Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Nhạc sĩ sáng tác bài hát được phổ nhạc từ thơ có phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tác giả bài thơ hay không?

Không ít nhà thơ cảm thấy vui mừng khi tác phẩm của mình được phổ nhạc. Từ sự “kết giao” này nhiều bài hát được ra đời, trở thành những ca khúc được nhiều khán giả yêu thích. Tuy nhiên, trước khi các nhạc sĩ phổ nhạc vào những bài thơ, họ có cần sự chấp thuận của tác giả bài thơ đó hay không và có phải trả tiền bản quyền cho họ không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm thông tin.

1. Bài hát phổ nhạc từ thơ là gì? Có phải tác phẩm phái sinh không?

Trong văn chương Việt Nam vốn giàu nhạc tính với âm thanh trầm bổng nên lẩn trong thơ là nhạc. Các loại văn vần trong văn chương nước ta như lục bát, song thất lục bát, hát nói đều đi đôi với ngâm vịnh, xướng hát. Những điệu dân ca như hát ru, hò cũng hay mượn ca dao làm lời.

Do đó, phổ nhạc là nghệ thuật dựa theo lời và ý của bài thơ mà viết thành bài nhạc. Dựa trên lời thơ, bằng sự rung cảm nghệ thuật, các nhạc sĩ không ngừng sáng tạo nên sức sống cho âm nhạc. Điều dễ nhận thấy, các nhạc sĩ khá trung thành với nguyên bản, tên bài thơ đồng thời là tên ca khúc. Nhạc sĩ thường bắt được cái hồn của thơ, không lấy nguyên mẫu từng câu từng chữ, mà chọn lựa sử dụng những câu, những đoạn phù hợp với ý tưởng của mình.

Theo Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.

Vậy, tác phẩm nhạc phổ thơ là tác phẩm phái sinh và được bảo hộ theo quy định của pháp luật khi và chỉ khi việc phổ nhạc vào thơ không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc.

2. Có phải xin phép và trả tiền thù lao cho nhà thơ khi phổ nhạc vào thơ không?

Theo quy định của luật SHTT, tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Mà quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật SHTT bao gồm:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Vậy nên việc phổ nhạc vào thơ để sáng tạo nên tác phẩm mới cần có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm gốc thì mới được làm, đồng thời, phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả của bài thơ.

Trên đây là bài viết “Nhạc sĩ sáng tác bài hát được phổ nhạc từ thơ có phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tác giả bài thơ hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Trích dẫn tác phẩm sao cho hợp lý để không xâm phạm quyền tác giả

Quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ có quy định về những hành vi ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả, cụ thể là việc trích dẫn hợp lý và sao chép tác phẩm. Tuy nhiên, thế nào là trích dẫn hợp lý tác phẩm theo quy định của luật, mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm thông tin.

1. Trích dẫn tác phẩm là gì?

Trích dẫn là cách để cho người đọc biết rằng bạn đã đưa một số thông tin vào nội dung từ một nguồn khác. Bất cứ khi nào bạn trực tiếp báo giá, tóm tắt, hoặc là diễn giải ý tưởng của các tác giả khác trong nội dung của bạn, điều cần thiết là phải trích dẫn chúng. Việc trích dẫn đúng và đủ cung cấp tất cả các thông tin quan trọng cho người đọc để giúp họ tìm ra nguồn sau này. Thông tin trong trích dẫn bao gồm tên chủ đề, thông tin về tác giả và ngày xuất bản. Nó cũng bao gồm tên nhà xuất bản tác phẩm và số trang

Việc trích dẫn tài liệu đúng quy định có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có thể kể đến như:

  • Trích dẫn đúng là cách thể hiện sự tôn trọng đối với tác giả của nguồn tài liệu.
  • Giúp người viết tránh bị coi là đạo văn.
  • Người đọc nếu muốn tìm hiểu sâu hơn thì có thể dễ dàng tìm được tài liệu gốc được trích dẫn.
  • Các các nguồn tham khảo uy tín sẽ khiến thông tin, quan điểm trong bài viết được tăng tính xác thực hơn.
  • Thói quen trích dẫn tốt xây dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu nâng cao khả năng diễn đạt của mình, từ đó giúp cải thiện kĩ năng viết.

2. Trích dẫn tác phẩm sao cho hợp lý để không xâm phạm quyền tác giả

Theo quy định tại Khoản đ Điểm 1 Điều 25 Luật SHTT, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

“đ) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu;”

Các điều kiện để trích dẫn tác phẩm không bị coi làm xâm phạm bản quyền theo quy định của Điều 28 NDD17/2023/NĐ-CP bao gồm các điều kiện sau:

  • Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình.
  • Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn.
  • Việc trích dẫn phải kèm theo chỉ dẫn về nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả, nếu tên tác giả được nêu trên tác phẩm sử dụng để trích dẫn.

Như vậy, việc trích dẫn ngoài việc không làm sai ý của tác giả, không gây phương hại đến quyền tác giả và phù hợp với đặc điểm của tác phẩm được sử dụng để trích dẫn thì việc trích dẫn đó phải không nhằm mục đích thương mại. Đồng thời, còn phải đáp ứng đủ các điều kiện mà luật quy định để việc trích dẫn không bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Trích dẫn tác phẩm sao cho hợp lý để không xâm phạm quyền tác giả”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Hệ quả của sách “lậu” đối với tác quyền

Sách “lậu” có thể được người tiêu dùng sử dụng một cách vô tình, hoặc cố ý. Đôi khi do người mua không để ý, hoặc sử dụng vì sách lậu sẽ có giá thành rẻ hơn và dễ mua hơn. Tuy nhiên, dù sử dụng vô tình hay có chủ đích, sách lậu đều gây một hậu quả tới người tiêu dùng nói riêng và quyền tác giả nói chung. Bài viết sau của VCD sẽ nêu rõ hơn những hệ quả của sách “lậu” đối với tác quyền.

1. Sách “lậu” là gì?

Sách lậu có thể được hiêu là sách in ấn và phát hành trái pháp luật, tức là không có văn bản hợp pháp chứng minh nguồn gốc tác phẩm và quyền sở hữu đối với tác phẩm trong phạm vị thị trường tối thiểu là Việt Nam, và/hoặc không có giấy phép đăng ký xuất bản hợp pháp.

Theo Khoản 4 Điều 213 Luật SHTT quy định “Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.”

Cũng theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về xác định yếu tố xâm phạm quyền tác giả tại Điểm g Khoản 1 Điều 66: “Xâm phạm quyền sao chép tác phẩm: Nhân bản, tạo bản sao tác phẩm mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật

Vậy nên, hành vi làm sách lậu được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Tại sao sách lậu ngày càng có phát triển như vậy?

Việc sản xuất và buôn bán sách lậu giúp các nhà sản xuất thiếu uy tín mờ mắt vì lợi nhuận khổng lồ, đồng thời, người tiêu dùng cũng mua nhiều vì lý do đơn giản – rẻ

Thứ nhất, sách lậu không mất tiền mua bản quyền. Nếu là sách mua bản quyền từ nước ngoài, các công ty sách phải trả thêm tiền dịch, tiền hiệu đính, mà nhiều khi những khoản tiền này không hề nhỏ. Người làm sách giả, sách lậu không phải chi trả tiền cho dịch giả, người hiệu đính, biên tập viên, nhân viên chế bản, họa sĩ trình bày bìa… nên có thể tiết kiệm rất nhiều khoản chi phí.

Thứ hai, sách lậu, sách giả thường kém chất lượng. Họ thường chọn loại giấy xấu hơn, mỏng hơn, kém chất lượng hơn, khổ nhỏ hơn… Tất cả điều này làm giá thành cuốn sách thấp hơn.

Thứ ba, Những xưởng in tư nhân in sách lậu thường là những xưởng in nhỏ, nằm ở vùng xa xôi, với thiết bị máy móc lạc hậu, cũ nát, kém chất lượng. Trong trường hợp bị bắt, bị tịch thu tang vật, chi phí cũng không quá lớn. Những công ty in có uy tín, nằm trong thành phố, thường sẽ có chi phí in ấn cao hơn và đa số đều phải xin giấy phép xuất bản trước khi in sách.

Ngoài ra, ta cũng có thể thấy, việc sách lậu vẫn phát triển và sống tốt trên thị trường một phần cũng là do độc giả nhiều lúc chưa phân biệt được sự khác biệt. Nếu không phải người thường xuyên đi nhà sách, nhiều độc giả hay mua sách theo kiểu “gặp đâu mua đó” và tình trạng này rất dễ đến việc độc giả có thể mua phải sách lậu mà không biết.

3. Hệ quả của sách “lậu” đối với tác quyền

  • Hệ quả của việc sử dụng sách “lậu” đối với độc giả

Người mua sách lậu bị thiệt hại vì bỏ tiền mua 1 sản phẩm kém chất lượng. Sách bị sao chụp mờ khiến chữ nhòe, đứt nét, màu sắc không đồng đều, sử dụng chất lượng thấp, dễ hư hỏng… Thậm chí, do sản xuất cẩu thả, không kiểm duyệt nội dung, nhiều khi dịch không sát ý của tác giả dẫn đến những lỗi sai nghiêm trọng về kiến thức.

Mà mối nguy hại lớn nhất mà sách lậu, sách giả mang lại chính là việc mọi người chấp nhận sách lậu, nghĩa là đang chấp nhận thói ăn cắp tri thức, chấp nhận những cuốn sách sai lệch về nội dung và yếu kém về hình thức.

  • Hệ quả của việc sử dụng sách “lậu” đối với tác giả

Về phía tác giả, họ là những người chịu thiệt hại nặng nề. Ta được biết các tác giả được hưởng tiền bản quyền từ số sách bán được. Nếu sách lậu được sản xuất lan tràn, công ty hay nhà xuất bản giữ bản quyền bán quyền cuốn sách không bán được sách và như vậy cũng không thể trả nhiều tiền bản quyền cho tác giả.

Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho các tác giả nản lòng. Nếu công sức, tâm huyết mình bỏ ra không có những thành quả xứng đáng thì liệu các tác giả uy tín có còn muốn chuyên tâm viết sách nữa hay không?

  • Hệ quả của việc sử dụng sách “lậu” đối với nhà xuất bản

Thiệt hại về phía các công ty sách và các nhà xuất bản thì đã rõ, họ bị tổn thất cả về kinh tế và uy tín. Nhà xuất bản bỏ tiền ra mua bản quyền, thuê người dịch, hiệu đính, biên tập, trình bày và cho ra đời những đứa con tâm huyết với bao công sức và trí tuệ nhưng lại bị cướp trắng trợn, bị hớt tay trên.

Doanh thu của hoạt động xuất bản đóng góp cho nền kinh tế không nhiều nhưng đây là ngành giúp nâng cao giáo dục, văn hóa và dân trí. Một tập sách đúng quy trình, từ khâu tiếp nhận bản thảo đến lúc ra sách, ít nhất cũng phải mất nửa năm, qua sự thẩm định phê duyệt của các cấp quản lý mới được xuất bản. Công sức đó đều vì sách “lậu” mà trở thành vô ích.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm tranh dân gian

Tranh dân gian là những tác phẩm được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được lưu truyền qua từng thế hệ. Tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân nghèo khó mà trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi cả quan lại quý tộc. Ngày nay những làng nghề tranh dân gian không còn được phát triển như trước đây. Tuy nhiên những tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao và được coi là đặc trưng nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn. Vậy những tác phẩm tranh dân gian là gì và được bảo hộ như thế nào?

1. Tác phẩm tranh dân gian là những tác phẩm như thế nào?

Tranh dân gian là những tác phẩm nghệ thuật bình dân được tạo nên bởi những người nghệ sĩ chỉ quen thuộc với những công việc đồng áng mỗi ngày. Tuy nhiên những tác phẩm của họ lại đầy những tính sáng tạo độc đáo miêu tả về cuộc sống hàng ngày và những cảm nhận về thế giới xung quanh. Nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam với bề dày lịch sử phát triển đã trở thành một phần không thể thiếu với người yêu thích hội họa nước nhà.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm tranh dân gian là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điểm a Khoản 7 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về tác phẩm tranh dân gian như sau:

“Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:

a) Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;”

Như vậy, các tác phẩm tranh dân gian là các tác phẩm hội hoạ được thể hiện bằng các chất liệu như sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước… mà pháp luật đề cập nêu trên.

2. Thời gian bảo hộ đối với tác phẩm tranh dân gian

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm tranh dân gian

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm tranh dân gian có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không bảo hộ.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm tranh dân gian mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm tranh dân gian”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan

Thông thường, các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình… đều có tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân hoặc tổ chức xác định. Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ không thể xác định được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm… là ai, trong trường hợp đó, Nhà nước sẽ đứng ra đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Hãy tham khảo bài viết “Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan” dưới đây:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 42 Luật sở hữu trí tuệ, Nhà nước đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan trong các trường hợp dưới đây:

1. Không thể tìm hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan

Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thì Nhà nước sẽ đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan.

Đây là những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được công bố nhưng không có thông tin về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc có thông tin về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không liên hệ được;

2. Tác phẩm khuyết danh

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 17/2023/NĐ-CP ghi nhận, tác phẩm khuyết danh có thể được hiểu là tác phẩm không hoặc chưa có tên tác giả (tên khai sinh hoặc bút danh) trên tác phẩm khi công bố. Ví dụ về tác phẩm khuyết danh có thể kể đến tác phẩm văn học dân gian “Tấm Cám”, truyện có nguồn gốc xa xưa được phát triển trong xã hội có giai cấp cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư sản, chế độ gia đình phụ quyền thời cổ, tuy nhiên, tác giả truyện Tấm Cám là ai hiện vẫn là một ẩn số.

Cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả được xác định thì người quản lý quyền tác giả, quyền liên quan sẽ là Nhà nước, trừ trường hợp:

  • Tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định.
  • Khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền tác giả của tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng được xác định theo quy định của Luật SHTT và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Vậy, có hai trường hợp các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình… mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan được quy định trong pháp luật. Đó là, tác phẩm khuyết danh và các tác phẩm không tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu.

Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan thì phải nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau khi đã nỗ lực tìm kiếm chủ thể quyền mà không thể tìm được hoặc không liên hệ được.

Trên đây là bài viết “Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?

Khi nhắc đến biểu diễn, mọi người quen thuộc và nghĩ ngay đến các loại hình nghệ thuật biểu diễn như kịch, múa, hay là việc ca sĩ trình bày một ca khúc trên sân khấu. Tuy nhiên, dưới góc độ Luật Sở hữu trí tuệ, “biểu diễn tác phẩm trước công chúng” không được hiểu theo cách thông thường như trên và cũng không chỉ giới hạn với những loại hình nghệ thuật đó, mà được hiểu theo một cách rộng hơn. Vậy, cụ thể, theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, việc biểu diễn và  quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?

1. Quyền biểu diễn tác phẩm là gì và thuộc về ai?

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền biểu diễn được hiểu là quyền được “Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.”

Từ đó, có thể thấy rằng phạm vi của quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng được quy định khá rộng rãi, bảo gồm cả hình thức trực tiếp và trực tuyến, và không bị giới hạn chỉ trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn thông thường như kịch, nhạc kịch, múa, trình bày bài hát trên sân khấu,…

Quyền biểu diễn tác phẩm là một trong những quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được phép độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện. Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ đã ghi nhận quyền biểu diễn tác phẩm tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Do đó, nếu tổ chức, cá nhân muốn thực hiện biểu diễn tác phẩm phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Nội dung quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng với từng loại hình tác phẩm

Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ hơn nội dung về quyền biểu diễn đối với từng loại hình tác phẩm cụ thể như sau:  

  • Đối với tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ, tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc thuyết trình, trình bày làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm bằng thính giác nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm, bao gồm cả việc cảm nhận từ bên ngoài không gian nơi đang diễn ra việc thuyết trình, trình bày qua màn hình, loa hoặc thiết bị kỹ thuật tương tự.
  • Đối với tác phẩm âm nhạc: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc biểu diễn làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm bằng thính giác hoặc trình bày tác phẩm trên sân khấu cho công chúng nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm, bao gồm cả việc cảm nhận từ bên ngoài không gian nơi đang diễn ra việc biểu diễn qua màn hình, loa hoặc thiết bị kỹ thuật tương tự.
  • Đối với tác phẩm điện ảnh: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc trình chiếu làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm điện ảnh thông qua các phương tiện kỹ thuật nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.
  • Đối với tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc triển lãm, trưng bày, trình chiếu để công chúng xem bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm.

Trên đây là bài viết “Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng

Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng đều hiện diện trong những sản phẩm, tình huống hết sức gần gũi, đời thường, ví dụ như là bao bì, đồ gốm, quần áo,…Vậy, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là gì và được bảo hộ như thế nào?

1. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là những tác phẩm như thế nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điều 6 Khoản 8 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về tác phẩm mỹ thuật ứng dụng như sau:
“Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.”

Như vậy, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là những tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp thuộc một trong những trường hợp mà pháp luật đề cập nêu trên.

2. Thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật

3.1. Điều kiện đối với tác phẩm

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm mỹ thuật có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không

3.2. Điều kiện đối với tác giả

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật

Mỹ thuật là một loại hình nghệ thuật thị giác, tiêu biểu cho loại hình mỹ thuật là các tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khắc. Các tác phẩm mỹ thuật hiện diện trong đời sống hằng ngày, mang lại những giá trị tinh thần khác nhau cho con người, đồng thời cũng mang tới những giá trị kinh tế đáng kể. Tác phẩm mỹ thuật là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Vậy, tại Việt Nam, các tác phẩm mỹ thuật đang được bảo hộ quyền tác giả như thế nào? 

1. Tác phẩm mỹ thuật là những tác phẩm như thế nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm mỹ thuật là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điều 6 Khoản 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về khái niệm và các loại hình tác phẩm mỹ thuật như sau:

“Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:

a) Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;

b) Đồ họa: Tranh khắc gỗ, khắc kim loại, khắc cao su, khắc thạch cao, in độc bản, in đá, in lưới, tranh cổ động, thiết kế đồ họa và các chất liệu khác;

c) Điêu khắc: Tượng, tượng đài, phù điêu, đài, khối biểu tượng;

d) Nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.

Tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức nghệ thuật đương đại khác tồn tại dưới dạng độc bản. Tác phẩm đồ họa có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.”

Như vậy, có thể hiểu rằng tác phẩm mỹ thuật được bảo hộ là những tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khác, nghệ thuật sắp đặt và những hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.

2. Thời hạn bảo hộ tác phẩm mỹ thuật

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật

3.1. Điều kiện đối với tác phẩm

  • Tác phẩm phải do chính tác giả tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định:

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh:

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm mỹ thuật có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không

3.2. Điều kiện đối với tác giả

  • Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam;
  • Tác phẩm thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm mỹ thuật mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?

Đối với các trường hợp xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên mạng internet, các chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy nhập vào thông tin đang xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đó. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, khi đưa ra yêu cầu, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan đồng thời cũng phải đưa ra những tài liệu, chứng cứ chứng minh sở hữu quyền cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Vậy, Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?

Theo Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan khi gửi yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, sẽ cần gửi kèm theo những tài liệu, chứng cứ chứng minh chủ thể có quyền đối với tài sản bị xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Những tài liệu, chứng cứ chứng minh cần chuẩn bị được quy định tại Khoản 4 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:

1. Thông tin của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu: Tên; địa chỉ hiện tại; địa chỉ thư điện tử; số điện thoại liên hệ; số giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu đối với cá nhân; số đăng ký doanh nghiệp, quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với tổ chức;

2. Chứng cứ chứng minh chủ thể quyền, trong đó chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan phải cam kết chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hồ sơ;

  • Đối với quyền tác giả, quyền liên quan đã được đăng ký:
    • Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định;
    • Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan hoặc chứng thực bản quyền do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
  • Đối với quyền tác giả, quyền liên quan chưa được đăng ký:
    • Bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa có nêu tên chủ thể quyền theo quy định tại Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ[1] và Điều 59 của Nghị định 17/2023/NĐ-CP[2];
    • Các tài liệu khác chứng minh việc tạo ra, công bố, biểu diễn, phân phối, phát sóng, truyền đạt các đối tượng nêu trên và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);

3. Văn bản được ký số của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu cam kết chịu mọi trách nhiệm pháp lý với yêu cầu gỡ bỏ, ngăn chặn hoặc phản đối của mình, kể cả trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bên liên quan nếu có thiệt hại xảy ra;

4. Chứng cứ chứng minh xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và thiệt hại xảy ra:

  • Bản gốc hoặc bản sao hợp pháp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan);
  • Tài liệu, hiện vật có liên quan, ảnh chụp, bản ghi âm, ghi hình đối tượng bị xem xét;
  • Bản giải trình, so sánh giữa đối tượng bị xem xét với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Biên bản, lời khai, vi bằng, tài liệu khác nhằm chứng minh xâm phạm.

Tài liệu, hiện vật nêu trên phải lập thành danh mục, có chữ ký xác nhận của người yêu cầu xử lý xâm phạm.

5. Bên yêu cầu phải cung cấp thông tin về vị trí, đường link dẫn đến nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và mô tả nội dung xâm phạm. Bên bị yêu cầu phải cung cấp thông tin về vị trí, đường link dẫn đến nội dung thông tin số đang bị tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn;

6. Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu là bên được ủy quyền.

Trên đây là nội dung bài viết “Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?” . Hy vọng bài viết này có ích đối với các bạn.

Trân trọng,


[1] Điều 198a. Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan

Trong các thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, hình sự về quyền tác giả và quyền liên quan, nếu không có chứng cứ ngược lại thì quyền tác giả, quyền liên quan được giả định như sau:

1. Cá nhân, tổ chức được nêu tên theo cách thông thường là tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, nhà sản xuất tác phẩm điện ảnh, nhà xuất bản được coi là chủ thể quyền đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó;

2. Nêu tên theo cách thông thường quy định tại khoản 1 Điều này được hiểu là được nêu tên trên bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan (nếu có) hoặc trên các bản sao tương ứng được công bố hợp pháp trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan không còn tồn tại;

3. Cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng quyền tác giả hoặc quyền liên quan tương ứng.

[2] Điều 59. Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan

1. Bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 2 Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng lần đầu tiên.

2. Cá nhân đứng tên là tác giả (tên thật hoặc bút danh) trên bản sao tác phẩm đã xuất bản hoặc trên bản gốc tác phẩm mỹ thuật theo cách thông thường được coi là tác giả cho đến khi có chứng cứ ngược lại.

3. Đối với tác phẩm đã được xuất bản, trường hợp tác giả không đứng tên theo quy định tại khoản 2 Điều này thì nhà xuất bản đứng tên trên bản sao tác phẩm được coi là chủ thể quyền.

4. Chủ thể quyền đối với tác phẩm quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này có quyền thực hiện các yêu cầu quy định tại Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ. Quy định tại khoản này không ảnh hưởng đến thỏa thuận đã có giữa các bên có liên quan.

5. Trường hợp bản gốc, bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng không còn tồn tại, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại khoản 2 Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ cũng được xác định trên bản gốc, bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khác có liên quan, trong đó có nêu tên tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng trong chừng mực hợp lý để khẳng định chủ thể quyền.

Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được pháp luật quy định có trách nhiệm ngăn chặn truy nhập hoặc gỡ bỏ đối với những thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?

1. Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Theo Điều 113 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với các bước cụ thể như sau:

  • Phải xử lý trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, bao gồm  Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc Cục Bản quyền tác giả;
  • Có trách nhiệm thông báo cho bên có nội dung thông tin số bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập; và
  • Phải báo cáo kết quả thực hiện cho cơ quan đã gửi yêu cầu chậm nhất là 24 giờ sau khi xử lý yêu cầu.

Việc thông báo, báo cáo quy định tại khoản này được thực hiện bằng hình thức gửi văn bản, gửi thư điện tử hoặc hình thức tương tự khác.

2. Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi nhận được yêu cầu của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, quy trình xử lý khi nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn là quy trình xoay quanh ba bên, bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu”, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy cập thông tin (sau đây gọi là “bên yêu cầu”) và bên có nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn (sau đây gọi là “bên bị yêu cầu”).

Doanh nghiệp trung gian khi nhận được yêu cầu từ chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan (sau đây gọi là “bên yêu cầu”) kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh thông qua công cụ tiếp nhận yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của doanh nghiệp đó thì doanh nghiệp trung gian phải thực hiện những công việc sau:

Bước 1: Trong vòng 72 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn và phải thông báo cho bên yêu cầu và bên có nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn (sau đây gọi là “bên bị yêu cầu”) về việc đã tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên yêu cầu cung cấp.

Bước 2: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số và thông báo cho bên yêu cầu và bên bị yêu cầu, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian:

  • Trường hợp 1: Phải gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó nếu không nhận được thông báo yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp;
  • Trường hợp 2:  Nếu nhận được thông báo yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp, trong vòng 72 giờ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khôi phục lại nội dung thông tin số đã bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn,  đồng thời chuyển tiếp cho bên yêu cầu văn bản yêu cầu phản đối kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp.

Bước 3: Khi trường hợp 2 nêu trên xảy ra, kể từ khi chuyển tiếp tài liệu, chứng cứ cho bên yêu cầu mà bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu không tiến hành khởi kiện dân sự hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền không quyết định thụ lý đơn theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian duy trì khôi phục nội dung thông tin số đã bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn. Trường hợp Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thụ lý đơn của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, đối với nội dung thông tin số được phát trực tiếp theo thời gian thực, trường hợp chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan chủ động cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh tới doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trước khi phát trực tiếp tối thiểu 24 giờ nhằm ngăn chặn, phòng ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thực hiện như sau:

  • Ngay lập tức tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi nhận được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn và phải thông báo cho bên yêu cầu và bên bị yêu cầu về việc đã tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên yêu cầu đã cung cấp;
  • Tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật đã được nêu trong Bước 2 và Bước 3 ở trên.

Trong khi thực hiện việc gỡ bỏ, ngăn chặn thông tin số theo quy trình nêu trên, việc thông báo, gửi, chuyển tiếp tài liệu chứng cứ, chứng minh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, bên yêu cầu và bên bị yêu cầu được thực hiện bằng hình thức gửi thư điện tử hoặc hình thức tương tự khác.

Trên đây là bài viết “Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?”. Mong bài viết này có ích đối với quý bạn đọc.

Trân trọng.