Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế

Ngày 26/10/2004, Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Sau nhiều lần sửa đổi, Công ước Berne đang đáp ứng được những yêu cầu bảo hộ Quyền tác giả trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Vì vậy, là thành viên của Công ước Berne, Việt Nam đã từng bước nghiên cứu và ban hành các quy định về Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu mà Công ước này đặt ra cho các Quốc gia thành viên, trong đó phải kể đến hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế.

1. Bảo hộ quyền tác giả là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “bảo hộ” có nghĩa là sự che chở và không dễ bị tổn thất. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả chính là sự đảm bảo của Nhà nước đối với các tác phẩm để các tác phẩm đó không bị xâm phạm hay tổn thất bởi người khác. Thông qua các quy định của pháp luật để xác định các quyền của các chủ thể đối với tác phẩm, xác định hành vi bị coi là xâm phạm cũng như thiết lập các phương thức bảo vệ quyền của tác giả, Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo hộ của mình một cách thuyết phục nhất. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lần đầu được quy định trong Phần thứ V của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Bảo hộ quyền tác giả theo công ước Berne Là tuân thủ các quy định về bảo hộ quyền tác giả theo như :

  • Về đối tượng: căn cứ điều 2 công ước Berne như sau:
    • 1. Tác phẩm văn học và nghệ thuật; 
    • 2. Khả năng yêu cầu sự định hình;
    • 3. Tác phẩm phái sinh; 
    • 4. Văn bản chính thức;
    • 5. Sưu tập;
    • 6. Nghĩa vụ bảo hộ, chủ thể hưởng sự bảo hộ; 
    • 7. Tác phẩm mĩ thuật ứng dụng và kiểu dáng công nghiệp;
    • 8. Tin tức
  • Hình thức của tác phẩm được bảo hộ: phải được thể hiện dưới dạng vật chất.
  • Thời hạn bảo hộ.
  • Ngoài ra, liên quan đến quyền bảo hộ còn phải tuân thủ các nguyên tắc như:
    • (1) Nguyên tắc đối xử quốc gia;
    • (2) Bảo hộ đương nhiên;
    • (3) Bảo hộ độc lập.

2. Quyền tác giả có hiệu lực quốc tế không?

Một tác phẩm sáng tạo được coi là được bảo hộ quyền tác giả ngay khi được tạo ra. Theo hai công ước quốc tế về quyền tác giả (đặc biệt là Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật), các tác phẩm văn học và nghệ thuật được bảo hộ mà không cần tiến hành thủ tục bất kỳ tại nước thành viên của các công ước này (151 quốc gia tính đến tháng 8 năm 2003 – danh sách các quốc gia thành viên ở Phụ lục VII). Quy định này cũng được áp dụng đối với tất cả thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới.

Quyền tác giả được quy định khá rông trong công ước Berne. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 3 và Điều 5 Công ước Berne quy định về quy tắc bảo hộ quyền tác giả quốc tế khá chi tiết như sau:

  • Về quy mô: tác phẩm được bảo hộ có thể là của công dân của một nước là thành viên của Công ước Berne hoặc không phải nhưng là công dân của một trong những nước là thành viên của Liên hiệp mà công bố lần đầu tiên ở một trong những nước thành viên của Liên hiệp, có nơi cư trú thường xuyên ở một trong những nước trên vẫn được tự động bảo hộ kể cả đã đăng kí văn bằng bảo hộ hay chưa.
  • Về pháp luật điều chỉnh: ngoài công ước này, việc bảo hộ quyền tác giả còn được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia gốc. Điều 5 quy định về quốc gia gốc như sau:

“a) Quốc gia thành viên Liên hiệp, nơi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Tuy nhiên, nếu là tác phẩm được công bố đồng thời ở nhiều nước thành viên Liên hiệp có thời hạn bảo hộ khác nhau thì Quốc gia gốc của tác phẩm là Quốc gia có thời hạn bảo hộ ngắn nhất”.

Vì vậy, không có thủ tục đăng ký quốc tế để bảo hộ quyền tác giả như sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Trong khi không có thủ tục quốc tế nào về đăng ký bảo hộ quyền tác giả ở nước ngoài và tác phẩm của bạn sẽ tự động được bảo hộ mà không cần đăng ký ở tất cả các quốc gia thành viên của Công ước Berne.

Mặc dù vẫn còn một vài điểm khác biệt nhưng Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đều quy định bảo hộ các tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ. Ngoài ra, công ước Berne và Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đều quy định về việc bảo hộ đương nhiên, cụ thể là một tác phẩm được tạo ra bởi trí tuệ sẽ được tự động bảo hộ kể cả công bố, đăng kí văn bằng bảo hộ hay chưa.

Trên đây là bài viết: “Hiệu lực bảo hộ quyền tác giả theo Công ước quốc tế”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn”.

Không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không?

Đối với tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm, việc đăng ký quyền tác giả sẽ là sự ghi nhận công sức, sự sáng tạo của họ, là lá bùa hộ mệnh để chứng minh nếu như có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, thực tế, vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh việc đăng ký quyền tác giả. Và, liệu không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không? Hãy cùng theo dõi bài viết của chúng tôi dưới đây.

1. Đăng ký bản quyền tác giả là gì?

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, phần mềm máy tính… Khi một tác phẩm được sáng tạo thì tác giả, hay chủ sở hữu tác phẩm sẽ có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm đó.

Đăng ký quyền tác giả là việc mà tác giả, chủ sở hữu làm thủ tục đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm mục đích xác lập, tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm thông qua Giấy chứng nhận. Đây như là một sự công nhận có căn cứ theo pháp luật cho sự sáng tạo; công sức của tác giả với đứa con tinh thần của họ. Hiện nay, việc đăng ký bản quyền tác giả không phải là bắt buộc nhưng chỉ những chủ thể có đủ điều kiện sau mới có quyền đăng ký quyền tác giả:

  • Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra sản phẩm, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam như trên.
  • Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm có thể là cá nhân, pháp nhân trong nước hoặc cá nhân, pháp nhân nước ngoài đều có quyền nộp đơn đăng ký bản quyền tác giả  cho tác phẩm của mình tại Cục Bản quyền tác giả.

Khi tiến hành nộp đơn đăng ký cá nhân, pháp nhân trong nước có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức đại diện quyền tác giả thay mặt mình nộp đơn đăng ký tới cơ quan đăng ký. Đối với cá nhân, pháp nhân nước ngoài muốn đăng ký bản quyền tác giả  tại Việt Nam sẽ ủy quyền cho tổ chức đại diện quyền tác giả nộp đơn đăng ký cho tác phẩm tại Việt Nam.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”. Theo đó, quyền tác giả được bảo hộ khi thỏa mãn 02 điều kiện:

  •  Có tính định hình (fixation): thể hiện dưới dạng vật chất nhất định;
  • Có tính nguyên gốc (originalilty): được hiểu là do chính tác giả sáng tạo ra tác phẩm, và tác phẩm này phải là kết quả của sự sáng tạo nguyên bản đầu tiên.

Vì vậy, ngay sau khi hoàn thành tác phẩm và mặc dù chưa tiến hành thủ tục đăng ký bản quyền, quyền tác giả vẫn sẽ phát sinh từ thời điểm đó. Khi có tranh chấp xảy ra, bên cạnh căn cứ theo Giấy chứng nhận bản quyền tác giả, Cơ quan Nhà nước sẽ căn cứ theo thời điểm mà tác phẩm đó được sáng tạo và định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

3. Tác dụng của việc đăng ký quyền tác giả

Mặc dù đăng ký bản quyền không phải là bắt buộc. Tuy nhiên nếu tác giả chủ sở hữu tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả với Cục bản quyền tác giả sẽ mang lại rất nhiều thuận lợi. Sau khi làm thủ tục đăng ký quyền tác giả thì tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm được cấp Giấy chứng nhận bản quyền tác giả. Đây là sự chứng nhận cho sự sáng tạo của tác giả các phần thưởng xứng đáng, động viên tinh thần làm việc cho người sáng tạo. Đặc biệt, việc đăng ký sẽ là cơ sở xác nhận thời điểm phát sinh quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm.

Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả nhằm đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng tác phẩm đó.

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là bằng chứng tốt nhất chứng minh quyền sở hữu của tác giả đối với tác phẩm. Bởi vì, trong thực tế việc chứng minh quyền sở hữu tác phẩm khi chưa được đăng ký bảo hộ là rất khó khăn.

Nếu tác giả phát hiện có người sử dụng trái phép tác phẩm của mình, tác giả có thể yêu cầu người sử dụng đó ngừng sử dụng và có thể đòi bồi thường thiệt hại. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tác giả đã đăng ký bản quyền tác giả.

Giấy chứng nhận bản quyền tác giả là một loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tác phẩm, được sử dụng khi định giá tài sản của công ty trong trường hợp cổ phần hóa, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Trên đây là bài viết “Không đăng ký bản quyền tác giả, tác phẩm có được bảo hộ không?”. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế

Việc đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm đã và đang trở thành một thủ tục tất yếu khi vấn đề xâm phạm bản quyền, sử dụng mà không xin phép sự đồng ý của tác giả diễn ra ngày một phổ biến. Tuy nhiên, thực tế việc đăng ký quyền tác giả là một thủ tục phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, dẫn đến thực trạng nhiều tác giả hay các chủ thể khác đăng ký thường sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Vì vậy, bài viết này sẽ tập trung khai thác về đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế

1. Thủ tục đăng ký quyền tác giả

Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Theo đó, quyền tác giả được bảo hộ khi thỏa mãn 02 điều kiện: (1) có tính định hình, được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định; (2) có tính nguyên gốc, tác phẩm đó phải được sáng tác lần đầu tiên và được chính tác giả đó sáng tác.

Hiện nay, việc đăng ký quyền tác giả sẽ dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022); Nghị định 17/2023/NĐ – CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan; Thông tư 08/2023 quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.

  • Xác định thể loại tác phẩm đăng ký

Trước khi chuẩn bị hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả, chủ sở hữu, tác giả thực hiện phải xác định thể loại tác phẩm dự định đăng ký thuộc trường hợp tác phẩm nào theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

  • Chuẩn bị, soạn thảo hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả

Sau khi xác định được loại hình tác phẩm dự định đăng ký bàn quyền, chủ sở hữu, tác giả tác phẩm tiến hành soạn thảo hồ sơ đăng ký bản quyền theo quy định pháp luật.

Về cơ bản, khi đăng ký bản quyền tác giả, tác giả cần chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu (bằng tiếng Việt) như sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu tương ứng tại Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 06 năm 2023 Thông tư quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan).
  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký bản quyền tác giả. Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh bản sao tác phẩm đăng ký được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều.
  • Trường hợp tác giả, chủ sở hữu ủy quyền cho tổ chức khác thì phải có thêm giấy ủy quyền, còn nếu ủy quyền cho cá nhân khác thì văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung;
  • Chứng minh nhân dân công chứng của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty (nếu chủ sở hữu là công ty).
  • Nộp hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả

Có ba con đường để nộp hồ sơ đăng ký bản quyền: (1) nộp trực tiếp tại Cục Bản quyền; (2) nộp qua đường bưu điện; (3) nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công trực tuyến.

2. Một số khó khăn thực tế khi đăng ký quyền tác giả

Tuy việc đăng ký quyền tác giả đã và đang trở phổ biến nhưng trên thực tế, việc đăng ký này vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn:

Thứ nhất, thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký chậm hơn so với quy định. Theo quy định của pháp luật, thời gian để Cục Bản quyền xử lý, tra soát tính hợp lệ của hồ sơ là 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ. Trường hợp hồ sơ hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 15 ngày làm việc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Tuy nhiên một thực trạng chung các hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm, đơn giản như tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm viết, tác phẩm nhiếp ảnh … thì thời gian thực hiện trên thực tế thường cũng phải kéo dài đến hơn một tháng, hoặc thậm chí là hơn hai tháng. Điều này có lẽ một phần cũng xuất phát từ việc lượng hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả ngày càng tăng qua các năm dẫn đến quá tải.

Thứ hai, tên và nội dung của tác phẩm đăng ký bảo hộ với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng cần lưu ý loại bỏ từ “biểu ngữ” hay “slogan” ra khỏi tên tác phẩm. Trong khoảng 2-3 năm trở lại ây Cục bản quyền thường không được chấp thuận các tác phẩm đăng ký chứa các cụm từ trên với lý do, việc bảo hộ quyền tác giả không bảo hộ “slogan”.

Thứ ba, hệ thống tra cứu các hồ sơ đã đăng ký bản quyền còn sơ khai. Hiện tại, các tác phẩm đã được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả chỉ có thể tra cứu được trên một kênh duy nhất là tại mục tra cứu niên giám trên website của cục bản quyền. So với các kênh tra cứu về sở hữu công nghiệp thì tra cứu này còn quá thô sơ và lượng thông tin được cập nhật vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tra cứu của khách hàng.

Bên cạnh đó, vẫn còn một vài khó khăn còn tồn tại như:

  • Quá trình chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và giấy tờ liên quan rất khó để tự tìm hiểu và chuẩn bị. Hồ sơ tiến hành đăng ký có thể không hợp lệ, thiếu, thậm chí là sai gây nên mất thời gian cho quá trình giải quyết sau này;
  • Các trường hợp ở xa không thuận tiện đi lại, nộp phí đăng ký qua hình thức chuyển khoản sau đó nộp hồ sơ qua đường bưu điện đến cơ quan có thẩm quyền. Đây là quá trình gây ra nhiều vấn đề phát sinh nhất mà chủ thể tiến hành cần giải quyết vì sẽ không nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ phía cơ quan chức năng;
  • Nộp hồ sơ xong cần theo dõi tình trạng của hồ sơ đăng ký để kịp thời trả lời bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có vấn đề phát sinh.
  • Khó khăn để tiến hành hoàn thiện và bổ sung hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật.

Việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan có nhiều lợi ích là vậy, thêm vào đó hướng dẫn về thủ tục và hồ sơ đăng ký quyền tác giả quyền liên quan cũng được cục bản quyền đăng tải rất chi tiết trên website của cục bản quyền đã tạo rất nhiều thuận lợi cho người dân trong quá trình xác lập quyền tác giả. Quy định về việc đăng ký quyền tác giả giấy trắng mực đen đơn giản là thế nhưng đến khi đăng ký quyền tác giả trên thực tế mới thấy những bất cập và khó khăn. Vì vậy, để tránh mất nhiều thời gian, tác giả hay chủ sở hữu tác phẩm nên tìm đến các tổ chức dịch vụ, tư vấn có kinh nghiệm để được hỗ trợ và xử lý kịp thời.

Trên đây là bài viết: “Đăng ký quyền tác giả và một số khó khăn thực tế”. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các bạn.

Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Hiện nay, việc chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức diễn ra rất phổ biến. Quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả là đối tượng được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, để sử dụng và bảo hộ các quyền này cần có sự cho phép của chủ thể mang quyền thông qua hoạt động chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan. Pháp luật hiện hành cũng có những quy định cụ thể về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ) quy định quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan) là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.

Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan là người được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu có thể tự mình sử dụng hoặc cho người khác sử dụng; họ cũng có quyền định đoạt, chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đó cho người khác. Chủ sở hữu có thể định đoạt một số quyền thuộc quyền sở hữu của mình thông qua việc từ bỏ, để kế thừa hoặc chuyển nhượng các quyền năng đó cho người khác thông qua hợp đồng.

Khoản 1 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chung về chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau: “Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Như vậy có thể hiểu, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là văn bản thể hiện sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Theo đó, bên chuyển nhượng là chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu một hoặc một số quyền nhân thân, quyền tài sản của mình cho bên nhận chuyển nhượng là cá nhân, tổ chức theo hình thức, phạm vi, thời hạn… được hai bên xác định trong hợp đồng.

2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Hợp đồng quyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là hợp đồng dân sự đặc biệt. Bên cạnh đặc điểm của hợp đồng dân sự như mang tính chất song vụ, ưng thuận; có đền bù hoặc không có đền bù thì hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả còn có các đặc điểm riêng sau:

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan có đối tượng là quyền nhân thân và quyền tài sản. Nếu như đối tượng của hợp đồng dân sự chỉ có thể là tài sản hoặc công việc thì đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan còn có đối tượng là quyền nhân thân. Thông thường quyền nhân thân này là quyền nhân thân gắn với tài sản và theo quy định của pháp luật có thể chuyển giao được. Tuy nhiên quyền nhân thân là một đối tượng rất hạn chế và chỉ có một số quyền nhân thân nhất định được pháp luật quy định mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng này.

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả quyền liên quan là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu: Do đối tượng của hợp đồng là những quyền năng mang tính chất vô hình nên việc “chuyển giao” ở đây thể hiện sự chuyển giao về mặt pháp lí. Bên được chuyển nhượng sẽ được sở hữu đối với đối tượng của hợp đồng kể từ một trong ba thời điểm sau: (1) thời điểm hợp đồng có hiệu lực; (2) thời điểm các bên có thoả thuận khác; (3) pháp luật có quy định khác. Cũng kể từ thời điểm chuyển giao đó, bên chuyển nhượng sẽ chấm dứt tư cách chủ sở hữu đối với các quyền đã chuyển giao. Do vậy, sau khi chuyển nhượng, bên chuyển nhượng không có quyền sử dụng cũng như định đoạt các quyền năng đó.

3. Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 46 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;

b) Căn cứ chuyển nhượng;

c) Giá, phương thức thanh toán;

d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

2. Việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ở đây, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cũng mang đặc trưng của một hợp đồng dân sự, bao gồm: tên, địa chỉ của hai bên; căn cứ chuyển nhượng; giá cả, phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ của các bên và trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng xảy ra. Vì vậy, việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cần lưu ý là giá của nghệ thuật nói chung và giá trị của tác phẩm nói riêng không thể định lượng như vật chất được mà tùy thuộc vào yếu tố chủ quan, khách quan, khả năng cảm nhận, đánh giá của các bên… để đưa ra con số hợp lý trong hợp đồng.

Ngoài ra, Luật sở hữu trí tuệ cũng có quy định mới về trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì “việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác” (khoản 3 Điều 45). Bên cạnh đó, trường hợp tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh thì vẫn được quyền chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh cho tổ chức, cá nhân khác và được hưởng thù lao từ việc chuyển nhượng quyền đó. Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền này chỉ được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả được xác định.

Trên đây là bài viết: “Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan”. Mong rằng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được bảo hộ?

Một tác phẩm có thể phổ biến đến công chúng theo nhiều cách khách nhau. Tuy nhiên, để tác phẩm nghệ thuật đó được công chúng biến đến rộng rãi thì tác phẩm đó cần được thể hiện trên các chương trình, nền tảng âm nhạc đại chúng. Một buổi biểu diễn, bên cạnh việc sáng tác của tác giả thì người biểu diễn phải trình bày tác phẩm đó trên các chương trình, nền tảng xã hội với sự hỗ trợ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Vậy, cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được pháp luật bảo hộ?

1. Định nghĩa cuộc biểu diễn

Nghệ thuật là một loạt các hành động, mang tính đặc trưng của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn là hoạt động tạo ra những sản phẩm nghệ thuật được định hình dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh để truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật tới công chúng. Hoạt động này được thể hiện dưới các hình thức như biểu diễn nghệ thuật; lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật. Khoản 3 Điều 2 Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định về hoạt động biểu diễn có giải thích “loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam và thế giới”.

Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2023, gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ), “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Như vậy, cuộc biểu diễn được hiểu là hoạt động nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian; được truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật nhằm tiếp cận công chúng.

2. Điều kiện để cuộc biểu diễn được bảo hộ theo quy định pháp luật

Tuy nhiên, không phải cuộc biểu diễn nào cũng được Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung bảo hộ. Căn cứ theo khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ, để cuộc biểu diễn được bảo hộ thì phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;

b) Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;

c) Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật này;

d) Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này;

đ) Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Theo nguyên tắc hiệu lực lãnh thổ của quyền tắc giả thì nơi thực hiện cuộc biểu diễn cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp định song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc ký kết. Ngoài các nguyên tắc được quy định trong các Điều ước quốc tế như nguyên tắc đối xử công dân, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Hiệp định TRIPS), Khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường hợp cụ thể khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, cuộc biểu diễn này phải đảm bảo được thực hiện lần đầu hoặc được định hình lần đầu (điều kiện về hình thức hoặc thực hiện). Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn được  định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

Theo điểm c Điều 2 Hiệp ước về cuộc biểu diễn và bản ghi âm của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (gọi tắt là Hiệp ước WPPT) mà Việt Nam là thành viên có định nghĩa định hình “là sự biểu hiện các âm thanh, hoặc sự tái hiện lại biểu hiện này, từ đó các âm thanh có thể được cảm nhận, được sao chép hoặc truyền đạt qua một thiết bị nào đó.” Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan thì định hình được hiểu là: “sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt”. Vì vậy có thể hiểu, việc thực hiện cuộc biểu diễn thông qua chính hoạt động sáng tạo của người biểu diễn hoặc có sự kết hợp với một số các yếu tố có liên quan như màu sắc, bố cục, đường nét, hình khối, âm thanh để tạo nên cuộc biểu diễn. Trong hoạt động biểu diễn, tính sáng tạo của người biểu diễn là yếu tố quan trọng để hình thành nên hình tượng của họ, một trong các quyền nhân thân quan trọng mà pháp luật bảo hộ cho người biểu diễn.

Như vậy, bên cạnh căn cứ pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ, cuộc biểu diễn phải được định hình lần đầu, thể hiện sự sáng tạo của người biểu diễn và không gây tổn hại đến quyền tác giả. Khi đó, cuộc biểu diễn sẽ được bảo hộ bởi quyền liên quan một cách hoàn chỉnh nhất.

Trên đây là bài viết Cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được bảo hộ?”. Mong bài viết có ích cho các bạn.

Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

Với sự phát triển không ngừng nghỉ của xã hội với những biến chuyển của thế giới, việc cập nhật tin tức thời sự một cách nhanh chóng và chính xác là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với các cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Vì vậy, dưới góc nhìn của luật pháp nói chung và Luật Sở hữu trí tuệ nói riêng, một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao những tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

1. Quyền tác giả là gì?

Trước khi giải đáp câu hỏi trên, phải hiểu rằng quyền tác giả “là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” (Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2023, sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ). Còn tác phẩm “là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” căn cứ theo khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ.

Sự sáng tạo ở đây được hiểu là tác phẩm đó được tác giả tạo ra bằng trí tuệ, cảm xúc của mình và được thể hiện dưới một hình thức nhất định như truyện, thơ, tác phẩm điện ảnh… không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký và được Nhà nước bảo đảm quyền tự do sáng tạo của cá nhân trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt các quyền của mình có được từ tác phẩm và được bảo vệ khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Căn cứ để trở thành đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả

Quyền tác giả được bảo hộ khi tác phẩm có tính sáng tạo (tính nguyên gốc) và hình thức thể hiện tác phẩm (tính định hình). Tính nguyên gốc thể hiện ở chỗ tác phẩm đó phải là kết quả sáng tạo bằng trí tuệ của mình, không sao chép từ tác phẩm của người khác, thể hiện cái riêng của tác giả. Tính định hình được thể hiện bởi phương thức thể hiện tác phẩm đó bằng chữ viết, các ký tự, đường nét, hình khối bố cục…Vì vậy, Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Điều 14, bao gồm:

(1) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

(2) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

(3) Tác phẩm báo chí;

(4) Tác phẩm âm nhạc;

(5) Tác phẩm sân khấu;

(6) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

(7) Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;

(8) Tác phẩm nhiếp ảnh;

(9) Tác phẩm kiến trúc;

(10) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

(11) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

(12) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

3. Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan, “Tin tức thời sự thuần túy đưa tin quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo.”

Có thể hiểu đó là những tin tức mang tính chất “thời sự”, cần được chuyển đến công chúng nhanh nhất, chỉ là những bản tin, những số liệu, phản ánh các thông tin sự thật khách quan như: dịch bệnh, tai nạn, sự kiện diễn ra trong và ngoài nước… được thu thập, tổng hợp và phản ánh một cách chân thực những sự vật sự việc khách quan, mà không phải là sự thể hiện sự sáng tạo, hay những nét riêng khác biệt nào đó của cá nhân, hay chủ thể nào đó. Do vậy, tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, việc đăng tải lại tin tức thời sự sẽ không phải xin phép bằng văn bản nhưng cần có trích nguồn cụ thể, vừa đảm bảo độ chính xác thông tin, vừa thể hiện sự tôn trọng đối với tác giả. Tuy nhiên, nếu việc đăng tải lại thông tin này không chính xác so với thông tin gốc, ảnh hưởng đến uy tín và gây thiệt hại đối với tác giả, tác giả có quyền yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình đưa tin, nếu chủ thể là cá nhân, tổ chức có nêu thêm cảm nhận, đánh giá, nhận xét, bình luận thể hiện quan điểm và suy nghĩ của mình, thể hiện sự sáng tạo và cách nhìn khác đối với tin tức thời sự đó và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định hoặc bất kỳ phương tiện nào thì có thể được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trên đây là bài viết “Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?”. Mong bài viết có ích cho các bạn.

Tác phẩm có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó có là đồng chủ sở hữu?

Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là người thừa kế theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, vậy trường hợp có nhiều người được thừa kế thì những người thừa kế đó có là đồng sở hữu quyền tác giả hay không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Thừa kế quyền tác giả

Quyền tác giả quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó có một số quyền có thể để lại thừa kế theo quy định của pháp luật Dân sự.

Tài sản của cá nhân có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, mà có quyền tài sản nằm trong quyền tác giả. Vậy, khi cá nhân sở hữu quyền tác giả chết và để lại tài sản của mình cho người thừa kế thì quyền tác giả đương nhiên sẽ trở thành di sản thừa kế.

Điều 40 Luật SHTT có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, cụ thể:

Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.”

Theo đó, người được nhận thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này.

2. Đồng sở hữu quyền tác giả

Theo Điêu 208 Bộ luật Dân sự, việc xác lập quyền sở hữu chung được thực hiện theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. Một trong những trường hợp sở hữu chung được xác lập là do thừa kế. Trong trường hợp này, việc phân chia di sản thừa kế thuộc sở hữu chung của những người đồng thừa kế thực hiện theo quy định tại Điều 659 và Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

– Phân chia di sản theo di chúc: Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Phân chia di sản theo pháp luật: Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Theo quy định của pháp luật, những quyền tác giả được thừa kế đều là quyền không gắn liền với tác giả và có thể chuyển giao. Trên cơ sở đó, chủ sở hữu các quyền trên có thể là một hoặc nhiều người. Theo đó, nếu nhiều người được nhận thừa kế tác phẩm theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này.

Trong trường hợp thừa kế quyền tác giả theo pháp luật thì những người được thừa kế cùng hàng có quyền hưởng ngang nhau trong việc sử dụng, định đoạt tác phẩm. Nguyên tắc sử dụng, định đoạt tác phẩm do được thừa kế, những người thừa kế phải dựa trên cơ sở thỏa thuận. Nếu những người có quyền thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Khi có nhiều người cùng được thừa kế quyền tác giả theo di chúc thì họ được sử dụng, định đoạt tác phẩm theo phạm vi đã được xác định cụ thể trong nội dung của di chúc. Trong trường hợp người lập di chúc không chỉ định rõ phạm vi sử dụng, định đoạt tác phẩm của từng người thừa kế thì việc sử dụng, định đoạt tác phẩm của từng người thừa kế phải được sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế theo di chúc. Nếu những người thừa kế quyền tác giả theo di chúc không thỏa thuận được về việc hưởng thừa kế quyền tác giả thì họ có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Ngoài ra, nếu có tổ chức, cá nhân muốn sử dụng tác phẩm thì phải xin phép, trả tiền nhuận bút cho tất cả các đồng chủ sở hữu (trừ trường hợp ngoại lệ).

Có thể từ chối thừa kế quyền tác giả hay không?

Luật Sở hữu trí tuệ có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, vậy người được thừa kế có thể từ chối quyền thừa kế của mình hay không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết “Có thể từ chối thừa kế quyền tác giả hay không” của VCD để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Thừa kế quyền tác giả

Quyền tác giả quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó có một số quyền có thể để lại thừa kế theo quy định của pháp luật Dân sự.

Tài sản của cá nhân có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, mà có quyền tài sản nằm trong quyền tác giả. Vậy, khi cá nhân sở hữu quyền tác giả chết và để lại tài sản của mình cho người thừa kế thì quyền tác giả đương nhiên sẽ trở thành di sản thừa kế.

Điều 40 Luật SHTT có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, cụ thể:

“Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.”

Theo đó, người được nhận thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này. Tuy nhiên, người thừa kế không thừa hưởng hết toàn bộ quyền tác giả mà chỉ là chủ sở hữu của các quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản trong quyền tác giả.

2. Từ chối thừa kế tác phẩm

Trên cơ sở đó tại Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ quy định cá nhân được thừa kế quyền tác giả nhưng chỉ một số quyền nhất định. Đối với quyền nhân thân, cá nhân chỉ được nhận thừa kế quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Những quyền nhân thân khác không thể để lại thừa kế bởi những quyền này gắn liền với cá nhân mỗi người, thường là tên gọi, uy tín, danh dự, nhân phẩm… chỉ cá nhân đó mới thực hiện được. Còn đối với quyền tài sản thì được thừa kế toàn bộ theo quy định của pháp luật giống như là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả ban đầu của tác phẩm, cụ thể các quyền sau:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Việc từ chối nhận thừa kế được thực hiện theo quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự như sau.

“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”

Như vậy, cá nhân có quyền từ chối nhận di sản là quyền tác giả và phải tuân thủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản mà tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ thì tác phẩm sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định của luật SHTT Việt Nam.

Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?

Scan là một trong những cách phổ biến mà người dùng thông qua việc quét lại các giấy tờ bản cứng để lưu lại thành các file hình ảnh trên máy tính, điện thoại. Dưới góc độ pháp lý, các hoạt động scan tài liệu có phải là hình thức sao chép tác phẩm không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết “Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?” của VCD để tìm hiểu thêm.

1. Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?

Scan là việc chuyển các dữ liệu trên giấy tờ, tài liệu, hình ảnh trên giấy thành dữ liệu, hình ảnh, file lưu trữ trên máy tính, điện thoại thông qua một chiếc máy scan, máy in có tính năng scan hoặc qua ứng dụng scan trên điện thoại thông minh.

Căn cứ quy định tại Khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, bản gốc, bản sao của tác phẩm được định nghĩa như sau:

“4. Bản gốc tác phẩm là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó việc sáng tạo tác phẩm được định hình lần đầu tiên.

5. Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.”

Đồng thời, khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ nêu rõ, sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.

Từ các quy định trên, ta có thể thấy rằng việc scan thực chất là đang tạo ra một bản sao của tác phẩm gốc dưới hình thức điện tử, vậy nên đây là hành vi sao chép tác phẩm.

2. Scan tác phẩm có phải xin phép tác giả không?

Quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ

Mọi tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền nhân thân và quyền tài sản phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Những hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi vi phạm bản quyền tác giả.

Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ cho phép việc sao chép tác phẩm mà không phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả được quy định tại điểm a, đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.

Như vậy, scan là một trong những hình thức sao chép tác phẩm và tùy vào mục đích sao chép, tổ chức cá nhân phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả hoặc không cần. Tuy nhiên, cần tôn trọng tác giả và quyền tác giả khi sao chép tác phẩm, khi sử dụng phải nêu rõ thông tin tác giả và nguồn từ tác phẩm gốc.

Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình

Để tạo nên một chương trình hoàn chỉnh, đầy đủ nội dung, hoạt động theo từng kế hoạch cụ thể và phù hợp với thị hiếu khán giản thì chương trình phải có một kịch bản hay và hoàn chỉnh. Do đó, để đảm bảo công sức, tiền bạc đã bỏ ra xây dựng kịch bản không bị sao chép thì việc bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình là vô cùng cần thiết. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của VCD đề tìm hiểu về bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình.

1. Kịch bản chương trình là gì?

Kịch bản chương trình có thể hiểu là một bản mô tả chi tiết về nội dung và quy trình của một chương trình truyền hình, phát thanh hoặc sự kiện trực tiếp. Nó định nghĩa các phần chính của chương trình, bao gồm lời mở đầu, mục tiêu, nội dung, kịch bản trò chuyện giữa người dẫn chương trình và khách mời, và các phần khác nhau để xây dựng sự kết hợp hài hòa và mạch lạc của chương trình.

Kịch bản chương trình cung cấp một hướng dẫn cho người dẫn chương trình và các thành viên trong đoàn làm phim/truyền hình về cách diễn đạt, tương tác và thực hiện chương trình một cách chuyên nghiệp, đảm bảo rằng chương trình diễn ra suôn sẻ và theo kế hoạch.

Đồng thời, giúp đảm bảo rằng mọi người tham gia chương trình có một hướng dẫn rõ ràng về cách diễn đạt, nội dung và luồng làm việc. Đây cũng là một công cụ hữu ích để sắp xếp và kiểm soát thời gian chương trình một cách hiệu quả.

2. Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình

Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình là cách thức, biện pháp được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo ra hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu bản quyền kịch bản chương trình cũng như là các chủ thể có liên quan, chống lại bất kỳ một sự xâm phạm nào.

Tại Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:

“1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;”

Như vậy, theo quy định trên thì kịch bản trương trình thuộc dạng tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác. Do đó, chủ thể có quyền được bảo hộ là tổ chức, cá nhân gồm người trực tiếp sáng tạo ra kịch bản chương trình và chủ sở hữu quyền kịch bản chương trình quy định theo pháp luật.

Về đối tượng bảo hộ, kịch bản chương trình phải đáp ứng một số điều kiện như:

  • Tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo mà không phải là do sao chép, ăn cắp, sửa đổi, lấy ý tưởng… từ tác phẩm của người khác;
  • Kịch bản chương trình được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày kịch bản chương trình đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác.

Giống như quy định tại các điều ước quốc tế song và đa phương, Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định bản quyền kịch bản chương trình được mặc nhiên công nhận và bảo hộ sau khi kịch bản được hình thành trên một loại hình vật chất nhất định. Việc đăng ký quyền kịch bản chương trình theo quy định tại điều 49 Luật sở hữu trí tuệ không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền bảo hộ.

Tuy nhiên, việc có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với bản quyền kịch bản chương trình có ý nghĩa khi xảy ra tranh chấp vì tổ chức, cá nhân có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với bản quyền kịch bản chương trình sẽ không có nghĩa vụ chứng minh bản quyền thuộc về mình, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Vậy, để đủ điều kiện được pháp luật bảo hộ, kịch bản chương trình cần đáp ứng các điều kiện về đối tượng như trên và phải được định hình trên vật chất nhất định, khi đó kịch bản chương trình mới được bảo hộ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.