Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?

Pháp luật đã quy định doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet. Cụ thể hơn, Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?

Theo Điều 111 và 112 Nghị định 17/2023/NĐ – CP, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những việc sau để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng: 

Thứ nhất, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phair xây dựng công cụ tiếp nhận yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Công cụ tiếp nhận yêu cầu là một trong các công cụ sau:

  • Chương trình máy tính để tiếp nhận yêu cầu;
  • Trang thông tin điện tử để tiếp nhận yêu cầu;
  • Các hòm thư điện tử để tiếp nhận yêu cầu;
  • Cổng điện tử tiếp nhận yêu cầu;
  • Công cụ tiếp nhận yêu cầu khác có chức năng tương tự.

Xác nhận gửi thành công yêu cầu qua công cụ tiếp nhận được coi là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đã nhận được yêu cầu.

Thứ hai, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thông báo đầu mối liên lạc về vấn đề quyền tác giả, quyền liên quan tới cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và công khai trên trang thông tin điện tử của mình. Đầu mối liên lạc bao gồm ít nhất các thông tin sau: địa chỉ thư điện tử, số điện thoại liên hệ.

Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải cảnh báo cho người sử dụng dịch vụ về trách nhiệm pháp lý của họ nếu họ thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng khi nhận được yêu cầu bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để phục vụ xác minh, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ tư, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian cung cấp dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” (hosting) phải thực hiện gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi biết nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc yêu cầu của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm công bố quy trình nội bộ xử lý yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan hoặc yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số trên hệ thống dịch vụ của mình.

Thứ năm, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải chấp hành công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ sáu, trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khai thác, sử dụng nội dung thông tin số được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan do người sử dụng dịch vụ của mình đăng tải trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet vì mục đích thương mại thì phải thực hiện nghĩa vụ xin phép và trả tiền bản quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 20, khoản 4 Điều 29, khoản 2 Điều 30 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Thứ bảy, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý (theo quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ) và không tuân thủ quy định về việc gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi có yêu cầu phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của người sử dụng dịch vụ gây ra. Mặt khác, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại các điều 28 và 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thì phải chịu các trách nhiệm pháp lý tương ứng theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung của bài viết “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?”. Mong bài viết có thể giúp ích cho quý vị.

Trân trọng.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là những doanh nghiệp như thế nào?

Theo Khoản 1 Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet. Cụ thể hơn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là bao gồm những doanh nghiệp như thế nào?

Điều 110 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã quy định rõ hơn các nội dung về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, cụ thể như sau:

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ là các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ sau:

  • Dịch vụ “chỉ truyền dẫn” là dịch vụ truyền dẫn trên mạng viễn thông và mạng Internet nội dung thông tin số do người sử dụng dịch vụ cung cấp hoặc dịch vụ cung cấp khả năng truy nhập vào mạng viễn thông và mạng Internet;
  • Dịch vụ “lưu trữ đệm” là dịch vụ truyền dẫn trên mạng viễn thông và mạng Internet nội dung thông tin số do người sử dụng dịch vụ cung cấp mà có hoạt động lưu trữ tự động, trung chuyển và tạm thời nội dung thông tin số đó. Hoạt động lưu trữ tự động, trung chuyển và tạm thời này được thực hiện với mục đích duy nhất là làm cho việc chuyển tiếp nội dung thông tin số đó một cách hiệu quả hơn đến người sử dụng dịch vụ khác theo yêu cầu của họ;
  • Dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” là dịch vụ cho người sử dụng lưu trữ nội dung thông tin số do người sử dụng cung cấp theo yêu cầu của họ.

Bên cạnh đó, Điều 110 Nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng đã liệt kê một số dạng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, bao gồm:

  • Doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet;
  • Doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ kênh thuê riêng trong trường hợp kênh thuê riêng không được sử dụng để cung cấp các dịch vụ sau:
    • Cho thuê chỗ đặt máy chủ, cho thuê máy chủ dùng riêng trong trường hợp máy chủ không được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu, và
    • Cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cho thuê chỗ đặt máy chủ, cho thuê máy chủ dùng riêng trong trường hợp máy chủ không được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến;
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tìm kiếm nội dung thông tin số;
  • Doanh nghiệp khác cung cấp một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ có chức năng tương tự quy định tại khoản 1 Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ và các dịch vụ “chỉ truyền dẫn”, “lưu trữ đệm” và “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” nêu trên.

Trên đây là nội dung bài viết “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là những doanh nghiệp như thế nào?”. Hy vọng bài viết có ích đối với quý bạn đọc.

Trân trọng.

Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (còn được gọi là Công ước Berne) được ký tại Berne (Thụy Sĩ) năm 1886 và là công ước đầu tiên trên thế giới thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Công ước hiện nay có trên 180 quốc gia là thành viên trong đó có Việt Nam. Là thành viên của Công ước, Việt Nam đã từng bước nghiên cứu và ban hành các quy định về Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu về nội dung mà Công ước này đặt ra cho các Quốc gia thành viên. Trong bài viết “Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật” này, chúng tôi sẽ một số điểm tương thích trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam với nội dung Công ước Berne.

1. Nội dung cơ bản của Công ước Berne

Thứ nhất, Công ước đã quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ tương đối đầy đủ và toàn diện, mang tính chất bao quát. Theo đó, các tác phẩm được chia thành 3 nhóm sau đây:

–    Các tác phẩm gốc trong lĩnh vực văn học, khoa học, nghệ thuật không phân biệt hình thức hay phương thức biểu hiện, ví dụ như các sách, tập in nhỏ và các bài viết khác, các bài giảng, tác phẩm kịch, bản nhạc, đồ họa, kiến trúc…

–    Các tác phẩm phái sinh miễn là tác phẩm này không làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc: VD như tác phẩm dịch, mô phỏng…

–    Các tuyển tập các tác phẩm văn học và nghệ thuật (các hợp tuyển, bộ bách khoa từ điển) nếu được chọn lọc và sắp xếp theo một nội dung nào đó để tạo nên một tác phẩm sáng tạo.

Công ước cũng cho phép các quốc gia có quyền quy định bảo hộ hoặc không bảo hộ khi tác phẩm chưa được ấn định trên một hình thái vật chất và cách thức bảo hộ riêng với các văn bản lập pháp, hành pháp, tư pháp. Công ước không bảo hộ những tin tức hàng ngày, số liệu vụn vặt mang tính chất thông tin báo chí vì không phải là kết quả hoạt động sáng tạo.

Thứ hai, Công ước cũng đã quy định về điều kiện được bảo hộ. Theo đó các tác phẩm được bảo hộ thông thường sẽ phải thỏa mãn ít nhất một trong hai tiêu chí sau :

–    Tiêu chí quốc tịch tác giả: Tác giả phải mang quốc tịch của một trong những nước thành viên của liên hiệp Berne hoặc có nơi cư trú thường xuyên tại một trong những nước thành viên của Liên hiệp Berne.

–    Tiêu chí nơi công bố tác phẩm lần đầu tiên: Tác phẩm phải được công bố lần đầu tiên tại một trong những quốc gia thành viên của Liên hiệp hoặc đồng thời tại một quốc gia trong và ngoài Liên hiệp.

Thứ ba, Công ước quy định những quyền được bảo hộ bao gồm quyền tài sản (economic right) và quyền nhân thân (moral rights). Các quyền tài sản bao gồm quyền dịch, sao chép, phóng tác, trình diễn công cộng, trần thuật công cộng và truyền thông công cộng. Quyền nhân thân bao gồm quyền đứng tên tác giả và quyền phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi những vi phạm khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và tiếng tăm của tác giả.

Thứ tư, Công ước quy định thời hạn chung bảo hộ quyền tác giả là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Trong trường hợp là đồng tác giả, thời hạn bảo hộ sẽ được tính đến 50 năm sau khi đồng tác giả cuối cùng qua đời. Đối với các quốc gia thành viên Liên hiệp bị ràng buộc bởi Đạo luật Rome của Công ước Berne mà vào thời điểm tham gia ký kết đạo luật này, quy định trong quốc gia hiện hành, thời hạn bảo hộ ngắn hơn quy định tại Công ước Berne thì nước đó có thể giữ thời hạn ngắn hơn khi tham gia hoặc phê chuẩn Đạo luật này. Công ước cũng dành quyền cho mỗi quốc gia thành viên trong việc quy định thời hạn bảo hộ cho tác phẩm văn học, nghệ thuật có thể dài hơn so với thời hạn nêu trong Công ước nhưng không vượt quá thời hạn bảo hộ tại quốc gia gốc của tác phẩm, nếu quốc gia không có quy định khác. Mốc thời hạn được tính từ ngày mồng 1 tháng giêng năm tiếp theo sau cái chết của tác giả hay sự kiện được quy định trong Công ước Berne.

2.       Một số điểm tương thích giữa Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne

Việt Nam đã gia nhập công ước Berne ngày 26/10/2004. Ngay sau đó, Việt Nam đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ vào năm 2005, luật bắt đầu có hiệu lực vào năm 2006. Việt Nam đã xây dựng một cơ chế chặt chẽ để bảo vệ quyền tác giả cả ở trong nước và ngoài nước. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có một số điểm tương thích với Công ước Berne như sau:           

  • Về tiêu chuẩn bảo hộ

Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đều cùng quy định bảo hộ các tác phẩm được sáng tạo và phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không bảo hộ ở dạng ý tưởng. Các tác phẩm được bảo hộ với bất kể nội dung, chất lượng, hình thức thể hiện, phương tiện truyền tải và ngôn ngữ nào.

  • Về đối tượng được bảo hộ

Tất cả các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học đều là đối tượng bảo hộ được quy định trong Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Các đối tượng được bảo hộ có thể là: Sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, tác phẩm văn học, tác phẩm kiến trúc, sơ đồ, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu…Tuy nhiên, khác với Công ước Bern không quy định về các đối tượng không được bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có quy định tại Điều 15 về các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, bao gồm: tin tức thời sự thuần túy đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

  • Về thời điểm phát sinh quyền tác giả

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam tuân theo nguyên tắc bảo hộ tự động (hay còn gọi là bảo hộ đương nhiên) đã được ghi nhận trong Công ước Bern. Theo đó, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký quyền tác giả và việc đã công bố tác phẩm hay chưa.

  • Về giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan

Các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam tại Điều 25, Điều 25a, Điều 26, Điều 32 và Điều 2 hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 10 và Điều 10 (bis) của Công ước Bern.

Công ước Bern cho phép trích dẫn tác phẩm từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn; cho phép sử dụng tác phẩm để minh họa phục vụ giảng dạy; cho phép in lại trên báo chí, phát trên sóng hoặc thông tin đường dây những bài báo có tính chất thời sự về kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên báo chí hoặc tập san, hoặc các tác phẩm đã phát sóng có tính chất tương tự đối với những tác phẩm mà tác giả không đích danh giữ bản quyền, với điều kiện phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả.

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã cụ thể hóa những quy định về giới hạn quyền tác giả trong Công ước Bern trong Điều 25, Điều 25a và Điều 26 bằng cách liệt kê các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm; các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật; các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Đối với quyền liên quan, tại Điều 32 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật đã liệt kê rõ ràng các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình. Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã tiếp thu tinh thần được ghi nhận tại công ước, phát triển thêm những quy định rất chi tiết về giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan mà hoàn toàn không vượt ra ngoài khuôn khổ của Công ước Bern.

  • Về việc thực thi các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan

Pháp luật Việt Nam hiện đang áp dụng ba phương thức là dân sự, chế tài hành chính và chế tài hình sự để bảo đảm thực thi pháp luật, được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật hình sự. Các biện pháp cụ thể bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tịch thu và tiêu huỷ tang vật, kiểm soát hàng giả tại biên giới, phạt tiền, hình phạt tù.

Trong khi đó, theo quy định của Công ước Bern, (i) quốc gia thành viên của công ước có thể tịch thu bản sao nhập khẩu của tác phẩm âm nhạc không được tác giả cho phép (Điều 13);  (ii) Chính phủ của quốc gia thành viên có quyền kiểm soát sự lưu thông, trình bày và triển lãm tác phẩm bằng các biện pháp thuộc lập pháp hay hành pháp của quốc gia đó mà quy định của công ước này không được phép vi phạm quyền nêu trên dưới bất kỳ hình thức nào(Điều 17); và (iii) Công ước Bern cũng cho phép quốc gia thành viên thiết lập sự bảo hộ lớn hơn so với sự bảo hộ của Công ước (Điều 19). Bởi vậy, những quy định về việc thực thi quyền tác giả và quyền liên quan của pháp luật Việt Nam không mâu thuẫn với nội dung của Công ước Bern.

Nhìn chung, các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam có sự thống nhất với các quy định của Công ước Berne. Điều này thể hiện sự kế thừa và tiếp thu các quy định của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của pháp luật Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng.

Quyền tác giả có phải được bảo hộ không giới hạn về không gian và thời gian hay không?

Mỗi một tác phẩm từ khi được định hình là đã được bảo hộ tự động quyền tác giả, tuy nhiên, tác phẩm đó liệu có được bảo hộ ở mọi nơi trên thế giới hay không, và thời gian bảo hộ có phải là vĩnh viễn hay không? Để trả lời cho câu hỏi này, mời các bạn đón đọc bài viết của chúng tôi.

1. Bảo hộ quyền tác giả về không gian

Việc bảo hộ quyền tác giả không giống nhau trên toàn thế giới mà phạm vi bảo vệ dành cho các tác giả, chủ sở hữu phụ thuộc và luật pháp của các quốc gia quy định và chỉ được tính trong lãnh thổ của quốc gia đó. Mỗi quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền tác giả riêng biệt. Tác phẩm sáng tạo chỉ được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý được quy định bởi pháp luật về quyền tác giả của một quốc gia nhất định.

Quyền tác giả không đương nhiên có giá trị tại quốc gia khác, trừ khi các quốc gia cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền đó. Điều này có thể hiểu là, một tác phẩm được bảo hộ ở quốc gia A không đồng nghĩa với việc nó được bảo hộ ở quốc gia B, trừ trường hợp hai quốc gia A và B có hiệp định thỏa thuận chung về vấn đề bảo hộ tác phẩm ở cả hai nước này. Khi đó, phạm vi không gian mà quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó được bảo hộ sẽ được mở rộng ra tất cả các quốc gia thành viên, ví dụ như tác phẩm sinh ra tại một quốc gia thành viên tham gia Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật thì đều được bảo hộ tại các quốc gia thành viên khác.

Mặt khác, mặc dù có hiệp định hay thỏa thuận chung, việc bảo hộ quyền tác giả ở các nước tham gia hiệp định cũng không hoàn toàn tương tự nhau, ví dụ có sự khác biệt về thời hạn bảo hộ, hay quy định về mức phạt các hành vi vi phạm,…

2. Bảo hộ quyền tác giả về thời gian

Về thời hạn bảo hộ quyền tác giả, có hai hình thức bảo hộ là vô thời hạn và có thời hạn, được phân chia theo quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền tác giả.

Trong đó, các quyền nhân thân gắn liền với tác giả là các quyền được bảo hộ vô thời hạn, bao gồm: Đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Quyền tác giả là quyền tài sản chỉ được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định mà không được bảo hộ vĩnh viễn, ví dụ như quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm,…Bên cạnh đó, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm tuy là quyền nhân thân nhưng lại gắn với lợi ích kinh tế nên cũng được bảo hộ có thời hạn. Trong thời gian đó, các tác giả được hưởng các độc quyền đối với tác phẩm của mình.

Với mỗi tác phẩm khác nhau thì sẽ có những quy định thời hạn khác nhau. Quyền tác giả chỉ có hiệu lực trong thời gian bảo hộ, sau khi hết thời hạn thì tác phẩm thuộc về công cộng và được sử dụng tự do nhưng cần được tôn trọng sự toàn vẹn của tác phẩm cũng như tên tác giả. .

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả có phải được bảo hộ không giới hạn về không gian và thời gian hay không?” . Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?

Tác giả thường là người nắm giữ quyền tác giả đối với tác phẩm, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định như thông qua hợp đồng chuyển giao quyền, hợp đồng sáng tạo,… tác giả chỉ nắm giữ quyền nhân thân mà không còn nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm. Quyền tài sản đó thuộc về một chủ thể khác, được gọi là chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy, tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả còn có những quyền nào đối với tác phẩm? Sau đây, chúng tôi xin được làm rõ thông qua bài viết.

1. Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Theo quy định tại Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả được hiểu là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm, trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.

Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến một tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra sản phẩm đó. Căn cứ vào mối liên quan trong quá trình tạo ra tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả được phân thành hai loại: chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả.

Đối với chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, căn cứ theo quy định tại Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ, khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm thì họ sẽ được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả.

Trên thực tế, có một số trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, cụ thể như sau:

  • Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả tạo ra tác phẩm, trong đó bao gồm tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ và tác phẩm được tạo ra ngoài khuôn khổ nhiệm vụ;
  • Cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả;
  • Người được thừa kế quyền tác giả;
  • Người được chuyển giao quyền;
  • Nhà nước;
  • Công chúng.

2. Quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

2.1. Quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Trong trường hợp tác giả không là chủ sở hữu quyền tác giả thì tác giả chỉ có các quyền nhân thân không thể chuyển dịch, cụ thể như sau:

  • Được hưởng nhuận bút;
  • Được hưởng thù lao tác phẩm được sử dụng;
  • Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ;
  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Đứng tên (thật hoặc bút danh) trên tác phẩm; được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Cụ thể là không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

2.2. Giới hạn quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu có thể có một số hoặc toàn bộ quyền tài sản đối với tác phẩm. Trong trường hợp toàn bộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản đều thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả không được phép/không có quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện:

  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

3. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phải làm gì khi bị xâm phạm quyền tác giả

Khi tác giả chủ không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phát hiện tác phẩm của mình bị xâm phạm quyền tác giả, tác giả có thể thực hiện những việc dưới đây để bảo vệ quyền tác giả:

  • Thông báo tới chủ sở hữu quyền tác giả hiện thời và thống nhất phương án giải quyết phù hợp;
  • Thông báo, yêu cầu bên xâm phạm quyền phải chấm dứt ngay hành vi xâm phạm tới quyền của mình;
  • Khởi kiện lên Tòa án;
  • Liên hệ với cá nhân/tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý để được tư vấn về trình tự, thủ tục và hướng giải quyết khi bị xâm phạm quyền.

5. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm của  Công ty Phát triển Bản quyền Việt Nam VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và các tranh chấp, yêu cầu của khách hàng về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm nói riêng. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ của VCD.

Trên đây là bài viết “Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật ?

Quyền tác giả đối với tác phẩm là một loại tài sản trí tuệ, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quyền tác giả có thể được chuyển giao và trở thành di sản thừa kế, bao gồm quyền tài sản và một phần quyền nhân thân nhất định. Do quyền tác giả gắn với tên tuổi, bản thân tác giả nên không phải quyền nhân thân nào cũng được chuyển giao cho người thừa kế. Vậy Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào? Bài viết sau đây chúng tôi sẽ làm rõ.

1. Quyền tác giả

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2. Người thừa kế quyền tác giả

Người thừa kế quyền tác giả là người được hưởng các quyền tài sản và một phần quyền nhân thân của của tác giả theo quy định của pháp luật theo hàng thừa kế và diện thừa kế, được tác giả cho phép hưởng qua hình thức di chúc một cách hợp pháp được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó đối tượng hưởng quyền thừa kế quyền tác giả được xác định là cá nhân, và tổ chức, tuy nhiên tổ chức chỉ được thừa kế quyền tác giả theo hình thức di chúc.

3. Quyền của người thừa kế quyền tác giả

Căn cứ Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ thì tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ. Với tư cách là chủ sở hữu quyền tác giả, người thừa kế có những quyền như sau:

Quyền nhân thân

Người thừa kế quyền tác giả có quyền công bố tác phẩm và cho phép người khác công bố tác phẩm. Sở dĩ người thừa kế quyền tác giả được hưởng những quyền nhân thân này vì đây là quyền nhân thân nhưng có giá trị kinh tế. Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm còn liên quan trực tiếp đến việc khai thác các lợi ích kinh tế từ tác phẩm, là tiền đề để chủ thể có thể thực hiện được các quyền tài sản như biểu diễn, sao chép, phân phối, truyền đạt… tác phẩm. Nó gắn liền với yếu tố kinh tế, tài sản nhiều hơn so với yếu tố nhân thân, danh dự, uy tín của cá nhân. Khi tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả, ở đây là người thừa kế quyền tác giả.

– Các quyền tài sản

  • Làm tác phẩm phái sinh, theo đó tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng, cụ thể người thừa kế quyền tác giả biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

4. Những cách thức giải quyết khi người thừa kế bị xâm phạm quyền tác giả

Trong trường hợp bị xâm phạm quyền tác giả, người thừa kế là chủ sở hữu quyền tác giả có thể thực hiện một số biện pháp như sau:

  • Khi phát hiện quyền của mình bị xâm phạm, người thừa kế cần thông báo, cảnh báo đối với cá nhân, tổ chức đã xâm phạm, yêu cầu chấm dứt ngay hành vi xâm phạm.
  • Trong trường hợp không giải quyết được bằng cách nêu trên thì người thừa kế có thể khởi kiện cá nhân, tổ chức vi phạm tới Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
  • Liên hệ với cá nhân/tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý để được hỗ trợ, tư vấn đề cách thức giải quyết.

5. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm của  Công ty Phát triển Bản quyền Việt Nam VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và các tranh chấp, yêu cầu của khách hàng về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm nói riêng. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ của VCD.

Trên đây là bài viết Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Ngành công nghiệp bản quyền ngày càng phát triển, những tác phẩm được sáng tạo ra không chỉ mang những giá trị tinh thần cho xã hội mà còn đem lại những lợi ích về kinh tế. Những tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cần nắm rõ nội dung cơ bản của pháp luật về quyền tác giả để có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Vậy, nội dung cơ bản về quyền tác giả được quy định thế nào?

I. Quyền tác giả là gì?

1. Khái niệm quyền tác giả

Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Như vậy, quyền tác giả bao gồm những quyền cụ thể mà pháp luật trao cho tác giả hay chủ sở hữu của một tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Sao chép, điều chỉnh hay truyền tải, phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng và việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm.

2. Đặc điểm của quyền tác giả

  • Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả là sản phẩm của hoạt động sáng tạo tinh thần, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
  • Thứ hai, quyền tác giả thiên về bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng sáng tạo.
  • Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động.
  • Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối.

II. Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.” Như vậy, có thể thấy, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

1. Quyền nhân thân

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm: Tên gọi của tác phẩm phần nào thể hiện dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo, hơn hết tác phẩm là sáng tạo tinh thần của tác giả nên quyền đặt tên luôn gắn liền với tác giả và không thể dịch chuyển sang người khác. Tuy nhiên, quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
  • Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm: tác giả, các đồng tác giả là những chủ thể được phép đứng tên trên tác phẩm. Quy định này nhằm đảm bảo hơn cho quyền lợi của các đồng tác giả đối với thành quả lao động trí tuệ của mình.
  • Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm: là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả. Tuy nhiên, những sửa đổi mang tính kỹ thuật khi trình bày tác phẩm mà không làm ảnh hưởng đến nội dung, tư tưởng, hình thức thể hiện của tác phẩm thì không cần phải được sự cho phép của tác giả, không vi phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm.

2. Quyền tài sản

  • Quyền làm tác phẩm phái sinh: Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền làm tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Khoản 3 Điều 20, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung năm 2022. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
  • Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Quyền sao chép tác phẩm: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.
  • Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: là việc  chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
  • Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng thông qua phương tiện kỹ thuật nhất định.
  • Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính: Để khai thác hiệu năng kinh tế, chủ sở hữu quyền tác giả có thể cho người khác thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm để khai thác, sử dụng có thời hạn

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, Bản quyền Việt Nam cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm là những tài sản trí tuệ vừa có giá trị tinh thần, vừa có giá trị kinh tế đối với những người sáng tạo. Tuy nhiên, không phải bất kỳ sản phẩm sáng tạo nào được tạo ra cũng được coi là một tác phẩm để được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan là gì? Bài viết dưới đây sẽ trình bày rõ hơn về những điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.

I. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả chung:

Để được đăng ký bản quyền tác giả thì tác phẩm buộc phải đáp ứng những điều kiện bảo hộ quyền tác giả nhất định dưới đây:

  • Tác phẩm cần phải có tính sáng tạo: phải được tác giả trực tiếp sáng tạo, không được sao chép tác phẩm của người khác;
  • Cần được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Ví dụ: tác phẩm truyện, thơ thể hiện dưới dạng những trang viết, tác phẩm điện ảnh thể hiện dưới dạng những thước phim…

Điều kiện về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả:

Được quy định tại Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chủ sở hữu, tác giả có đầy đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả gồm:

  • Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và cũng là chủ sở hữu.
  • Là cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa công bố ở bất kỳ nước nào mới có đủ điều kiện đăng ký quyền tác giả.
  • Là cá nhân và tổ chức Việt Nam, nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu ở nước khác.
  • Là cá nhân và tổ chức nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều kiện bảo hộ về loại hình tác phẩm:

Để có đủ điều kiện đăng ký bảo hộ quyền tác giả, trước hết tác phẩm cần phải là đối tượng thuộc các loại hình quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ gồm có:

  • Bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu;
  • Tác phẩm tạo hình và ứng dụng mỹ thuật;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh, kỹ thuật kiến trúc;
  • Bản họa đồ, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ  có liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, khoa học, giáo trình, sách giáo khoa và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc các ký tự khác;
  • Nghệ thuật dân gian và tác phẩm văn học;
  • Chương trình máy tính và bộ sưu tập dữ liệu;
  • Tác phẩm phái sinh (nếu không có gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm dùng làm tác phẩm phái sinh).

II. Điều kiện bảo hộ quyền liên quan

Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan:

  • Diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật;
  • Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền liên quan quy định tại Điều 44 của Luật Sở hữu trí tuệ;
  • Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu hình ảnh, âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác;
  • Tổ chức khởi xướng, thực hiện việc phát sóng.

Các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ:

Cuộc biểu diễn đủ điều kiện bảo hộ quyền liên quan nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Cuộc biểu diễn được công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài;
  • Cuộc biểu diễn được người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam;
  • Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi hình, ghi âm được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ;
  • Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt Nam;
  • Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả.

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Ngoài việc quy định về cơ chế bảo hộ cho các đối tượng sở hữu trí tuệ thì pháp luật còn cho phép chủ sở hữu có quyền tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là gì?

I. Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ sở hữu quyền tác giả; chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển giao quyền sở hữu của mình đối với quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, các bên cần đáp ứng điều kiện sau:

  • Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân; trừ quyền công bố tác phẩm.
  • Người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân như quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

II. Đối tượng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền như:

1. Đối với quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền

  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

2. Đối với quyền liên quan, chủ sở hữu quyền liên quan được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền:

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được; trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
  • Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán; cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

3. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền:

  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
  • Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm; ghi hình của mình thông qua hình thức bán; cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền:
  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

Lưu ý: Trong trường hợp tác phẩm; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu. Trường hợp có đồng chủ sở hữu những tác phẩm; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả; chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Hiện nay, các tác phẩm báo chí đang đứng trước nguy cơ cao bị xâm phạm quyền tác giả do chịu tác động từ hiệu quả lan truyền thông tin nhanh chóng qua không gian mạng và những công nghệ sao chép mới. Khi các tác phẩm báo chí chính thống bị sao chép, bị đánh cắp thì vấn đề không đơn thuần chỉ nằm ở việc xâm phạm quyền tài sản, gây thất thu lớn về mặt kinh tế cho các đơn vị nắm giữ bản quyền mà những tác phẩm báo chí còn bị cắt cúp, sao chép, làm méo mó, sai lệch thông tin được truyền tải ban đầu, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Pháp luật hiện hành đã và đang có những cơ chế quan trọng trong việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí, nội dung cụ thể sẽ được chúng tôi trình ngay sau đây:

1. Quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.

Theo Điều 6 Khoản 3 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác

Căn cứ theo Điều 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí bao gồm các quyền nhân thân, quyền tài sản, cụ thể:

  • Quyền nhân thân: Đặt tên cho tác phẩm báo chí; đứng tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm báo chí được công bố, sử dụng; Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến; Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm báo chí, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình;
  • Quyền tài sản: Được hưởng nhuận bút – khoản tiền do tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí; Được hưởng thù lao khi tác phẩm báo chí được sử dụng; Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày.

2. Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Hiện nay, việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí đang gặp nhiều thách thức khi mà tình trạng vi phạm bản quyền vẫn còn rất phổ biến, đa dạng, việc vi phạm ngày càng tinh vi hơn với việc khai thác sự phát triển của công nghệ. Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm trước tiên cần nhận biết được hành vi nào là vi phạm quyền tác giả, đồng thời cần có ý thức tự bảo vệ tác phẩm thuộc sở hữu của mình. Về cơ bản, việc bảo vệ quyền tác giả được thực hiện thông qua những cơ chế như sau:

2.1.Biện pháp dân sự

Biện pháp dân sự là những biện pháp cho phép tác giả tự bảo vệ tác phẩm của mình trước các hành vi xâm phạm quyền tác giả có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng, cũng như xâm phạm danh dự, uy tín, giá trị tri thức sáng tạo của bản thân tác giả, cụ thể:

  • Yêu cầu đối tượng vi phạm tự gỡ bỏ bài vi phạm, có công văn cam kết không tái phạm, nếu tái phạm sẽ thực hiện những biện pháp mạnh hơn; thương lượng, đàm phán giữa hai bên để đem lại kết quả có lợi nhất cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Được tiến hành thủ tục tố tụng dân sự trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Theo đó tác giả của tác phẩm báo chí bị xâm phạm có thể nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi cư trú của cá nhân, và trụ sở của pháp nhân có hành vi xâm phạm hoặc Tòa án nơi hành vi xâm phạm được thực hiện, Khi tiến hành nộp đơn khởi kiện thì tác giả tác phẩm báo chí bị xâm phạm cần chuẩn bị các bằng chứng kèm theo;
  • Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì theo Điều 584 BLDS năm 2015, tác giả có nghĩa vụ chứng minh về: (i) hành vi xâm phạm; (ii) thiệt hại thực tế xảy ra; (iii) mối quan hệ giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra.

2.2.Biện pháp hình sự

Biện pháp hình sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định là tội phạm theo thủ tục tố tụng hình sự, cụ thể:

  • Tác giả của tác phẩm báo chí có thể nộp đơn tố giác tội phạm khi phát hiện cá nhân khác có hành vi xâm phạm mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đơn tố giác tội phạm sẽ được gửi cơ quan có thẩm quyền, cụ thể là Cơ quan điều tra cấp huyện nơi mà xảy ra hành vi phạm tội hoặc nói người phạm tội cư trú.

2.3.Biện pháp hành chính

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân, tổ chức khác bị thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc phát hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm, cụ thể là Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp sẽ có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm tác phẩm báo chí. Các hành vi vi phạm hành chính do xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm báo chí và biện pháp khắc phục hậu quả hiện nay quy định tại Nghị định số 131/2013/NĐ- CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể là từ Điều 8 đến Điều 12, Điều 15 đến Điều 20, Điều 27 đến Điều 35.

Tùy vào từng trường hợp, cũng như mức độ thiện chí của bên xâm phạm và mong muốn của tác giả thì tác giả tác phẩm báo chí bị xâm phạm có thể lựa chọn cho mình các biện pháp phù hợp.

Trên đây là bài viết Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.