền âm nhạc thuộc về con người là những nhạc sĩ, nhà sản xuất hoặc tổ chức đã sáng tạo ra tác phẩm âm nhạc.

AI là sự mô phỏng các quá trình thông minh của con người bằng máy móc, đặc biệt là hệ thống máy tính. Các ứng dụng cụ thể của AI bao gồm hệ thống chuyên gia, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận dạng giọng nói và thị giác máy. Nói một cách đơn giản, AI là một sản phẩm do con người tạo ra, nhằm mục đích hỗ trợ và giải đáp những thắc mắc của con người.

Tranh chấp bản quyền âm nhạc giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) là sự xung đột pháp lý và đạo đức liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng, và quyền lợi tài chính đối với các tác phẩm âm nhạc được tạo ra bởi công nghệ AI. Các tranh chấp này phát sinh từ việc xác định ai là chủ sở hữu bản quyền hợp pháp của những tác phẩm này và ai được hưởng các quyền lợi liên quan khi AI tham gia vào quá trình sáng tạo âm nhạc.

Bản quyển âm nhạc giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI)

2. Tranh chấp bản quyền giữa nhà sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay

Mới nhất vào ngày 24/6/2024, Sony Music Entertainment, Warner Records, Capitol Records và những hãng thu âm khác đã đệ đơn kiện vi phạm bản quyền lên tòa án liên bang ở Boston và New York, cho rằng “Suno và Udio đã sao chép tác phẩm để đời của các nghệ sĩ và khai thác nó để kiếm lợi nhuận mà không có sự đồng ý hoặc trả tác quyền” cáo buộc rằng các startup AI âm nhạc này đang khai thác trái phép các tác phẩm đã ghi âm của nhiều nghệ sĩ, từ Chuck Berry đến Mariah Carey.

Vụ kiện cáo buộc phần mềm “ăn cắp” bài hát để tạo ra các giai điệu tương tự, yêu cầu bồi thường 150.000 đô la cho mỗi tác phẩm. Nếu bị kết tội, số tiền bồi thường mà Suno và Udio phải gánh chịu có thể lên tới con số khổng lồ. Động thái cứng rắn này cho thấy rõ quyết tâm của ngành công nghiệp âm nhạc trong việc thiết lập một khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho AI, đồng thời răn đe những công ty khác có ý định huấn luyện mô hình AI mà chưa được sự đồng ý.

Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) là đơn vị khởi xướng các vụ kiện này, với mục tiêu khẳng định “không có ngoại lệ nào cho công nghệ AI trước luật bản quyền và các công ty AI không thể đứng ngoài vòng pháp luật”.

Suno ra mắt sản phẩm đầu tiên vào năm 2023 và cho biết đã có hơn 10 triệu người sử dụng công cụ của họ để sáng tạo nhạc. Công ty này có quan hệ đối tác với Microsoft, hiện thu phí hằng tháng cho dịch vụ của mình và gần đây đã công bố họ huy động được 125 triệu USD từ các nhà đầu tư. Trong khi đó, Udio có trụ sở tại New York, được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng như Andreessen Horowitz, ra mắt công chúng vào tháng 4.2024 và nhanh chóng nổi tiếng vì là công cụ được sử dụng để tạo ra BBL Drizzy – một bài hát “chế” liên quan đến mâu thuẫn giữa hai rapper nổi tiếng Kendrick Lamar và Drake.

RIAA khẳng định, các bản nhạc do phần mềm của hai công ty này tạo ra giống với tác phẩm gốc đến mức khó tin, chứng tỏ chúng đã được huấn luyện bằng chính những bản nhạc có bản quyền. Theo The Wall Street Journal, các công ty AI đã tạo ra sản phẩm giống hệt My Girl của The Temptations, American Idiot của Green Day, All I Want for Christmas Is You của Mariah Carey… cùng nhiều ca khúc nổi tiếng khác. Thậm chí, phần mềm có thể tạo ra giọng hát “giả mạo” không thể phân biệt với giọng thật của các nghệ sĩ như Lin-Manuel Miranda, Bruce Springsteen, Michael Jackson và ABBA…

Dù không phản đối việc AI học hỏi từ các tác phẩm có bản quyền, nhưng RIAA cho rằng, việc sử dụng dữ liệu không có giấy phép và sự đồng ý của chủ sở hữu bản quyền là hành vi vi phạm pháp luật, bởi các hãng thu âm (và chính các nghệ sĩ) không hề nhận được bất kỳ khoản lợi nhuận nào. AI không thể biện minh cho việc không tuân thủ “luật chơi”, và hành vi đánh cắp quy mô lớn các bản ghi âm đã và đang đe dọa “toàn bộ hệ sinh thái âm nhạc”.

Trên thực tế, ngành công nghiệp ghi âm đang nỗ lực xây dựng thỏa thuận hợp tác với các công ty AI, cho phép họ sử dụng dữ liệu âm nhạc một cách hợp pháp và đảm bảo lợi ích cho cả hai bên. Điển hình như thỏa thuận giữa Universal và SoundLabs, cho phép SoundLabs tạo ra mô hình giọng hát nhưng vẫn đảm bảo quyền sở hữu và kiểm soát sản phẩm cuối cùng. Universal cũng hợp tác với YouTube trong thỏa thuận cấp phép và trả phí bản quyền cho nội dung do AI tạo ra.

Qua đây, VCD thấy rằng sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật đặt ra nhiều thách thức mới về bản quyền. Hiện tại, các luật bản quyền hiện hành chưa đủ linh hoạt và không thể áp dụng một cách trực tiếp cho các tác phẩm âm nhạc được tạo ra hoặc phát triển bởi AI. Để đảm bảo quyền lợi cho các nghệ sĩ và nhà sản xuất âm nhạc, cũng như khuyến khích sự sáng tạo và phát triển của AI trong lĩnh vực này, các tổ chức và nhà lập pháp đang phải xem xét và đưa ra các quy định mới.

Bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo

Vấn đề bản quyền hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong lĩnh vực truyền thông và quảng cáo trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam.Tại Việt Nam, có nhiều trường hợp vi phạm bản quyền trong quảng cáo đã được ghi nhận, chẳng hạn như sử dụng một bài hát nổi tiếng trong video quảng cáo mà không có sự cho phép của tác giả hay sử dụng hình ảnh hoặc logo của một thương hiệu khác mà không có sự đồng ý, dẫn đến vi phạm quyền nhãn hiệu. Do đó việc hiểu rõ quy định của pháp luật Sở hữu Trí tuệ về bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo là cần thiết. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề này.

1. Khái niệm bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo

Bản quyền âm nhạc theo quy định của Luật sở hữu Trí tuệ là quyền của tác giả đối với tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn kể từ thời điểm mà tác giả tạo ra tác phẩm.

Quảng cáo là hình thức truyền thông để giới thiệu, quảng bá sản phẩm, dịch vụ, hoặc thương hiệu đến khách hàng mục tiêu. Âm nhạc thường được sử dụng trong quảng cáo để tạo ấn tượng và tăng cường hiệu quả truyền tải thông điệp.

Như vậy, bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo là việc sử dụng hợp pháp các tác phẩm âm nhạc (như bài hát, bản nhạc) trong các nội dung quảng cáo, đồng thời tuân thủ các quy định về quyền tác giả. Việc này đòi hỏi các nhà sản xuất quảng cáo phải xin phép sử dụng và trả tiền bản quyền cho các tác giả, nhạc sĩ, và nhà sản xuất âm nhạc thông qua các tổ chức quản lý quyền tác giả.

Bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo

2. Quy định của pháp luật về bản quyền âm nhạc trong chương trình quảng cáo

Theo quy định tại Điều 26. Giới hạn quyền tác giả Luật Sở hữu Trí tuệ quy định như sau:

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;

b) Trường hợp tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại thì tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình này trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.

Khi các tổ chức phát sóng mà phát sóng các chương trình quảng cáo, thì sẽ không cần phải xin phép, nhưng cần phải trả tiền nhuận bút hoặc trả thù lao, việc tiến hành sẽ như sau:

Trường hợp 1: Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật;

Trường hợp 2: Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

Tuy nhiên cần lưu ý rằng sử dụng các lời bài hát không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Có một số trường hợp trong quảng cáo được miễn phí bản quyền, nếu như tác phẩm được sử dụng trong quảng cáo đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản (thông thường là 50 năm sau khi tác giả qua đời), thì tổ chức, cá nhân có thể sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép và trả tiền bản quyền, tuy nhiên vẫn cần nêu tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm được sử dụng trong quảng cáo.

Nếu một quảng cáo sử dụng hình ảnh, âm thanh, video được cung cấp bởi một bên thứ ba, doanh nghiệp cần yêu cầu bên thứ ba đó cung cấp các văn bản chứng minh quyền này, ví dụ như hợp đồng ủy quyền quản lý, khai thác tác phẩm hoặc hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, hợp đồng sử dụng tác phẩm… trong đó ghi nhận bên thứ ba có quyền cho phép chủ thể khác sử dụng tác phẩm.

Một số trường hợp quảng cáo sử dụng một tác phẩm được bảo vệ bản quyền mà không được sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền, nhưng lại không có lợi nhuận kinh doanh từ việc đó. Việc này không thuộc các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ. Do đó, trường hợp này vẫn bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Ngoài ra, trường hợp một doanh nghiệp sử dụng các tác phẩm sáng tạo như một phần của chiến dịch quảng cáo, doanh nghiệp phải xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, nếu không sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ trường hợp tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản.

Do đó, VCD thấy rằng việc tuân thủ các quy định về bản quyền âm nhạc trong quảng cáo không chỉ bảo vệ quyền lợi của các tác giả mà còn giúp bạn tránh các rủi ro pháp lý. Điều này đảm bảo rằng âm nhạc được sử dụng trong quảng cáo mang lại hiệu quả tốt nhất và tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ.

Nhà sản xuất có quyền gì đối với bản ghi âm ghi hình

Quyền liên quan là một hình thức khác của pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu. Đối tượng bảo hộ của quyền liên quan cũng thuộc hầu hết các lĩnh vực. Bản ghi âm, ghi hình là một trong những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền liên quan. Tuy nhiên, không phải tất cả các bản ghi âm, ghi hình được tạo ra đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Vậy pháp luật quy định như thế nào về quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi âm ghi hình?. Hãy theo dõi bài viết “Nhà sản xuất có quyền gì đối với bản ghi âm ghi hình” dưới đây của VCD.

1. Quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi âm ghi hình là gì

Bản ghi âm, ghi hình: Theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP có đưa ra cách hiểu vê bản ghi âm, ghi hình như sau: Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự. Bản ghi âm, ghi hình có thể là bản ghi nhằm mục đích phổ biến tin tức trên dịch vụ phát thanh, truyền hình, không gian mạng; bản ghi chương trình biểu diễn nghệ thuật; bản ghi lại hoạt động của một hoặc nhiều người, mô tả các sự kiện, tình huống hoặc chương trình thực tế.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác.

Như vậy, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hiểu là các quyền mà nhà sản xuất có được đối với các sản phẩm mà họ đã tạo ra, bao gồm các bản ghi âm (như album nhạc, bài hát) và bản ghi hình (như video ca nhạc, phim ảnh). Các quyền này được pháp luật công nhận và bảo vệ, nhằm giúp nhà sản xuất kiểm soát việc sử dụng và phân phối các sản phẩm của mình. Quyền này thường bao gồm quyền sao chép, phân phối, trình diễn công cộng, phát sóng, và tạo ra các tác phẩm phái sinh từ bản ghi âm, ghi hình đó.

Nhà sản xuất có quyền gì đối với bản ghi âm ghi hình

2. Quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi âm ghi hình

Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ  sau đây:

a) Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;

b) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

c) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của nhà sản xuất;

d) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.

  • Lưu ý: Tại quy định khoản 2 Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ  tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền theo quy định nêu trên tại Mục này phải:

+ Được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình;

+ Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền nêu trên phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ các trường hợp sau đây:

  • Sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
  • Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
  • Thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả, trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật và giới hạn quyền tác giả quy định tại Luật sở hữu trí tuệ.
  • Thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền liên quan và giới hạn quyền liên quan quy định tại Luật sở hữu trí tuệ.
  • Thời gian bảo hộ quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi âm ghi hình theo Khoản 2 Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ:
  • Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố.

Như vậy, theo quy định, thời hạn bảo hộ quyền liên quan của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố. Thời hạn bảo hộ này sẽ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan.