Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác

Bài giảng, bài phát biểu và các bài nói là những đối tượng thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống, vô cùng quen thuộc với mọi người. Bài giảng, bài phát biểu và các bài nói được thể hiện bằng ngôn ngữ, được truyền đạt bằng phương thức nói và được hình thành qua quá trình tư duy trí tuệ của người nói để truyền tải những nội dung cụ thể cho người tiếp nhận. Vậy bài giảng, bài phát biểu, các bài nói khác có là đối tượng được bảo hộ sở hữu trí tuệ hay không và tác giả có các quyền nào đối với các đối tượng này, sau đây là phần trình bày của chúng tôi.

1. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác là gì?

Theo Điều 6 Khoản 2 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

Bài giảng được hiểu là bài trình bày sử dụng các phương pháp, kĩ năng sư phạm để cung cấp kiến thức về một vấn đề cụ thể được truyền đạt trực tiếp cho người nghe. Bài giảng được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định bằng bất kỳ phương thức định hình nào.

Bài phát biểu được hiểu là các bài diễn thuyết hay bài trình bày chính thức ở trong một hoàn cảnh cụ thể nhân sự kiện đặc biệt nào đó được tổ chức.

Bài nói khác là các tác phẩm nói có bản chất tương tự như các tác phẩm nêu trên, bao gồm cả các bài thuyết giáo.

Các bài giảng, bài phát biểu và các bài nói khác là các tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới hình thức vật chất nhất định, như được ghi âm lại hoặc/và được lưu hành thành văn bản.

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, để bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được bảo hộ quyền tác giả cần đáp ứng những điều kiện sau:

Thứ nhất, là thành quả của hoạt động sáng tạo tinh thần. Theo đó, các tác phẩm này phải là kết quả của quá trình lao động trí tuệ, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, phản ánh tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo.

Thứ hai, có tính sáng tạo (nguyên gốc). Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm được bảo hộ “phải do tác giả trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”. Do vậy, tính sáng tạo ở đây đòi hỏi tác phẩm phải do chính tác giả tạo ra, mang đặc trưng riêng.

Thứ ba, tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Có thể bằng văn bản hoặc các tệp file, băng đĩa, bản ghi âm, ghi hình… Trong trường hợp bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nào thì sẽ không được công nhận và được bảo hộ theo quy định của pháp luật.

3.Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói

Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, cụ thể là quyền nhân thân và quyền tài sản được quy định tại Điều 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ:

  • Quyền nhân thân
    • Đặt tên cho bài giảng, bài phát biểu và bài nói;
    • Đứng tên thật hoặc bút danh khi bài giảng, bài phát biểu và bài nói được công bố, sử dụng;
    • Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến bài giảng, bài phát biểu, bài nói của mình;
    • Bảo vệ sự toàn vẹn của bài giảng, bài phát biểu, bài nói, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình.
  • Quyền tài sản
    • Được hưởng nhuận bút – khoản tiền do tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm trả cho tác giả khi tác phẩm được khai thác, sử dụng;
    • Được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng;
    • Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê và bất kỳ hình thức truyền tải nào khác; được nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả.

Trên đây là bài viết Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả

Khi đưa vào khai thác khía cạnh kinh tế của quyền tác giả, các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể sẽ gặp nhiều khó khăn do chưa hiểu hết về luật sở hữu trí tuệ và ít nguồn lực. Việc quản lý và giám sát các quyền tác giả không phải là dễ dàng và đòi hỏi sự chuyên nghiệp và kinh nghiệm. Trong khi đó, một tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả sẽ giúp tối ưu thời gian, lợi ích để bảo vệ và quản lý các quyền tác giả của các tác giả và chủ sở hữu. Hãy tham khảo “Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả” dưới đây:

Trên thực tế, việc từng cá nhân trực tiếp thực hiện quản lý các quyền tác giả của mình không phải là hình thức thuận tiện, hiệu quả nhất trong thời đại ngành công nghiệp giải trí và công nghiệp bản quyền phát triển mạnh. Cụ thể, sự phức tạp, không thuận tiện được thể hiện ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, về phía các tác giả, các tác giả sẽ không thuận tiện khi đàm phán hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng cho những người có nhu cầu khai thác tác phẩm vì phải tự mình liên lạc, thương lượng với từng cá nhân, tổ chức khai thác về việc sử dụng tác phẩm trong mỗi trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó, tác giả cũng không có đủ khả năng, nguồn lực để kiểm soát việc người khác có sử dụng tác phẩm của mình hay không, hoặc sử dụng vào đúng mục đích không, đặc biệt là việc sử dụng trên môi trường mạng. Thậm chí, khi có tranh chấp xảy ra, các tác giả dễ rơi vào tình thế khó khăn do phải đơn độc tự bảo vệ quyền lợi của mình trước những công ty lớn. Ngoài ra, ví dụ như khi phát sóng, hoặc đăng tải tác phẩm lên mạng internet, không có cách nào để mỗi người dùng có thể trả thù lao cho từng tác giả, từng người sáng tạo hoặc chủ sở hữu quyền mỗi khi một tác phẩm được truy cập hoặc thưởng thức.         

Thứ hai, về phía những người có nhu cầu khai thác tác phẩm, họ sẽ phải bỏ nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm tác giả, thương lượng để tác giả cho phép họ sử dụng tác phẩm, đặc biệt là khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều tác phẩm của các tác giả khác nhau cùng một lúc. Điều này sẽ khiến công việc dễ bị kéo dài, tốn nhiều nhân lực để thực hiện và không đáp ứng được nhu cầu công việc trên thực tế.  

Vì những lý do trên, việc những tổ chức đứng ra làm cầu nối trung gian giữa tác giả và những người có nhu cầu khai thác tác phẩm là vô cùng cần thiết. Một tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả sẽ giúp ích cho cả hai bên tiết kiệm được thời gian, công sức, nhân lực để cùng hợp tác với nhau, hơn nữa đồng thời giúp tác giả dễ dàng kiểm soát tình trạng sử dụng tác phẩm của các bên khai thác, đồng hành cùng tác giả trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả.

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam, với tư cách là một trong những tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả đầu tiên tại Việt Nam, là cầu nối hợp tác giữa các tác giả và những bên khai thác tác phẩm. Chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực bản quyền, luôn đồng hành, giúp đỡ các tác giả trong quá trình quản lý và khai thác tác phẩm. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, chúng tôi cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình công việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của Bản quyền Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?

Một bài hát thông thường phải bao gồm cả phần nhạc và phần lời. Tuy nhiên, trên thực tế, phần nhạc và phần lời có thể do hai tác giả khác nhau sáng tác, ví dụ như trường hợp phổ nhạc cho thơ. Vậy, Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?? Liệu phần nhạc và phần lời được bảo hộ tổng thể với tư cách là một tác phẩm âm nhạc hay được bảo hộ độc lập riêng rẽ?

1. Tham khảo pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với lời bài hát

Theo Điều 2 Khoản 1 của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, tác phẩm âm nhạc có lời hoặc không có lời (“musical compositions with or without word”) là một hình thức tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

Tham khảo Đạo luật Bản quyền của Hoa Kỳ, tại Điều 102(a)(2) quy định tác phẩm âm nhạc, bao gồm cả các từ đi kèm (“musical works, including any accompanying words”) là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Khác với Hoa Kỳ, trong Đạo luật Bản quyền, Thiết kế và Bằng sáng chế của Vương quốc Anh, tại Điều 3(1) quy định “tác phẩm âm nhạc” có nghĩa là tác phẩm bao gồm âm nhạc, không bao gồm bất kỳ từ ngữ hoặc hành động nào nhằm mục đích hát, nói hoặc biểu diễn cùng với âm nhạc (“ “musical work” means a work consisting of music, exclusive of any words or action intended to be sung, spoken or performed with the music”). Bên cạnh đó, đạo luật này cũng phân định rất rõ tác giả của một tác phẩm văn học (không bao gồm phần lời được hát hoặc nói bằng âm nhạc), tác giả của phần nhạc và phần lời (“ a literary work consisting of words intended to be sung or spoken with music”) tại Điều 77 Khoản 2, Khoản 3 . Tương tự, Đạo luật Bản quyền của Ấn độ cũng quy định tại Điều 2(p) rằng “tác phẩm âm nhạc” có nghĩa là tác phẩm bao gồm âm nhạc và bao gồm bất kỳ ký hiệu đồ họa nào của tác phẩm đó nhưng không bao gồm bất kỳ từ ngữ hoặc bất kỳ hành động nào nhằm mục đích hát, nói hoặc biểu diễn bằng âm nhạc .

Mặc dù cả Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Ấn Độ đều là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, việc bảo hộ tác phẩm âm nhạc giữa các quốc gia vẫn có sự khác nhau.

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với lời bài hát theo pháp luật Việt Nam

Tác phẩm âm nhạc là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Theo cách hiểu thông thường, có thể nhận thấy rõ một bài hát, bao gồm phần lời và phần nhạc là một tác phẩm âm nhạc. Tuy nhiên, trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam lại chưa quy định rõ ràng về việc một tác phẩm âm nhạc có bao gồm phần lời hay không, và phần lời đó được bảo hộ như thế nào.

Trước đây, tại Điều 10 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc được giải thích là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Sau đó, theo Khoản 4 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP thay thế cho nghị định 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, tác phẩm âm nhạc được định nghĩa là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Quy định tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP nêu trên có thể hiểu rằng tác phẩm âm nhạc chỉ bao gồm phần âm nhạc, được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác, không bao gồm phần lời và cũng không bao gồm các bản ghi âm, ghi hình tác phẩm âm nhạc đó.

Sự thay đổi trong quy định về tác phẩm âm nhạc như trên cũng giúp tách bạch rõ ràng giữa quyền tác giả của bản nhạc và quyền tác giả của lời bài hát. Bởi phần nhạc và phần lời có thể tách riêng để sử dụng độc lập mà không làm ảnh hưởng tới phần còn lại, do vậy khi xem xét về việc bảo hộ từng phần, phần nhạc sẽ được bảo hộ dưới hình thức tác phẩm âm nhạc, còn phần lời sẽ được bảo hộ dưới hình thức tác phẩm viết. Bên cạnh đó, khi một bài hát được tạo thành bởi một tác giả soạn lời và một tác giả soạn nhạc thì cả hai tác giả sẽ được coi là đồng tác giả của bài hát, tuy nhiên phần lời và phần nhạc của bài hát đều được sáng tác một cách riêng rẽ, không ảnh hưởng đến nhau và có thể tách ra sử dụng độc lập.

Tuy nhiên, việc chỉ quy định như trên vẫn là chưa đầy đủ, pháp luật Việt Nam vẫn cần bổ sung, làm rõ hơn các quy định liên quan đến tác phẩm âm nhạc, cụ thể là nêu rõ hình thức bảo hộ đối với phần lời bài hát và hướng dẫn đăng ký quyền tác giả đối với các bài hát.

Mặt khác, việc bảo hộ lời bài hát như một tác phẩm viết đặt ra vấn đề liệu sao chép một phần lời bài hát có bị coi là xâm phạm quyền tác giả hay không. Ở đây, có hai trường hợp xảy ra, và phải xét đến tính nguyên gốc, nghĩa là sáng tạo trí tuệ riêng của tác giả. Rõ ràng, nếu hai bài hát cùng sử dụng những cụm từ thông dụng như “anh yêu em”, “anh thương em rất nhiều”,…thì không thể được coi là sao chép, xâm phạm quyền tác giả, bởi nó không thể hiện được dấu ấn sáng tạo cá nhân của tác giả. Tuy nhiên, cụm từ “Vì anh thương em, như thương cây bàng non” lại là một so sánh độc đáo, chưa ai từng sử dụng, thể hiện sự sáng tạo và dấu ấn cá nhân của tác giả.

Bên cạnh đó, dưới khía cạnh thương mại, nhiều trang web nghe nhạc và các trang web khác nếu muốn đăng lời bài hát để phục vụ cho mục đích kinh doanh, hay có doanh thu từ việc đăng lời bài hát, cũng cần xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả.

Trên đây là bài viết “Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?”. Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,

Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan là ai?

Trong trường hợp gặp phải những vấn đề xoay quanh quyền tác giả, quyền liên quan, quý vị thường tìm đến sự giúp đỡ từ đâu? Công ty luật hay công ty bản quyền? Dù bất kể là công ty nào, sự có mặt của các tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả nêu trên sẽ giúp ích cho quý vị. Vậy, Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan là ai?

1.Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan là gì?

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam không quy định rõ khái niệm về tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan mà chỉ xác định thông qua phạm vi hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, để trở thành tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan, một tổ chức phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định. Theo Điều 57 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan là những tổ chức như sau:

“1. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo yêu cầu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:

a) Tư vấn những vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan;

b) Đại diện cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan theo uỷ quyền;

c) Tham gia các quan hệ pháp luật khác về quyền tác giả, quyền liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo uỷ quyền.”

Để làm rõ hơn các yếu tố nêu trên, Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã được ban hành, trong đó xác định rõ những loại hình tổ chức đủ điều kiện để được coi là tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan và cơ chế quản lý nhà nước được áp dụng với tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.

2. Điều kiện trở thành tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 55 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

  • Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp;
  • Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật về hợp tác xã;
  • Đơn vị sự nghiệp;
  • Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo pháp luật về luật sư, trừ chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

Bên cạnh đó, để trở thành tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan, người đứng đầu tổ chức và cá nhân hoạt động tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan trong tổ chức phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây (Theo Khoản 2 Điều 55 Nghị định 17/2023/NĐ-CP):

  • Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
  • Thường trú tại Việt Nam;
  • Có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật.

3. Cơ chế quản lý của nhà nước đối với tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 55 Nghị định 17/2023/NĐ-CP Khoản 3, 4, 5, 6 và 7)

Nhà nước thực hiện ghi nhận đối với tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể là cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) sẽ ghi nhận là tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan trong Sổ đăng ký quốc gia về tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan và công bố trên trang thông tin điện tử về quyền tác giả, quyền liên quan theo yêu cầu của tổ chức đó sau khi được xem xét chấp thuận yêu cầu ghi nhận. Chi nhánh và các đơn vị phụ thuộc khác của các tổ chức có đủ các điều kiện chỉ được kinh doanh hoạt động tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan dưới danh nghĩa của tổ chức mà mình phụ thuộc.

Nếu một tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan (i) từ bỏ, chấm dứt kinh doanh tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan; hoặc (ii) tổ chức đó không còn đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định khoản 1 Điều 57 của Luật Sở hữu trí tuệ và khoản 2 Điều 55 Nghị định 17/2023/NĐ-CP như đã nêu, thì cơ quan quản lý sẽ xoá tên tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan trong Sổ đăng ký quốc gia về tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan. Việc xóa tên sẽ được công bố trên trang thông tin điện tử về quyền tác giả, quyền liên quan.

Mặt khác, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xóa tên tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan nếu có đủ căn cứ khẳng định tổ chức không còn đủ điều kiện kinh doanh tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.

Ngoài ra, trong trường hợp có thay đổi liên quan đến thông tin của tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức này phải gửi văn bản thông báo về nội dung thay đổi đến cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Bên cạnh đó, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan phải thực hiện chế độ báo cáo, thông tin cho cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hằng năm hoặc đột xuất về các hoạt động tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.

Trên đây là bài viết “Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan là ai??”. Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,

Có phải duy nhất tổ chức tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan mới được đại diện cho tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan hay không?

Việc quản lý tập thể quyền tác giả là một mô hình hiện đại, là bước tiến quan trọng trong quá trình quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Trong trường hợp tác giả muốn hợp tác với nhiều bên để khai thác tác phẩm, hay một bên muốn liên hệ với nhiều tác giả để sử dụng các tác phẩm của họ, mặt khác mỗi tác giả lại không chỉ có một tác phẩm, do đó lượng công việc đồ sộ này yêu cầu một hình thức quản lý quyền tác giả thuận tiện hơn, đóng vai trò là cầu nối cho các tác giả với các bên có nhu cầu khai thác quyền tác giả. Từ những yêu cầu thực tiễn trên, việc hình thành những tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả là hệ quả tất yếu. Tuy nhiên, có phải duy nhất tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan – là những tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận – mới được đại diện cho tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan hay không?

Theo pháp luật dân sự Việt Nam, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có thể tự mình quản lý hoặc ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác quản lý quyền tác giả, quyền liên quan mà mình đang nắm giữ.

Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là tổ chức tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động, không vì mục đích lợi nhuận do các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện ủy thác quyền tác giả, quyền liên quan, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hoạt động đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.”

Trong đó, tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo ủy quyền bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:

  • Thực hiện việc quản lý quyền tác giả, quyền liên quan; đàm phán cấp phép, thu và phân chia tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền được ủy quyền;
  • Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh chấp.

Theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, không phải duy nhất tổ chức tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan mới được đại diện cho tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Các tổ chức khác cũng được đại diện cho tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan được gọi chung là các tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo yêu cầu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan (Điều 57 Luật Sở hữu trí tuệ):

 Tư vấn những vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan;

 Đại diện cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan theo uỷ quyền;

 Tham gia các quan hệ pháp luật khác về quyền tác giả, quyền liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo uỷ quyền.

Mặc dù không quy định trực tiếp, tuy nhiên việc đại diện theo ủy quyền để thực hiện việc quản lý quyền tác giả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật dân sự của Việt Nam. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có thể tự do lựa chọn bất cứ một tổ chức nào phù hợp để ủy quyền quản lý quyền tác giả, quyền liên quan của mình.

Khác với Việt Nam, Liên minh châu Âu đã quy định rất rõ ràng về các tổ chức quản lý quyền tác giả, quyền liên quan ngoài các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan dưới cái tên “tổ chức quản lý độc lập” (independent management entity – IME). Theo Chỉ thị 2014/26/EU ngày 26 tháng 2 năm 2014 của Liên minh Châu Âu (EU) về quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan và cấp phép đa lãnh thổ quyền đối với tác phẩm âm nhạc để sử dụng trực tuyến trong thị trường nội địa, các tổ chức quản lý độc lập được hiểu là:

“ “tổ chức quản lý độc lập” có nghĩa là bất kỳ tổ chức nào được pháp luật cho phép, hoặc bằng cách chuyển nhượng, cấp phép hoặc bất kỳ thỏa thuận hợp đồng nào khác để quản lý bản quyền hoặc các quyền liên quan đến bản quyền thay mặt cho nhiều chủ sở hữu quyền, vì lợi ích tập thể của những chủ sở hữu quyền đó, như mục đích duy nhất hoặc chính của nó, và tổ chức đó:

(i) không thuộc sở hữu hoặc kiểm soát, trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn bộ hoặc một phần bởi chủ sở hữu quyền; và

(ii) được tổ chức trên cơ sở vì lợi nhuận;”

Từ những dẫn chứng nêu trên, có thể thấy rằng, ở tại Việt Nam hay quốc tế, không phải duy nhất tổ chức tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan mới được thực hiện việc quản lý tập thể, đại diện cho các tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan.

Trên đây là bài viết “Có phải duy nhất tổ chức tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan mới được đại diện cho tác giả quản lý quyền tác giả, quyền liên quan hay không?” Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,

Lấy một câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng để làm slogan, tagline cho thương hiệu có xâm phạm bản quyền không?

Dùng những câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng để làm slogan, tagline cho thương hiệu có thể giúp thương hiệu lan truyền được danh tiếng tốt hơn, được nhiều người biết đến hơn bởi họ đều đã biết những câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng đó. Tuy nhiên, liệu một thương hiệu, nhãn hàng Lấy một câu văn câu thơ câu hát nổi tiếng để làm slogan tagline cho thương hiệu có xâm phạm bản quyền không?

Trong các chiến dịch quảng cáo, nhãn hàng có thể sử dụng những câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng, có ý nghĩa để thực hiện quảng cáo, làm slogan cho sản phẩm, thể hiện được tính chất của sản phẩm hay điều mà nhãn hàng và sản phẩm sẽ đem lại cho người tiêu dùng. Ví dụ, trong chiến dich quảng cáo của ViettelMoney đã sử dụng câu hát “Ting Ting trong 1 nốt nhạc” trong bài hát “Hết Mana” do Bigdaddy, Justatee, Bình Gold thể hiện để biểu thị khả năng chuyển tiền nhanh chóng của dịch vụ mà ViettelMoney cung cấp. Hay, một đoạn trong ca khúc Titanium của ca sĩ Sia đã được sử dụng trong quảng cáo sản phẩm kem đánh răng Closeup của công ty Unilever. Có thể thấy, việc sử dụng những câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng để làm slogan quảng cáo cho thương hiệu là rất phổ biến và đem lại hiệu quả tích cực cho nhãn hàng. Tuy nhiên, để thực hiện việc đó, nhãn hàng cũng cần lưu ý tới vấn đề bản quyền khi sử dụng những câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng của người khác.

Việc sử dụng một câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng để làm slogan, tagline cho thương hiệu là việc sao chép một phần tác phẩm để sử dụng cho mục đích thương mại. Theo Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền sao chép tác phẩm như trên phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Bên cạnh đó, đối với phần tác phẩm được trích ra từ bản ghi âm, ghi hình, theo Điều 26 Khoản 1 Điểm b, Điều 33 Khoản 1 Điểm b Luật Sở hữu trí tuệ, trường hợp tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại thì tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình này trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm, cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo biểu mức quy định của Chính phủ. Cụ thể hơn, Điều 35 Nghị định 17/2023/NĐ-CP còn quy định nếu cá nhân, tổ chức nêu trên không trả tiền bản quyền trong thời hạn 90 ngày kể từ khi sử dụng thì phải dừng việc tiếp tục sử dụng.

Trên đây là bài viết “Lấy một câu văn, câu thơ, câu hát nổi tiếng để làm slogan, tagline cho thương hiệu có xâm phạm bản quyền không?”. Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,

Âm thanh nhận diện thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Ngày nay, khi xây dựng thương hiệu, người ta không chỉ tập trung đầu về mặt hình ảnh mà còn đầu tư cả về mặt âm thanh. Âm thanh này đại diện cho bản sắc và giá trị của doanh nghiệp, kết hợp với hình ảnh để trở thành bộ nhận diện thương hiệu trên thị trường, ví dụ như âm thanh tiếng mở nắp của Coca Cola hay “I’m lovin’ it” của McDonald’s. Vậy, Âm thanh nhận diện thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

1. Âm thanh nhận diện thương hiệu là gì?

Âm thanh nhận diện thương hiệu là âm thanh đặc trưng được các thương hiệu sử dụng để củng cố nhận thức về thương hiệu của người tiêu dùng, còn được gọi là logo âm thanh (audio logo). Âm thanh nhận diện thương hiệu thường ngắn gọn, dễ nhận biết và dễ nhớ, ví dụ như âm thanh đọc khẩu hiệu thương hiệu, một giai điệu ngắn, âm thanh đặc trưng của sản phẩm,… Thương hiệu sử dụng âm thanh đặc trưng với chủ ý giúp khán giả liên kết những âm thanh đó với thương hiệu của họ. Không cần phải nhìn hình ảnh logo, chỉ cần mọi người nghe được âm thanh đó và họ sẽ liên tưởng ngay đến thương hiệu.

Âm thanh độc quyền để nhận diện thương hiệu tạo nên sự riêng biệt và lợi thế cạnh tranh với các đối thủ khác. Nhiều thương hiệu đã bỏ công sức, tiền bạc để đầu tư phát triển, xây dựng âm thanh nhận diện thương hiệu đặc sắc, mang đặc trưng riêng của thương hiệu. Ví dụ, Mastercard đã làm bản phối âm thanh nhận diện thương hiệu tại thị trường Việt Nam, sử dụng các nhạc cụ truyền thống như sáo, đàn bầu, đàn tranh của Việt Nam; Shopee với âm thanh thông báo “shopee” đặc trưng,…

2. Âm thanh nhận diện thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Từ quy định trên, có thể thấy âm thanh nhận diện thương hiệu không thỏa mãn bất kỳ loại hình tác phẩm nào được bảo hộ quyền tác giả theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, cần tránh nhầm lẫn âm thanh nhận diện thương hiệu với một tác phẩm âm nhạc – là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ. Mặc dù một số âm thanh nhận diện thương hiệu là một đoạn nhạc ngắn, song không thể coi đó là một tác phẩm âm nhạc. Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn (Theo Điều 6 Khoản 4 Nghị định 17/2023/NĐ-CP). Âm thanh nhận diện thương hiệu chỉ là một giai điệu ngắn, kể cả được ký âm lại dưới dạng nhạc nốt cũng không thể được coi là một bản nhạc hoàn chỉnh. Do vậy, âm thanh nhận diện thương hiệu dù là một giai điệu cũng không đủ điều kiện để được coi là một tác phẩm âm nhạc và không được bảo hộ quyền tác giả.

Mặt khác, trong trường hợp âm thanh nhận diện thương hiệu tồn tại dưới dạng bản ghi âm, theo Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ, bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ quyền liên quan nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Có thể kết luận rằng, mặc dù âm thanh nhận diện thương hiệu không được bảo hộ quyền tác giả, nhưng bản ghi âm chứa âm thanh nhận diện thương hiệu vẫn được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Âm thanh nhận diện thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Mong bài viết này có ích đối với các bạn.

Trân trọng,

Xác định thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Khi bị xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, việc xác định thiệt hại xảy ra không phải là một vấn đề dễ dàng. Vậy, thiệt hại xảy ra khi quyền tác giả, quyền liên quan bị xâm phạm được xác định như thế nào? Đây là một trong những nội dung được hướng dẫn tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.

1. Nguyên tắc chung

Theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm:

  • Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
  • Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn.

Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 69 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:

  • Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Được coi là có tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau đây:
    • Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại: Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là kết quả (sản phẩm) của quyền tác giả, quyền liên quan và người bị thiệt hại là người có quyền hưởng lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó;
    • Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích nêu trên trong điều kiện nhất định nếu không có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan xảy ra;
    • Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

Trong đó, mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Mức độ thiệt hại được xác định phải phù hợp với yếu tố xâm phạm quyền đối với đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan, phải dựa trên chứng cứ về thiệt hại do các bên cung cấp, kể cả kết quả giám định và bản kê khai thiệt hại, trong đó làm rõ các căn cứ để xác định và tính toán mức độ thiệt hại.

2. Xác định thiệt hại cụ thể do xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

2.1.Thiệt hại về tinh thần

Các thiệt hại cụ thể bao gồm bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm, bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, uy tín, danh tiếng, lòng tin vì bị hiểu nhầm, thời gian chịu đựng tổn thất, mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm và đến mức cá nhân, tổ chức vi phạm phải xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần.

2.2.Thiệt hại về tài sản

Thiệt hại về tài sản được xác định theo mức độ giảm sút hoặc bị mất về giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ. Các giá trị đó được xác định như sau:

  • Giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Giá trị góp vốn kinh doanh bằng quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Giá trị quyền tác giả, quyền liên quan trong tổng số tài sản của doanh nghiệp;
  • Giá trị đầu tư cho việc nghiên cứu, sáng tạo và phát triển để tạo ra tác phẩm, đối tượng quyền liên quan, bao gồm các chi phí đầu tư, nghiên cứu, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất, chi phí tiếp thị, quảng cáo, lao động, thuế và các chi phí khác.

Việc xác định giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan do doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá. Kết quả thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá được sử dụng làm một trong những cơ sở để tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, quyết định hoặc phê duyệt giá của tài sản thẩm định giá.

 2.3. Giảm sút về thu nhập, lợi nhuận

Các loại thu nhập, lợi nhuận được xem xét bao gồm:

  • Thu nhập, lợi nhuận thu được do trực tiếp, gián tiếp khai thác, sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Thu nhập, lợi nhuận thu được do cho thuê đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính;
  • Thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển nhượng quyền sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.

Mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận được xác định theo một hoặc các căn cứ sau đây:

  • Ảnh hưởng đến khai thác bình thường tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng: So sánh số lượng bản sao thực tế tiêu thụ hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm; so sánh tần suất khai thác, sử dụng, công chiếu, phát sóng, truyền đạt, truy cập tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm; so sánh số lượng khách hàng sử dụng, thuê bao trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm;
  •  So sánh giá bán thực tế trên thị trường của bản sao trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm;
  • Gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền: So sánh trực tiếp doanh thu có được từ việc khai thác, sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm, tương ứng với từng loại thu nhập quy định tại khoản 1 Điều này.

 2.4. Tổn thất về cơ hội kinh doanh

Cơ hội kinh doanh bị tổn thất được hiểu là:

  • Khả năng phát sinh lợi nhuận, gia tăng giá trị thương hiệu thông qua thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan trong kinh doanh; số lượng khách hàng sử dụng;
  • Khả năng phát sinh lợi nhuận, gia tăng giá trị thương hiệu thông qua quảng cáo, tiếp thị có sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan;
  •  Khả năng phát sinh lợi nhuận, gia tăng giá trị thương hiệu thông qua việc cho người khác thuê đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, bản ghi âm, ghi hình;
  •  Khả năng phát sinh lợi nhuận, gia tăng giá trị thương hiệu thông qua thực tế chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan, chuyển nhượng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan cho người khác;
  •  Cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trực tiếp gây ra.

Tổn thất về cơ hội kinh doanh là thiệt hại về giá trị tính được thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả năng nêu trên nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gây ra.

2.5. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại

Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại gồm chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hóa xâm phạm, chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê luật sư, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm và chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

Trên đây là bài viết “Xác định thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”. Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,

Nguyên tắc sử dụng hợp lý – “fair use” trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Nguyên tắc sử dụng hợp lý (tên tiếng anh là “fair use”) là một nguyên tắc được gọi tên theo một học thuyết của Hoa Kỳ về những giới hạn và ngoại lệ được phép sử dụng bản sao tác phẩm mà không bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Những công ước, hiệp định quốc tế cũng đã đề cập đến những trường hợp giới hạn và ngoại lệ này, tiêu biểu là công ước Berne với “phép thử ba bước” mà Việt Nam là thành viên. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi năm 2022 đã tiếp thu và áp dụng những quy định của pháp luật quốc tế và lần đầu tiên quy định những trường hợp ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả.

1. Nguyên tắc sử dụng hợp lý trong pháp luật quốc tế

Theo Điều 9.2 Công ước Berne bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật có quy định: “Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp, trong một vài trường hợp đặc biệt, có quyền cho phép sao in những tác phẩm nói trên, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả”. Quy định này được hiểu rằng việc sao chép tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả sẽ không bị coi là hành vi xâm phạm quyền độc quyền sao chép của tác giả nếu hành vi đó:

  • Thuộc các trường hợp ngoại lệ đặc biệt mà được quy định bởi pháp luật quốc gia;
  • Không phương hại việc khai thác bình thường tác phẩm;
  • Không gây tổn hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả.

Bên cạnh đó, Điều 13 Hiệp định TRIPS 1994 cũng quy định: “Nước thành viên phải xác định các giới hạn hoặc ngoại lệ đối với độc quyền đối với một số trường hợp đặc biệt mà các trường hợp đó không được xung đột với việc khai thác bình thường tác phẩm và cũng không gây tổn hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả”. Hiệp ước WIPO 1996 cũng quy định nội dung tương tự trong Điều 10[1].

Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ có tên gọi là “Hạn chế về độc quyền: Sử dụng hợp lý”
(Limitations on exclusive rights: Fair use).  Theo đó, việc sử dụng hợp pháp tác phẩm có bản quyền, bao gồm cả việc sử dụng bằng cách sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi âm hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác được chỉ định bởi phần đó, cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy (bao gồm nhiều bản sao để sử dụng trong lớp học), học bổng hoặc nghiên cứu, không phải là hành vi vi phạm bản quyền, tuy nhiên phải đáp ứng 04 điều kiện: (i) Mục đích và tính chất của hành vi sử dụng, xem xét đến việc sử dụng có tính chất thương mại hay cho việc mục đích giáo dục phi lợi nhuận (ii) Bản chất của phần tác phẩm được sử dụng; (iii) Số lượng và bản chất của phần tác phẩm được trích dẫn trên tổng thể; (iv)Tác động của việc sử dụng tác phẩm đến thị trường tiềm năng và giá trị của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả[2].

2. Nguyên tắc sử dụng hợp lý trong pháp luật Việt Nam

Việt Nam đã tiếp thu và thực hiện nội luật hóa quy định về “sử dụng hợp lý” tại các cam kết quốc tế. Cụ thể, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã quy định tại Điều 25 và Điều 32, lấy tên lần lượt là các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan, trong đó nêu rõ các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm, thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Đồng thời, điều luật cũng quy định các trường hợp sử dụng đó không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Các trường hợp được coi là sử dụng hợp lý mà không xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

  • Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;
  • Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
  • Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này;
  • Sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu;
  • Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại;
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép bằng cách đăng tải lại trên báo, ấn phẩm định kỳ, phát sóng hoặc các hình thức truyền thông khác tới công chúng bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được trình bày trước công chúng trong phạm vi phù hợp với mục đích thông tin thời sự, trừ trường hợp tác giả tuyên bố giữ bản quyền;
  • Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phát sóng sự kiện nhằm mục đích đưa tin thời sự, trong đó có sử dụng tác phẩm được nghe thấy, nhìn thấy trong sự kiện đó;
  • Người khuyết tật nhìn, người khuyết tật không có khả năng đọc chữ in và người khuyết tật khác không có khả năng tiếp cận tác phẩm để đọc theo cách thông thường (sau đây gọi là người khuyết tật), người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật, tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ sử dụng tác phẩm.
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp một phần cuộc biểu diễn để giảng dạy không nhằm mục đích thương mại hoặc để đưa tin thời sự;
  • Tự sao chép hoặc hỗ trợ người khuyết tật sao chép một phần cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép hợp lý một phần cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để giảng dạy trực tiếp của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng này đã được công bố để giảng dạy;
  • Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích đưa tin thời sự;
  • Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng.

Trên đây là bài viết “Nguyên tắc sử dụng hợp lý – “fair use” trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,


[1] Điều 10. Hạn chế và ngoại lệ

(1) Các Bên ký kết có thể quy định trong pháp luật nước mình những hạn chế và ngoại lệ đối với các quyền dành cho tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật theo Hiệp ước này trong những trường hợp đặc biệt cụ thể, không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả.

(2) Khi áp dụng Công ước Berne, các Bên ký kết phải xác định rõ các hạn chế hoặc ngoại lệ đối với các quyền được quy định trong những trường hợp đặc biệt cụ thể mà không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả.

[2] https://www.law.cornell.edu/uscode/text/17/107

Slogan, tagline của thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Những khẩu hiệu kinh doanh (slogan, tagline) là một trong những cách gây ấn tượng, thu hút người tiêu dùng, đồng thời cũng là dấu hiệu để người tiêu dùng dễ dàng nhận biết thương hiệu. Ví dụ, câu khẩu hiệu của hãng giày Nike là “Just do it”, của Disneyland là “ When dreams come true” và của CocaCola là “open happiness”,…Bản thân những khẩu hiệu kinh doanh thường thấy là những cụm từ hoặc câu rất đơn giản nhưng lại gây ấn tượng và mang lại hiệu quả không nhỏ trong kinh doanh. Vậy liệu những Slogan, tagline của thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

1. Slogan và tagline là gì?

Slogan và tagline đều là những cụm từ hoặc câu ngắn gây ấn tượng, được các thương hiệu sử dụng để người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận biết, phân biệt thương hiệu và sản phẩm của thương hiệu đó với các thương hiệu khác.

Slogan là cụm từ hoặc câu ngắn, ấn tượng và hấp dẫn, thường được sử dụng để truyền tải giá trị của sản phẩm và tinh thần của thương hiệu trong chiến dịch quảng cáo. Slogan thường gắn với những sản phẩm nhất định và có thời gian xuất hiện ngắn hạn. Slogan có thể được thay đổi khi thương hiệu ra mắt sản phẩm mới hoặc thực hiện một chiến dịch quảng cáo mới.  

Tagline là một cụm từ hoặc một câu ngắn gọn được sử dụng để tuyền tải giá trị của một thương hiệu, giúp tạo ấn tượng lâu dài với người tiêu dùng và nâng cao nhận thức về tổng thể thương hiệu. Tagline được lồng ghép và giúp thể hiện giá trị cốt lõi của thương hiệu, tầm nhìn cũng như sứ mệnh lâu dài của thương hiệu đó. Tagline luôn song hành với hình ảnh của thương hiệu, được sử dụng lâu dài và hầu như không thay đổi trong thời gian thương hiệu hoạt động. Tagline thường ngắn gọn hơn slogan.

Để có thể có những câu slogan, tagline gây ấn tượng mạnh, có hiệu quả cao, những người sáng tạo đều phải trải qua quá trình suy nghĩ, sáng tạo và nghiên cứu kĩ lưỡng. Tuy nhiên, sản phẩm tạo ra là một câu khẩu hiệu, dưới góc độ sở hữu trí tuệ, việc câu khẩu hiệu này có được bảo hộ quyền tác giả hay không còn phụ thuộc vào hình thức thể hiện của câu khẩu hiệu đó.

2. Slogan, tagline của thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là những tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm mỹ thuật; mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Các slogan, tagline thường chỉ là những cụm từ hoặc câu ngắn, có thể được định hình dưới dạng viết, hoặc trên logo thiết kế đồ họa, hoặc bản ghi âm quảng cáo. Tuy nhiên, nếu câu slogan, tagline được định hình dưới dạng viết, tách riêng khỏi logo của thương hiệu thì không được coi là một tác phẩm viết, không thuộc một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả nêu trên. Bởi khi tách riêng ra khỏi thương hiệu, cụm từ hoặc câu khẩu hiệu đó hoàn toàn là một câu nói đời thường, không truyền tải được ý nghĩa mà thương hiệu muốn gửi gắm, không đảm bảo tính sáng tạo của tác phẩm. Khi đó, các câu khẩu hiệu kinh doanh như slogan, tagline không được bảo hộ quyền tác giả.

Bên cạnh đó, nếu như câu slogan, tagline được thiết kế đi kèm với logo của thương hiệu thì phần thiết kế đó được coi như là một phần của logo và có thể được bảo vệ quyền tác giả dưới danh nghĩa tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Mặt khác, nếu slogan, tagline được định hình dưới dạng bản ghi âm thì bản ghi âm đó sẽ được bảo hộ quyền liên quan. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp cần lưu ý rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện mà không bảo hộ nội dung, do đó trong hai trường hợp này, việc sở hữu quyền tác giả đối với logo thương hiệu và bản ghi âm chứa slogan, tagline sẽ chỉ ngăn những người khác sao chép, sử dụng hai đối tượng này mà không ngăn cản người khác bắt chước slogan, tagline đó để sử dụng cho thương hiệu của họ.

Vậy, slogan và tagline không thể được bảo hộ nếu được thể hiện dưới dạng chữ viết thông thường. Chỉ khi slogan, tagline được thiết kế gắn liền với logo thương hiệu, hoặc được thể hiện dưới dạng bản ghi âm thì sẽ được bảo hộ quyền tác giả đối với hình thức thể hiện tác phẩm tương ứng.

Trên đây là bài viết “Slogan, tagline của thương hiệu có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,