Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Lấy sách của người khác làm sách điện tử (ebook) và chia sẻ lên mạng internet có xâm phạm quyền tác giả không ?

Thay vì những cuốn sách giấy truyền thống, trong thời đại thông tin bùng nổ, việc sử dụng sách điện tử (ebook) khiến con người thuận tiện hơn trong việc đọc, mang theo bên người và lưu trữ sách. Tuy nhiên, sách điện tử cũng phải đối mặt nguy cơ bị xâm phạm bản quyền vô cùng cao, nhiều trường hợp sách giấy đã bị sao chép, làm thành sách điện tử và phát tán bất hợp pháp trên mạng, gây thiệt hại cho tác giả và các nhà xuất bản. Có thể khẳng định rằng, hành vi Lấy sách của người khác làm sách điện tử (ebook) và chia sẻ lên mạng internet có xâm phạm quyền tác giả

1. Sách điện tử là gì?

Sách điện tử là những cuốn sách được xuất bản dưới dạng số hóa, tồn tại dưới dạng một file điện tử (tệp tin số), được sử dụng thông qua các thiết bị điện tử cá nhân như máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy đọc sách.  Sách điện tử được phát hành trên môi trường mạng internet, người đọc sẽ thực hiện mua sách tại các cửa hàng trực tuyến và có thể tải sách về và đọc ngay trên thiết bị cá nhân của mình, kể cả khi kết nối mạng và khi không có kết nối mạng. 

Sách điện tử thường được định dạng dưới các dạng như EPUB, PDF, MOBI, AZW, TXT,…là các loại định dạng khiến người khác không chỉnh sửa được nội dung sách. Tuy không thể chỉnh sửa được nội dung nhưng sách điện tử được thiết kế để người đọc có thể tùy chọn hình thức đọc (khổ ngang- dọc, kiểu chữ, cỡ chữ,…) và tương thích với các loại màn hình có kích thước khác nhau.

Hiện nay, sách điện tử được ưa chuộng bởi những lí do như tiết kiệm không gian lưu trữ, tiết kiệm chi phí do giá thành thường rẻ hơn sách giấy, có thể mua một cách nhanh chóng mà không cần trực tiếp tới cửa hàng, dễ mang theo khi di chuyển.

2. Hành vi sử dụng sách của người khác để làm sách điện tử (ebook) và chia sẻ lên mạng internet là hành vi xâm phạm quyền tác giả

Trên thực tế, các nhà xuất bản ngoài việc phải đối mặt với sách in lậu còn phải đối mặt với việc ebook bị làm “lậu” và phát tán tràn lan trên mạng. Đã có nhiều cá nhân sử dụng sách gốc của người khác đã xuất bản để làm ebook và chia sẻ lên mạng internet, kể cả chia sẻ miễn phí hay bán lại với giá rẻ, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả đối với những cuốn sách đó.  

Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sao chép tác phẩm, quyền phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng là một số quyền nằm trong những quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền nêu trên, đồng thời tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền nêu trên phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Bên cạnh đó, theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm các quyền tài sản của tác giả, bao gồm các quyền sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm,…đều được xác định là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Hành vi sử dụng sách gốc của người khác đã xuất bản để làm ebook và chia sẻ lên mạng internet đã xâm phạm tới quyền sao chép, quyền phân phối và truyền đạt tác phẩm thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả.

Hành vi nêu trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 131/2013/NĐ -CP như sau:

  • Hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm (Điều 15):  Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng (Điều 17): Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm (Điều 18): Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Vì những lí do trên, những cá nhân, tổ chức nếu muốn sử dụng một cuốn sách để làm sách điện tử thì phải xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của cuốn sách đó. Nếu không thực hiện, người đó sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo mức phạt nêu trên.

Trên đây là bài viết “Lấy sách của người khác làm sách điện tử (ebook) và chia sẻ lên mạng internet có xâm phạm quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu

Sưu tập dữ liệu là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của các Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Ví dụ, một người đã sưu tầm những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ khắp mọi miền đất nước và sắp xếp chúng theo từng chủ đề, tập hợp thành một cuốn sách lấy tên “Ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” thì cuốn sách đó được bảo hộ dưới loại hình sưu tập dữ liệu. Để tìm hiểu rõ hơn về việc sưu tập dữ liệu được bảo hộ quyền tác giả như thế nào tại Việt Nam, chúng tôi xin giới thiệu bài viết “Quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu” tới quý độc giả.

1.Quy định về bảo hộ sưu tập dữ liệu theo một số Công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ

Các Công ước quốc tế quan trọng về quyền tác giả, bao gồm Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sửa đổi năm 1971), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994 và Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT) năm 1996 đều công nhận bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu.

Tại Khoản 5 Điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, sưu tập dữ liệu được quy định như sau: “Các tuyển tập, các tác phẩm văn học hoặc tác phẩm nghệ thuật, ví dụ như bộ Bách khoa từ điển và các hợp tuyển mà việc tuyển chọn hoặc sắp xếp nội dung là thành quả của hoạt động trí tuệ, đều phải được bảo hộ như nó vốn có, miễn không phương hại quyền tác giả của các tác phẩm tạo nên các tuyển tập này”.

Bên cạnh đó, Điều 10 Khoản 2 của Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ năm 1994  quy định: “Các sưu tập dữ liệu hoặc tư liệu khác, dù dưới dạng đọc được bằng máy hay dưới dạng khác, mà việc tuyển chọn hoặc sắp xếp nội dung là thành quả của hoạt động trí tuệ đều phải được bảo hộ như nó vốn có. Việc bảo hộ nói trên, với phạm vi không bao hàm chính các dữ liệu hoặc tư liệu đó, không được làm ảnh hưởng tới bản quyền đang tồn tại đối với chính dữ liệu hoặc tư liệu đó”.

Ngoài ra, Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (1996) cũng đề cập tới việc bảo hộ sưu tập dữ liệu tại Điều 5, cụ thể là: “Các dữ liệu hoặc tư liệu khác được sưu tập dưới bất kỳ hình thức nào, mà tạo nên những sáng tạo trí tuệ, thì được bảo hộ. Sự bảo hộ này không dành cho chính bản thân dữ liệu hoặc tư liệu đó và không làm phương hại đến bất kỳ quyền tác giả nào đang tồn tại đối với dữ liệu hoặc tư liệu trong sưu tập đó”.

Việt Nam đã là thành viên của các công ước nêu trên và đã nội luật hóa các quy định nêu trên trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

2.Quy định về bảo hộ sưu tập dữ liệu theo pháp luật Việt Nam

Sưu tập dữ liệu là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm m Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 22 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ, sưu tập dữ liệu là “tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác.” Ví dụ, một người có thể tập hợp và xuất bản các truyện ngắn của bản thân, lấy tên là “Tuyển tập truyện ngắn của tác giả A”; hoặc một người có thể sưu tầm ảnh phong cảnh mây vùng Tây Bắc của nhiều tác giả khác nhau và tạo thành một tuyển tập ảnh có tên “Mây Tây Bắc”. Hiện nay, các cơ sở dữ liệu điện tử cũng được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng sưu tập dữ liệu. Tác giả của sưu tập dữ liệu có thể là tác giả hoặc không phải là tác giả của các tư liệu thuộc sưu tập dữ liệu đó, mà chỉ là người sưu tầm, sắp xếp các tư liệu có được theo một thứ tự nhất định.  

Tác giả của sưu tập dữ liệu sẽ có đủ quyền nhân thân và quyền tài sản đối với sưu tập dữ liệu đó, cụ thể:

  • Đặt tên cho tác phẩm sưu tập dữ liệu;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm sưu tập dữ liệu; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm sưu tập dữ liệu;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm sưu tập dữ liệu, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;
  • Phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao tác phẩm;
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm;

Bên cạnh đó, Điều 22 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó. Do đó, có thể hiểu rằng quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu và quyền tác giả đối với các tư liệu thuộc sưu tập dữ liệu là độc lập với nhau, bên cạnh đó việc thự hiện, hình thành tác phẩm sưu tập dữ liệu không được làm phương hại đến quyền tác giả của các tư liệu trong tác phẩm sưu tập dữ liệu.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Phân biệt “xâm phạm quyền tác giả” và “đạo văn”

Hành vi đạo văn nói chung là một hành vi không được chấp nhận trong xã hội, là hành vi lấy công sức, thành quả của người khác làm thành tác phẩm của mình. Hành vi xâm phạm quyền tác giả là hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy định của luật. Vậy, liệu đạo văn có phải là xâm phạm quyền tác giả hay không, và phân biệt hai hành vi này như thế nào?

“Đạo văn” không phải là một khái niệm trong pháp luật, nói cách khác, pháp luật Việt Nam hiện nay không có những quy định cụ thể, rõ ràng để định nghĩa hay giải thích về vấn đề đạo văn. Đạo văn là vấn đề được xem xét dưới góc độ đạo đức, còn xâm phạm quyền tác giả là một vấn đề pháp lý, được quy định rõ ràng ở trong luật.

Đạo văn là hành động sao chép tác phẩm hoặc sử dụng ý tưởng, phương pháp trong tác phẩm của người khác và đưa vào trong tác phẩm của mình, thể hiện chúng như tác phẩm gốc của chính mình. Trong môi trường học thuật, đạo văn là hành vi vi phạm quy tắc đạo đức học thuật nghiêm trọng. Hành vi đạo văn có thể do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Một số hành vi đạo văn thường thấy có thể kể đến như là:

  • Trích dẫn không đúng cách các tài liệu nguồn;
  • Lấy tác phẩm của người khách và xem như là của mình, bao gồm cả việc lấy từ việc dịch tác phẩm nước ngoài;
  • Diễn giải lại tác phẩm của người khác bằng cách thay đổi một số từ ngữ, thay đổi thứ tự các câu, hoặc bám sát cấu trúc lập luận của họ để tạo thành tác phẩm của mình;
  • Tự đạo văn của chính mình (ví dụ, gửi đồng thời tác phẩm của mình tới nhiều tòa soạn, hoặc sử dụng mà không trích dẫn rõ ràng đối với bài viết đã được xuất bản trước đây của chính mình).

Hành vi xâm phạm quyền tác giả là những hành vi được quy định rõ tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ. Những hành vi xâm phạm thường thấy như là: sao chép tác phẩm; làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm; phát sóng, phân phối, truyền đạt đến công chúng tác phẩm;…mà không xin phép, không trả tiền bản quyền cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Người thực hiện những hành vi xâm phạm quyền tác giả phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, cụ thể là chịu các chế tài hành chính hoặc hình sự, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.

Giữa đạo văn và xâm phạm quyền tác giả có điểm tương tự nhau về biểu hiện, ví dụ như việc tự ý sao chép, sử dụng tác phẩm, mạo danh tác giả, tuy nhiên không phải mọi hành vi đạo văn đều được coi là xâm phạm quyền tác giả và cũng không phải hành vi xâm phạm quyền tác giả nào cũng được coi là đạo văn. Cụ thể, bài viết đưa ra ví dụ với các trường hợp như sau:

  • Có đạo văn nhưng không xâm phạm quyền tác giả: một người có thể lấy kết quả trong tác phẩm nghiên cứu của người khác đưa vào trong tác phẩm nghiên cứu của mình nhưng không trích dẫn, không ghi tên tác phẩm được trích dẫn và tác giả của tác phẩm đó.
  • Xâm phạm quyền tác giả nhưng không đạo văn: hành vi sử dụng các tư liệu có sẵn trên internet gồm ảnh chụp, video, tranh vẽ, bản ghi âm, ghi hình, các bài viết nhưng không nằm trong các trường hợp ngoại lệ được phép sử dụng mà luật pháp quy định, vẫn có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Ví dụ, đăng lại các bài báo, tác phẩm truyện ngắn của người khác lên trang blog, trang web của mình mà không được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Phân biệt “xâm phạm quyền tác giả” và “đạo văn””. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?

Việc các nhiếp ảnh gia cùng chụp một khung cảnh là chuyện thường thấy trong thực tế. Vậy, các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tác phẩm nhiếp ảnh thuộc một trong số những loại hình tác phẩm được bảo hộ (tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ). Tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ với điều kiện:

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác (tại Khoản 3 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, theo Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”Từ quy định trên, có thể thấy rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, không bảo hộ nội dung tác phẩm (hay là những ý tưởng được truyền tải trong tác phẩm). Do đó, các tác giả khác nhau mà chụp cùng một đối tượng nhưng có hình thức thể hiện tác phẩm riêng biệt, độc lập với các tác giả khác thì các tác phẩm nhiếp ảnh đó hoàn toàn được bảo hộ quyền tác giả.

Cụ thể, việc chụp ảnh cùng một đối tượng nhưng các tác giả khác nhau thể hiện sự sáng tạo riêng của mình thông qua góc máy, các phương pháp, kỹ thuật chụp ảnh, ý tưởng tổng thể của tác phẩm, tạo cho người xem những cảm nhận khác nhau. Hai tác phẩm tuy cùng chụp một đối tượng nhưng không có sự tương đồng đáng kể trong cách thể hiện, và người xem cũng dễ dàng phân biệt được hai tác phẩm thì hai tác phẩm đó đều được bảo hộ quyền tác giả.

Với những lý do trên, có thể khẳng định rằng các tác phẩm nhiếp ảnh chụp dùng một đối tượng do những tác giả khác nhau thực hiện không bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Người mẫu của một bức tranh/bức ảnh có quyền đối với bức tranh, bức ảnh có mặt họ không?

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiếp ảnh gia sẽ là người nắm giữ quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh do mình chụp, còn họa sĩ sẽ có quyền tác giả đối với các bức tranh do họ vẽ. Tuy nhiên đối với những bức ảnh hay bức tranh chụp/vẽ con người, Người mẫu của một bức tranh bức ảnh có quyền đối với bức tranh bức ảnh có mặt họ không? Mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD đễ biết thêm thông tin chi tiết.

1. Quyền hình ảnh là gì?

Quyền hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân của cá nhân. Do đó, khi sử dụng hình ảnh của bất cứ ai cũng phải được người đó cho phép và đồng ý. Quyền này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

  • Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
  • Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Do đó, nếu tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân, người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Người mẫu ảnh hoặc tranh cũng có quyền hình ảnh đối với bức tranh/bức ảnh có mặt họ. Tuy nhiên nếu tác giả của bức ảnh/bức tranh đã có sự đồng ý khi sử dụng hình ảnh của người mẫu thì người mẫu không có quyền sở hữu đối với bức ảnh/bức tranh này.

2. Quyền của người mẫu đối với bức tranh/bức ảnh có mặt họ

Bức ảnh hay bức tranh đều có thể tạo nên mâu thuẫn về quyền tác giả giữa người được chụp và nhiếp ảnh gia, hoặc họa sĩ. Hai bên đều có lập luận đáng tin cậy, vững chắc về việc tại sao mình có quyền đối với bức ảnh, bức tranh, một bên là người tạo nên, bên còn lại là đối tượng chính của bức tranh đó.

Câu trả lời cho việc quyền tác giả thuộc về ai sẽ còn tùy thuộc vào trường hợp hình ảnh cá nhân đã được người đó đồng ý hay chưa, và có trả thù lao cho người làm mẫu hay không.

Một họa sĩ dành hàng giờ để vẽ một người tạo dáng chuyên nghiệp được thuê để tạo dáng, đứng im trong nhiều giờ đồng hồ liên tục. Trong trường hợp này thì hiển nhiên quyền đối với bức tranh tạo nên sẽ thuộc về họa sĩ chứ không phải đối tượng của bức tranh.

Tương tự như vậy, quyền đối với bức ảnh sẽ thuộc về nhiếp ảnh gia chứ không phải người được chụp. Dẫu vậy, việc nhiếp ảnh gia đó có quyền chụp ảnh người bị chụp không lại là một vấn đề khác. Nếu tranh ảnh được vẽ, chụp mà không có sự xin phép của đối tượng được chụp có thể dẫn đến các vụ kiện từ chính người bị chụp, được vẽ do họ đã bị xâm phạm quyền riêng tư, xúc phạm danh dự (nếu có)…

Theo đó, quyền đối với các bức ảnh/bức tranh rõ ràng thuộc về người chụp ảnh/họa sĩ trong trường hợp không có mâu thuẫn về bản chất nào khác. Nếu đối tượng được chụp ảnh sử dụng ảnh mà không xin phép, họ đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả của nhiếp ảnh gia.

Trên đây là bài viết “Người mẫu của một bức tranh/bức ảnh có quyền đối với bức tranh, bức ảnh có mặt họ hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023

Nhằm tôn vinh vai trò của sở hữu trí tuệ (SHTT) trong đời sống kinh tế – xã hội, nâng cao nhận thức của cộng đồng về SHTT, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã chọn ngày 26 tháng 4 hằng năm là “Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới”.

Trải qua nhiều mốc lịch sử, phụ nữ đã dần dần khẳng định vị trí của mình. Bằng sự khéo léo và sáng tạo, phụ nữ đã và đang định hình lại thế giới của chúng ta. Với sự tự tin và vốn tri thức của mình, phụ nữ đang thúc đẩy các đột phá khoa học; thiết lập các xu hướng sáng tạo và tạo dựng các doanh nghiệp mới.

Mọi đối tượng, ở khắp mọi nơi, đều có thể sử dụng quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ để bảo vệ công nghệ, thương hiệu và sự sáng tạo của mình. Trong đó, phụ nữ chiếm gần một nửa dân số toàn cầu, họ mang tiềm năng rất lớn và là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia sáng tạo. Thông qua ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023, WIPO gửi tới thông điệp ủng hộ sự sáng tạo của phụ nữ, với mong muốn phụ nữ tham gia vào hoạt động đổi mới và sáng tạo nhiều hơn. Đồng thời WIPO cũng mong muốn góp phần tạo môi trường sáng tạo tốt hơn cho phụ nữ, khuyến khích phụ nữ sáng tạo và khai thác, sử dụng hiệu quả các công cụ bảo hộ sở hữu trí tuệ. Khi phụ nữ tăng cường tham gia vào hoạt động đổi mới, sáng tạo và kinh doanh song hành và gắn với những ý tưởng và quan điểm mới, tất cả chúng ta đều được hưởng lợi.

Vậy nên, chúng ta cần khuyến khích nhiều phụ nữ tham gia vào việc phát triển sở hữu trí tuệ, để họ có cơ hội thể hiện tài năng cũng như mang đến những quan điểm mới mẻ đối với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, kinh tế và xã hội hiện nay.

Năm 2023, WIPO đã công bố chủ đề của Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới là “Phụ nữ với Sở hữu trí tuệ – Thúc đẩy đổi mới sáng tạo”. Thông điệp của Ngày Sở hữu trí tuệ năm nay đề cao sức sáng tạo của phụ nữ và khuyến khích phụ nữ tìm hiểu và sử dụng hiệu quả công cụ sở hữu trí tuệ.

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023 là dịp để tôn vinh tất cả những người phụ nữ tài năng trên toàn thế giới. Hãy hướng tới bình đẳng giới trong hoạt động sở hữu trí tuệ và giải phóng sự khéo léo và sáng tạo của phụ nữ và trẻ em gái ở khắp mọi nơi. Cùng nhau, chúng ta có thể xây dựng một ngày mai tốt đẹp hơn.

Livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác có được coi là xâm phạm bản quyền?

1. Livestream như thế nào được coi là xâm phạm quyền tác giả ?

Livestream (hay còn gọi là phát trực tiếp) là quá trình phát video trực tiếp trong thời gian thực đến khán giả trên mạng internet mà không cần ghi lại hoặc lưu trữ trước. Chỉ cần sử dụng các loại điện thoại thông minh được kết nối internet, thông qua các nền tảng công nghệ như Facebook, Youtube,…người dùng có thể tự livestream, chia sẻ cho công chúng những gì đang xảy ra ở thời điềm hiện tại. Mặc dù công nghệ livestream đem lại rất nhiều lợi ích cho mọi người, song lại tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra xâm phạm bản quyền. Có nhiều trường hợp người livestream không để ý, vô tình đã sử dụng những đoạn nhạc, hình ảnh, video của người khác trong khi thực hiện livestream. Cũng có những trường hợp khác, người livestream cố ý sử dụng những đoạn nhạc, hình ảnh, video của người khác để thu hút người xem mặc dù không có sự cho phép của chủ sở hữu những âm thanh, hình ảnh, video đó. Hành vi nêu trên, dù là cố ý hay vô tình đều được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, một trong những quyền tài sản thuộc quyền tác giả là quyền phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn (Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ). Việc các cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng quyền phát sóng và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả. Hành vi livestream mà sử dụng tác phẩm của người khác mà không được sự cho phép và không trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi trái với quy định của pháp luật, xâm phạm quyền phát sóng và truyền đạt đến công chúng tác phẩm.Bên cạnh đó, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ đã nêu rõ hành vi xâm phạm quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Từ những quy định trên, có thể khẳng định rằng hành vi livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác mà không được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cho phép, không trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả được coi là hành vi xâm phạm bản quyền.

2. Hành vi livestream xâm phạm quyền tác giả sẽ bị xử lý như thế nào?

Theo quy định tại Nghị định 131/2013/NĐ-CP, việc livestream xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử phạt hành chính như sau:

  • Hành vi xâm phạm quyền công bố tác phẩm (Điều 11): Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định; Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.
  • Hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng (Điều 17):  Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định; Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của người biểu diễn (Điều 23): Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi định hình cuộc biểu diễn trực tiếp trên bản ghi âm, ghi hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của người biểu diễn; Buộc dỡ bỏ bản sao cuộc biểu diễn vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình (Điều 25): Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của người biểu diễn, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng; Buộc dỡ bỏ bản sao cuộc biểu diễn vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng (Điều 31): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi phân phối đến công chúng bản sao chương trình phát sóng mà không được phép của chủ sở hữu quyền của tổ chức phát sóng; Buộc dỡ bỏ bản sao chương trình phát sóng dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Trên đây là bài viết “Livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác có được coi là xâm phạm bản quyền?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Thông báo nghỉ lễ 30/4 – 1/5 năm 2023

Bản quyền Việt Nam xin gửi tới Quý Khách hàng lịch nghỉ lễ 30/4 -1/5 năm 2023 như sau:

➤ Thời gian nghỉ từ ngày 29/01/2023 (Thứ Bảy) đến hết ngày 03/05/2023 (Thứ Tư)

➤ Thời gian làm trở lại: Ngày 04/05/2023 (Thứ Năm)

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách hàng, Đối tác và Cộng sự vui lòng liên hệ Hotline: 0856100294 để được hỗ trợ.

Trân trọng!

Biến tướng khi làm video review phim – liệu có vi phạm bản quyền?

Review phim ban đầu có nghĩa là đánh giá và bình luận về phim, đây là một cách phổ biến và đơn giản để cung cấp thông tin về phim, nhằm mục đích giới thiệu đến những người đang quan tâm về một bộ phim nào đó. Tuy nhiên, review phim dần dần bị biến tướng dưới dạng video ngắn cắt ghép, chỉnh sửa để giới thiệu đầy đủ về nội dung phim rồi đăng tải trên Youtube, Facebook Watch hay TikTok, nhằm mục đích kiếm tiền. Vậy việc làm những video review phim đó có phải là vi phạm bản quyền không, hãy cùng theo dõi bài viết sau của VCD.

1. Review phim và những biến tướng của từ “review”

Review hiện nay là một xu hướng nở rộ của giới trẻ. Nghề review là nghề sử dụng ý kiến chủ quan trên góc độ người sử dụng để đánh giá về một sản phẩm, dịch vụ, những quán ăn, địa điểm du lịch và cả những bộ phim hay. Nói lên cảm nhận và đánh giá chân thực của bản thân khi từng trải nghiệm, từ đó giúp mọi người quyết định có nên sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay xem bộ phim đó nữa hay không. Tóm gọn lại, review phim được hiểu là những cảm nhận, đánh giá chủ quan của người review trong suốt quá trình họ xem phim.

Theo quy định của pháp luật, những người làm video review không được tiết lộ các tình tiết chính của bộ phim mà thường họ sẽ đánh giá tổng quan về các nhân vật, diễn viên hay bối cảnh phim. Từ đó, các reviewer sẽ nêu lên ý kiến cá nhân giúp khán giả có thêm thông tin tham khảo trong quá trình lựa chọn phim mà mình sẽ xem.

Tuy nhiên, hiện nay, bản chất review phim ở Việt Nam lại là biến tướng của recap phim (tóm tắt lại một phần hoặc toàn bộ nội dung bộ phim). Thực chất, các đoạn phim ngắn xuất hiện trên các trang mạng xã hội như youtube, facebook, tiktok với tiêu đề là review phim nhưng lại là tóm tắt nội dung phim. Bởi lẽ các video/clip này thường thuật lại toàn bộ chi tiết bộ phim và có một số ít hoặc không có đánh giá của người làm video. Thậm chí, các video này còn có những chỗ review sai lệch nội dung phim, làm ảnh hưởng đến thông điệp mà ekip sản xuất muốn truyền đạt đến người xem.

2. Review phim có vi phạm bản quyền không?

Theo Luật sở hữu trí tuệ, “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”. Trong đó, việc tạo ra các video review phim được coi là làm tác phẩm phái sinh. Và việc review phim mà tiết lộ toàn bộ hoặc từng phần nội dung phim được coi là đang xâm phạm bản quyền tác phẩm, quyền chủ sở hữu tác phẩm.

Theo quy định mới sửa đổi bổ sung tại khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ: “Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào“. Với quy định này, việc sao chép một phần tác phẩm chính thức được xem là hành vi sao chép, tạo cơ sở pháp lý để khắc phục được những vướng mắc do pháp luật không quy định rõ ràng trong nhiều vụ việc liên quan đến quyền tác giả trước đây.

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, trong số các hành vi xâm phạm quyền tác giả có hành vi:

  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, ngoại trừ trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị, thì việc làm tác phẩm phái sinh nào cũng phải được sự cho phép của tác giả/chủ sở hữu tác phẩm gốc

Bên cạnh đó, việc review phim không thuộc các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và cũng không thuộc các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định.

Do đó, người nào review phim mà tiết lộ toàn bộ hoặc từng phần nội dung phim đang có là hành vi xâm phạm bản quyền tác phẩm, quyền chủ sở hữu tác phẩm. Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức làm review phim có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết “Biến tướng khi làm video review phim – liệu có vi phạm bản quyền”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?

Đứng trước nguy cơ bị xâm phạm quyền tác giả ngày càng nhiều, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?

1. Quyền tự bảo vệ của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan:

Có thể hiểu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là việc nhà nước và chủ sở hữu quyền sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên thực tế và việc xử lý khi có hành vi xâm phạm diễn ra. Các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền tự bảo vệ và điều này đã được ghi nhận tại Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình (theo Khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ) :

a) Áp dụng biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Bên cạnh đó, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng các biện pháp trên để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Các biện pháp nêu trên đã khá đầy đủ để giúp các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan ngăn chặn hành vi xâm phạm cũng như tự bảo vệ khi hành vi xâm phạm xảy ra. Tuy nhiên, để những biện pháp nêu trên đạt hiệu quả cao nhất, các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần phải chú ý đến việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, lưu trữ các tài liệu trong khi sáng tác và công tác kiểm tra, rà soát các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm của mình.

2. Những việc mà tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan cần lưu ý để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Để bảo vệ quyền lợi của mình, các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan nên có sự chuẩn bị trước, chú trọng bảo vệ quyền tác giả ngay từ những ngày đầu tiên để tránh những trường hợp tranh chấp xảy ra cũng như có những hướng xử lý phù hợp khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra. Chúng tôi xin tổng hợp lại những điều cần lưu ý như sau:

  • Thực hiện đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan ngay sau khi hoàn thành tác phẩm.

Ngay sau khi hoàn thành tác phẩm, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên thực hiện đăng ký quyền tác giả để bảo vệ quyền lợi của mình một cách chặt chẽ nhất. Nếu không có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, khi có tranh chấp xảy ra, việc chứng minh quyền sở hữu đối với tác phẩm bảo hộ là rất khó khăn. Mặt khác, theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là tài liệu quan trọng nhất để chứng minh quyền của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu.

  • Sử dụng các biện pháp công nghệ thích hợp để bảo vệ quyền tác giả.

Ngay trên mỗi bản sao tác phẩm, chủ sở hữu có thể đưa thông tin khuyến cáo người khác không được xâm phạm, hoặc sử dụng những biện pháp kỹ thuật để đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ. Ngoài ra, trên môi trường mạng internet, các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan có thể áp dụng công nghệ kiểm soát quyền truy cập tác phẩm và công nghệ kiểm soát việc sử dụng tác phẩm. Kiểm soát quyền truy cập là kiểm soát cách thức mà người dùng có thể xem, đọc, nghe hoặc tiếp cận khác về nội dung tác phẩm (ví dụ sử dụng mật khẩu, giới hạn thời gian,…). Kiểm soát quyền sử dụng là giới hạn một tác phẩm chỉ có thể được xem, hoặc có thể sao chép, truyền đạt, phát hoặc các hình thức sử dụng khác ở mức độ nhất định khi người dùng truy cập được vào tác phẩm.

  • Lưu trữ bản gốc của tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; các bản sao được công bố hợp pháp của tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Các tài liệu trên là một trong những chứng cứ chứng minh chủ thể quyền khi yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền được quy định tại Điều 24 Nghị định 105/2006/NĐ-CP trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Lưu trữ các tài liệu chứng minh việc tạo ra, công bố, phổ biến tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; các tài liệu  bản gốc hoặc bản sao hợp pháp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ hoặc văn bản xác nhận quyền thừa kế, quyền kế thừa đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Những tài liệu này là căn cứ để chứng minh chủ thể quyền và căn cứ xác lập quyền bảo hộ của tác phẩm, theo Điều 6 và Điều 24 Nghị định 105/2006/NĐ-CP trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Thường xuyên liên hệ, hợp tác với các chuyên gia về quyền tác giả, quyền liên quan để kết hợp kiểm tra, rà soát các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm của mình và để được tư vấn, hỗ trợ trong việc thu hồi tiền bản quyền.

Trên đây là bài viết “Tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,