Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, báo chí tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Vì những ưu điểm nổi bật của mình nên loại hình này hiện nay đang bị xâm phạm quyền tác giả một cách đáng báo động. Vì vậy việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử là vô cùng cần thiết, tuy nhiên, không phải mọi tác phẩm báo điện tử nào cũng đều được bảo hộ mà chỉ có những tác phẩm báo điện tử đáp ứng một số tiêu chí nhất định mới là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Bài viết dưới đây, Bản Quyền Việt Nam sẽ gửi tới bạn đọc nội dung các điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử ở Việt Nam hiện nay.

I. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử là gì?

Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang website và phát hành dựa trên nền tảng internet. Báo điện tử được xuất bản bởi tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng… có kết nối internet.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì quyền tác giả nói chung được hiểu như một tập hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo khái niệm trên, có thể hiểu, luật thừa nhận hai chủ thể có quyền tác giả là tác giả của tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả. Theo quy định này thì cá nhân có thể là chủ sở hữu quyền tác giả hay tác giả của tác phẩm hoặc cả hai tư cách đó.

Bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm báo điện tử là tổng hợp các chế định pháp lý nhằm bảo hộ bằng pháp luật quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử. Bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm điện tử tạo điều kiện cần thiết các chủ thể quyền tác giả được hưởng đầy đủ quyền và lợi vật chất, đồng thời, còn giúp cho chủ thể tránh khỏi những hành vi xâm phạm có thể xảy ra, tạo động lực để thực hiện sứ mệnh phát triển nền kinh tế tri thức.

II. Điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử ở Việt Nam

Theo luật pháp Việt Nam, không phải mọi tác phẩm báo điện tử nào cũng đều được bảo hộ mà chỉ có những tác phẩm báo điện tử đáp ứng một số tiêu chí nhất định mới là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Tác phẩm báo điện tử được bảo hộ khi nội dung của tác phẩm báo điện tử không vi phạm pháp luật, không vi phạm thuần phong mỹ tục, đạo đức, không có hại cho quốc phòng, an ninh quốc gia.

Điều 9 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định, tác phẩm báo chí được bảo hộ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.

Theo đó, để được công nhận là tác giả đối với tác phẩm báo điện tử cần phải thỏa mãn các tiêu chí cụ thể:

Một là, tiêu chí về tính nguyên thủy (hay còn gọi là tính gốc của sáng tạo thể hiện tác phẩm báo điện tử). Tính nguyên thủy có nghĩa là sự sáng tạo của chính tác giả, không sao chép toàn bộ hoặc một phần cơ bản từ tác phẩm khác, bao gồm: (i) Tính sáng tạo, không phải là cách sắp xếp diễn đạt đơn thuần, bắt chước cách diễn đạt, thể hiện ngôn từ, màu sắc, khuôn mẫu có sẵn trong tác phẩm của người khác; (ii) Tác phẩm báo điện tử được bảo hộ phải là bản gốc (bản đầu tiên của tác phẩm do tác giả sáng tạo ra; (iii) Bảo đảm tính toàn vẹn của tác phẩm báo điện tử.

Hai là, tiêu chí về định hình dưới một dạng vật chất nhất định.

Ba là, tiêu chí về phạm vi chủ thể thông thường được xác định trên cơ sở pháp luật nơi thực hiện hành vi sáng tác hoặc công bố tác phẩm.

Để được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử thì phải đáp ứng các điều kiện sau: (i) Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử phải bảo đảm tính nguyên gốc tức là tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ bất cứ một tác phẩm của người khác; (ii) Chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm báo điện tử chứ không bằng nội dung lý tưởng, điều này có nghĩa là tác phẩm báo điện tử về bảo hộ phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định, những tác phẩm báo điện tử mới chỉ là ý tưởng chưa được sáng tạo cụ thể thì không được bảo hộ.

Cơ chế bảo hộ tác phẩm báo điện tử được xác lập tự động sau khi tác phẩm được hoàn thành, việc nộp đơn để được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để hưởng quyền tác giả. Tuy nhiên, để bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của mình, đề phòng trường hợp xảy ra tranh chấp, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên thực hiện đăng ký quyền tác giả ngay sau khi hoàn thành tác phẩm. Bởi lẽ, trên thực tế, việc chứng minh quyền tác giả khi chưa đăng ký bảo hộ là rất khó khăn, tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức, trong khi đó nếu xảy ra tranh chấp thì tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không có nghĩa vụ phải chứng minh quyền tác giả thuộc về mình. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là tài liệu quan trọng, cơ bản nhất để chứng minh quyền tác giả đối với tác phẩm, do đó các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên thực hiện thủ tục đăng ký sớm nhất có thể.

Trên đây là nội dung bài viết “Điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm báo điện tử ở Việt Nam hiện nay”. Bản Quyền Việt Nam hy vọng bài viết này có ích với bạn đọc.

Trân trọng.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

1. Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

– Tại điểm l khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2022 (“Luật SHTT”), tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thuộc loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

– Tại khoản 1 Điều 23 Luật SHTT và Điều 18 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:

  • Truyện, thơ, câu đố (được hiểu là các loại hình nghệ thuật ngôn từ);
  • Điệu hát, làn điệu âm nhạc; Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi (được hiểu là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian);
  • Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.

2. Nguyên tắc chung về bảo hộ quyền quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

  • Ngoài việc được áp dụng quy định đặc thù đối với loại hình là tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, việc bảo hộ quyền tác giả đối với loại hình tác phẩm này được áp dụng các quy định chung về bảo hộ quyền tác giả.
  • Ba nguyên tắc cơ bản chi phối lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Nguyên tắc đối xử quốc gia, Nguyên tắc bảo hộ tự động hay bảo hộ đương nhiên, Nguyên tắc bảo hộ độc lập.
  • Nguyên tắc đối xử quốc gia: Được thể hiện tại Khoản 1 Điều 5 Công ước Berne, theo đó đối với những tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các tác giả được hưởng quyền tác giả ở các nước Liên hiệp ngoại trừ quốc gia gốc của tác phẩm, những quyền lợi do luật quốc gia liên quan dành cho công dân nước đó trong hiện tại và trong tương lai cũng như những quyền lợi mà Công ước này đặc biệt quy định. Điều 13 Luật SHTT cũng quy định rằng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà nước Việt Nam là thành viên.
  • Nguyên tắc bảo hộ tự động hay bảo hộ đương nhiên: Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào bất kì thủ tục nào như đăng kí, hay phải công bố tác phẩm. Thuật ngữ “hình thức vật chất” được hiểu là bất kì hình thức thể hiện nào mà qua đó công chúng có thể thấy được sự tồn tại của tác phẩm. Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT khẳng định điều này, theo đó quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.
  • Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Được thể hiện tại khoản 2 Điều 5 Công ước Berne, theo đó việc hưởng và thực hiện quyền tác giả hoàn toàn độc lập không tuỳ thuộc vào việc tác phẩm có được bảo hộ hay không ở nước gốc của tác phẩm. Do đó, ngoài những quy định của Công ước này, mức độ bảo hộ cũng như các biện pháp khiếu nại đảm bảo cho tác giả để bảo hộ quyền lợi của mình sẽ hoàn toàn do quy định của luật pháp của nước nơi sự bảo hộ được áp dụng.

3. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian

  • Tại Điều 18 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là Truyện, thơ, câu đố; Điệu hát, làn điệu âm nhạc; Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi được bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình.
  • Tại khoản 2 Điều 23 Luật SHTT và khoản 4 Điều 18 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó (cụ thể là chỉ ra nguồn gốc, địa danh của cộng đồng cư dân nơi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hình thành) và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Việc sử dụng nêu trên bao gồm việc sưu tầm, nghiên cứu, biểu diễn, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
  • Thời hạn bảo hộ (quy định tại Điều 27 Luật SHTT): tác phẩm sân khấu, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên, nếu tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm kể từ khi tác phẩm được định hình;
  • Các quyền nhân thân (Đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả) được bảo hộ vô thời hạn.
  • Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết. Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Những biện pháp có thể áp dụng để bảo hộ sở hữu trí tuệ

Hiện nay, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang ở mức báo động. Và chúng ra có thể dễ thấy điều đó trên thực tế khi mà hàng giả, hàng nhái xuất hiện tràn lan trên các khu chợ dân sinh, các quán tạp hóa hay thậm trí là trong các trung tâm thương mại. Vì vậy, trước thực trạng đó, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể làm gì để bảo hộ sở hữu trí tuệ của mình? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ nêu ra và phân tích những biện pháp có thể áp dụng để bảo hộ sở hữu trí tuệ để bạn đọc có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

1. Biện pháp tự bảo vệ

Biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp do chính chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu xảy ra hoặc xử lý khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã xảy ra. Và theo Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ 2005, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

  • Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
  • Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
  • Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Biện pháp bảo vệ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện

  • Biện pháp dân sự: là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự.
  • Biện pháp hình sự:  Là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định là tội phạm theo thủ tục tố tụng hình sự.

Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được coi là tội phạm khi có đủ các yếu tố cấu thành một trong các tội quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sau:

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157) ; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú; thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); Tội lừa dối khách hàng (Điều 162) ; Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) ; Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a) ; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) ; Tội vi phạm các quy định về xuất bản phát hành sách, báo; đĩa âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271).

  • Biện pháp hành chính: là việc cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân, tổ chức khác bị thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc phát hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm.
  • Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ: là việc cơ quan có thẩm quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

  3. Dịch vụ hỗ trợ bản quyền của VCD         

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực Bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của VCD.

Trên đây là bài viết Những biện pháp có thể áp dụng để bảo hộ sở hữu trí tuệ. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

🌺THÔNG BÁO NGHỈ TẾT ÂM LỊCH 2023🌺

Nhân dịp Tết đến xuân về, Bản quyền Việt Nam gửi tới Quý khách hàng lịch nghỉ tết âm lịch 2023 như sau:

➤ Thời gian nghỉ từ ngày 20/01/2023 (Thứ Sáu) đến hết ngày 29/01/2023 (Chủ nhật)

➤ Thời gian làm trở lại: Ngày 30/01/2023 (Thứ Hai)

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách hàng, Đối tác và Cộng sự vui lòng liên hệ Hotline: 0856100294 để được hỗ trợ.

Trân trọng!

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, những sáng tạo đóng vai trò thiết yếu và thúc đẩy khả năng cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế. Các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên sức sáng tạo, khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền tác giả nói riêng ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Vậy thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định như thế nào, trong bài viết này chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề này.

1. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là khoảng thời gian do pháp luật quy định về việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm thuộc loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Thời hạn bảo hộ được quy định tại Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2022 (“Luật SHTT”). Theo đó, có thể xác định về thời hạn bảo hộ như sau:

– Bảo hộ vô thời hạn:

  • Các quyền được pháp luật bảo hộ vô thời hạn là các quyền nhân thân gắn liền với tác giả không thể chuyển dịch, bao gồm:
  • Quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm;
  • Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

– Bảo hộ có thời hạn:

Các quyền đối với tác phẩm được pháp luật bảo hộ có thời hạn bao gồm quyền nhân thân có thể chuyển dịch (quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm) và các quyền tài sản. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định như sau:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Ví dụ như tác phẩm điện ảnh đã được định hình nhưng đến năm thứ 40, tác phẩm mới công bố thì thời hạn bảo hộ tác phẩm chỉ còn 60 năm kể từ thời điểm tác phẩm đó được công bố. Riêng đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả được xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết.
  • Tác phẩm không thuộc loại hình nêu trên có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.
  • Thời hạn bảo hộ sẽ chấm dứt vào 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm cuối cùng của thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định.

2. Hậu quả pháp lý khi hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Sau khi thời hạn bảo hộ quyền tác giả bị chấm dứt thì quyền sở hữu tác phẩm sẽ thuộc về công chúng; tức là ai cũng có thể sử dụng tác phẩm đó vào mục đích cá nhân một cách hợp pháp mà không bị ngăn cản bởi bất kỳ một chế định pháp luật, ví dụ như có thể chế tác, cải biên, chuyển thể,…

Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, ví dụ như không được đặt tên mới cho tác phẩm hay đứng tên cho tác phẩm, không được sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của Bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, Bản quyền Việt Nam tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực Bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi.

Trên đây là bài viết Thời hạn bảo hộ quyền tác giả”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Nhận diện các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, chúng ta có thể dễ dàng tạo ra một sản phẩm trí tuệ và trở thành chủ thể của quyền tác giả. Tuy nhiên, không phải tất cả những sản phẩm trí tuệ chúng ta tạo ra đều nghiễm nhiên được bảo hộ quyền tác giả. Với bài viết này, Bản Quyền Việt Nam sẽ nêu và phân tích các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả để bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về quyền tác giả, từ đó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

1. Quyền tác giả là gì?

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Theo đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Quyền này cho phép người sáng tạo ra hoặc sở hữu đối tượng quyền tác giả kiểm, soát được việc khai thác, sao chép, cải biên, công bố tác phẩm của mình. Quyền tác giả bảo hộ sự biểu hiện ‎ý tưởng (tác phẩm) về văn hóa nghệ thuật (có thể hai tác phẩm có ý tưởng giống nhau nhưng hình thức thể hiện khác nhau thì vẫn được bảo hộ).

Quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được công bố không bắt buộc phải đăng ký, nhưng nếu được đăng ký thì thủ tục bảo hộ quyền tác giả được chặt chẽ hơn. Việc bảo hộ quyền tác giả đã mang lại những lợi ích to lớn cho bản thân tác giả và cho cả xã hội, không chỉ tạo ra những giá trị về tinh thần, về tài sản mà còn thúc đẩy sự sáng tạo của con người, góp phần phát triển nền văn hóa của một quốc gia.

2. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

Đối với các tin tức thời sự chỉ thuần tuý việc đưa tin không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo. Những tin tức thời sự cần được tuyên truyền đến công chúng nhanh nhất như các tin về dịch bệnh, bão, thảm họa, tai nạn giao thông nghiêm trọng… Nếu những tin tức thời sự mà được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả thì phải thông qua những thủ tục nhất định nên khó khăn cho việc tiếp cận và mất đi tính thời sự. Tuy nhiên, nếu việc đưa tin thời sự có kèm theo những nhận định, bình luận của tác giả như phóng sự, sự kiện và bình luận… đã thể hiện sự sáng tạo của tác giả thì được bảo hộ theo quy định của pháp luật.

  • Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Các văn bản trên không được bảo hộ quyền tác giả bởi những văn bản này mang tính quyền lực nhà nước mang tính phạm vi tác động tới toàn lãnh thổ của một quốc gia. Nên nếu được bảo hộ thì mọi người sử dụng phải xin phép chủ sở hữu, điều đó làm mất đi mục đích ban hành các loại văn bản này, là nhằm để phổ biến rộng khắp tới tất cả mọi người.

Các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Bất cứ nhà nước nào cũng ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các văn bản pháp luật và những bản dịch của văn bản đó được phổ biến rộng rãi, tuyên truyền đến mọi chủ thể qua nhiều kênh thông tin khác nhau nên không bảo hộ quyền tác giả.

  • Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu không thành đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là vì nó không đảm bảo các điều kiện về tính sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của Bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, Bản quyền Việt Nam tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực Bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả”. Bản Quyền Việt Nam hi vọng qua bài viết này bạn đọc sẽ có cái nhìn tổng quan hơn về quyền tác giả tại Việt Nam.

Trân trọng,

Sở hữu trí tuệ là gì? Tại sao doanh nghiệp phải bảo hộ sở hữu trí tuệ?

Trong thời đại bùng nổ của khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ không còn là vấn đề của một quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề lớn của toàn cầu. Khi sản phẩm trí tuệ không ngừng tăng lên thì quyền sở hữu trí tuệ cũng dễ bị xâm phạm hơn, nhất là trong thời kỳ công nghệ số ngày nay. Vì vậy, việc bảo hộ là vô cùng quan trọng đối với chủ thể sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Và trong bài viết “Sở hữu trí tuệ là gì? Tại sao doanh nghiệp phải bảo hộ sở hữu trí tuệ? này, Bản Quyền Việt Nam sẽ phân tích và đưa ra các lý do các doanh nghiệp cần phải bảo hộ sở hữu trí tuệ.

I. Sở hữu trí tuệ là gì?

Sở hữu trí tuệ, hay có khi còn gọi là tài sản trí tuệ, là những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con người. Ðó có thể là tác phẩm văn học, âm nhạc, phần mềm máy tính, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp. Và để bảo vệ các tài sản này, pháp luật Việt Nam đã quy định chúng dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ; cụ thể, đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

II. Tại sao doanh nghiệp phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ?

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp, xã hội bởi:

  • Điều này khuyến khích sự sáng tạo: Đối với chủ thể nắm quyền sở hữu, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ là động lực giúp họ sáng tạo, đem nỗ lực, cống hiến của họ vào các hoạt động nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, tạo ra những sản phẩm tốt.
  • Điều này thúc đẩy kinh doanh: Việc bảo vệ sở hữu trí tuệ góp phần giảm thiểu tổn thất, tránh những thiệt hại về mặt kinh tế do hành vi “chiếm đoạt” của các đối thủ cạnh tranh.
  • Bảo hộ sở hữu trí tuệ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Pháp luật sở hữu trí tuệ chống mọi hành vi sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ, cũng như những hành vi sử dụng trái phép thông tin bí mật được bảo hộ.
  • Điều này tạo uy tín cho doanh nghiệp: Để tạo nên thương hiệu riêng, tổ chức, cá nhân phải đầu tư trong nhiều năm, mất rất nhiều chi phí cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (nghiên cứu để tạo ra, thử nghiệm…), rồi mới có thể đưa một sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Vì vậy, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ như một minh chứng để khẳng định chất lượng, mức độ uy tín của thương hiệu đối với người tiêu dùng.
  • Bảo hộ sở hữu trí tuệ mang lại lợi ích quốc gia: Ngoài những lí do trên, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn có ý nghĩa về chính trị. Nếu muốn gia nhập làm thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì điều kiện tiên quyết đối với các quốc gia là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, điều này đóng vai trò quan trọng trong việc hội nhập kinh tế nước ta với thế giới.

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, Bản quyền Việt Nam tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực Bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, chúng tôi cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của Bản quyền Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Sở hữu trí tuệ là gì? Tại sao doanh nghiệp phải bảo hộ sở hữu trí tuệ?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,