Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Phải làm gì khi tác phẩm do mình tạo ra lại bị đơn vị khác đánh bản quyền?

Với sự gia tăng của các nền tảng mạng xã hội cùng với đó là các nội dung có thể được phát sóng trực tiếp đến hàng riệu người dùng ngày càng cao. Do đó, việc phát tán và sử dụng trái phép các tác phẩm có bản quyền chẳng hạn như nhạc, video, hình ảnh cũng dễ dàng và phổ biến hơn. Tuy nhiên rất nhiều trường hợp chủ sở hữu lại bị đánh bản quyền trên chính tác phẩm của mình. Vậy, phải làm gì khi tác phẩm do mình sáng tạo ra lại bị đơn vị khác đánh bản quyền? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Cơ chế “đánh gậy bản quyền” ở Việt Nam

Đánh gậy bản quyền là thuật ngữ dùng để chỉ hành vi thông báo vi phạm bản quyền trên không gian mạng. Khi một tác phẩm bị sử dụng mà không có sự cho phép của chủ sở hữu, họ có quyền yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm hoặc thực hiện các biện pháp pháp lý khác.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành cơ chế đánh gậy bản quyền và gỡ gậy bản quyền, hay còn được gọi là cơ chế Thông báo và Gỡ bỏ (Notice and Takedown Process), điển hình là quy trình Thông báo và Gỡ bỏ gắn liền với đạo luật bản quyền thiên niên kỷ kỹ thuật số của Mỹ năm 1998 (Quy trình Mỹ). Đạo luật Bản quyền Thiên niên kỷ Kỹ thuật số của Mỹ, hay còn gọi là “Digital Millennium Copyright Act” (DMCA). Cơ chế này, thường được biết đến với tên gọi “DMCA notice and takedown process,”.

Về cơ bản, quy trình xử lý vi phạm bản quyền tại Việt Nam sẽ diễn ra tương tự như quy trình tại Mỹ. Tuy nhiên, khác với quy trình Mỹ, quy trình Việt Nam không theo từng bước cụ thể mà là một quy trình kép, được chia thành hai phần bao gồm: “Quy trình 72 giờ và 10 ngày làm việc” và “Quy trình 24 giờ làm việc,” thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thực thi, theo quy định tại Điều 113 và 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP.

  • Quy trình 27 giờ và 10 ngày làm việc: Nhà cung cấp dịch vụ online sẽ dựa trên tài liệu chứng minh do chủ thể quyền gửi bao gồm chứng cứ về tư cách chủ thể, hành vi xâm phạm, vị trí, đường link dẫn đến nội dung sô nghi ngờ xâm phạm. Trong 24 giờ nhà cung cấp dịch vụ sẽ tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn hoặc ngăn chặn truy cập đến nội dung số đó và thông báo cho cả chủ thể quyền cùng bên sở hữu nội dung. Sau 10 ngày làm việc kể từ khi tạm gỡ bỏ, nếu không nhận được thông báo phản đối kèm bất kỳ chứng cứ chứng minh nào nhà cung cấp sẽ chính thức gỡ bỏ và ngăn chặn truy cập. Trường hợp nhận được phản hồi từ bên bị yêu cầu gỡ bỏ trong 72 giờ nhà cung cấp dịch vụ khôi phục lại thông tin số bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn đồng thời chuyển tiếp văn bản phản đối kèm theo chứng cứ.
  • Quy trình 24 giờ làm việc: Nhà cung cấp dịch vụ online phải gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy cập đến nội dung xâm phạm quyền tác giả trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan thực thi. Đồng thời, họ phải thông báo cho bên có nội dung bị gỡ bỏ và báo cáo kết quả thực hiện cho cơ quan thực thi trong vòng không quá 24 giờ. Nếu có phản đối từ bên có nội dung bị gỡ bỏ hoặc từ nhà cung cấp dịch vụ, một trong các bên này có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định pháp luật đối với quyết định của cơ quan thực thi.
Phải làm gì khi tác phẩm do mình tạo ra lại bị đơn vị khác đánh bản quyền

2. Thực trạng hiện nay

Vi phạm bản quyền tại Việt Nam đặc biệt trên các nền tảng mạng xã hội từ nhiều năm nay đã diễn ra với muôn hình vạn trạng. Do đó, hầu hết các nền tảng số hiện nay thực hiện theo cơ chế theo quy định tại Nghị định 17/2023/ND-CP. Các nền tảng công nghệ số luôn có những công cụ hỗ trợ giải quyết tự động. Các nền tảng mạng xã hội là các nhà cung cấp dịch vụ online có công cụ bảo vệ bản quyền riêng và thực hiện theo quy trình kép. Muốn sử dụng công cụ này phải đăng ký và được phê duyệt để sử dụng. Sau khi được phê duyệt Chủ sở hữu sẽ thêm nội dung mà mình độc quyền sở hữu và muốn bảo vệ bản quyền vào Thư viện tham chiếu. Sau đó, công cụ đánh bản quyền này sẽ quét các nội dung được đăng tải trên các nền tảng rồi đưa ra kết quả dựa trên cơ sở dữ liệu đã được cung cấp.

Một ví dụ điển hiện đang xôn xao hiện nay là vụ việc clip về chương trình truyền hình do một công ty sản xuất, sở hữu bản quyền vừa bị một đơn vị truyền thông khác tự ý đăng tải lại và đưa video trên vào danh mục do mình sở hữu bản quyền dẫn đến việc kênh chính thức của công ty bị nền tảng công nghệ đánh bản quyền đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Đáng chú ý, đơn vị này còn tuyên bố rằng video thuộc sở hữu bản quyền của mình. Hành động này đã dẫn đến việc kênh chính thức của công ty đó bị đánh gậy bản quyền trên các nền tảng ảnh hưởng đến uy tín và tài chính.

Là một công ty lớn có tiếng và có một đội ngũ riêng phân công, theo dõi, rà quét các vi phạm bản quyền đối với các nội dung do mình sản xuất và phát sóng lại bị đơn vị khác đánh bản quyền trên chính tác phẩm của mình. Phải chăng là do công ty chưa đăng ký bản quyền tác phẩm với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền? Do đội ngũ nhân viên chưa thực sự chủ động theo dõi và phát hiện vi phạm? Hay do công cụ hỗ trợ trên các nền tảng chưa được chặt chẽ?… Những điều này là nguyên nhân dẫn đến việc chính tác phẩm của mình lại bị đơn vị khác đánh bản quyền ngược. Vì vậy, các đơn vị sở hữu và các nền tảng mạng xã hội phải nghiêm túc và chặt chẽ hơn trong việc bảo vệ bản quyền.

3. Phải làm gì khi tác phẩm do mình tạo ra lại bị đơn vị khác đánh bản quyền?

Đăng ký bản quyền tác giả đối với tác phẩm:

Bước đầu tiên và quan trọng là các cá nhân, tổ chức nên đăng ký quyền tác giả do mình sáng tạo ra mặc dù việc đăng ký này là không bắt buộc nhưng đây là cơ sở và căn cứ chứng minh tính hợp pháp về quyền sở hữu đối với tác phẩm khi có tranh chấp phát sinh.

Đánh gậy bản quyền ngược:

Từ cơ sở khi đã đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm, chủ sở hữu có đầy đủ chứng cứ ( Kết quả giám định quyền tác giả, quyền liên quan và Giấy chứng nhận quyền tác giả) để yêu cầu trực tiếp bên vi phạm ngừng ngay lập tức việc sử dụng trái phép tác phẩm của họ và yêu cầu gián tiếp các nền tảng số yêu cầu gỡ bỏ và ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Nộp đơn yêu cầu xử lý xâm phạm bản quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:

Bên vi phạm nếu không chấm dứt hành vi vi phạm bản quyền thì chủ sở hữu nộp đơn yêu cầu xử lý vi phạm bản quyền tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Cục bản quyền tác giả hoặc Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để họ xem xét và xử lý.

Khởi kiện tại tòa án:

Nếu các biện pháp hành chính không đem lại hiểu quả có thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại và các biện pháp khắc phục hậu quả khác. Tòa án có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại và chịu các chi phí liên quan đến việc xử lý vi phạm.

Trên đây là bài viết “Phải làm gì khi tác phẩm do mình tạo ra lại bị đơn vị khác đánh bản quyền?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Xem phim lậu có phải là hành vi vi phạm pháp luật?

Hiện nay công nghệ và internet ngày càng phát triển, việc tiếp cận nội dung giải trí đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Khi đó, phim lậu xuất hiện như một hiện tượng phức tạp, thu hút sự chú ý của nhiều người. Tuy nhiên, việc xem phim trái phép không chỉ đơn thuần là một hành động giải trí; nó còn đặt ra nhiều câu hỏi về đạo đức và pháp lý. Bên cạnh những lợi ích ngắn hạn, người xem có thể phải đối mặt với những rủi ro và hậu quả không lường trước được. Vậy, thực sự Xem phim lậu có phải là hành vi vi phạm pháp luật? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Phim lậu là phim như thế nào?

Phim lậu có thể hiểu là những bản sao không được phép hoặc không có quyền sở hữu bản quyền của các tác phẩm điện ảnh. Các bộ phim này thường được sao chép, phân phối và phát tán trái phép mà không có sự đồng ý của các chủ sở hữu quyền tác giả hoặc các đơn vị được ủy quyền.

Hiện nay tình trạng xem phim “chùa” trên mạng đang trở nên phổ biến, khiến cho việc sao chép và phân phối phim trái phép trở thành một vấn đề lớn. Phim lậu thường xuất phát từ việc sao chép từ các nguồn gốc khác nhau bao gồm cả các trang web của các nước ngoài thậm chí là từ các trang web của Việt Nam đã mua bản quyền chiếu phim theo quy định và chiếu miễn phí trên website đó.

Phim lậu không chỉ gây tổn hại cho ngành công nghiệp điện ảnh mà còn đem lại rủi ro về mất an toàn thông tin cho người xem do việc truy cập các trang web lậu có thể dẫn đến lừa đảo hoặc nhiễm phần mềm độc hại.

Tình trạng này gây ra nhiều vấn đề đối với ngành công nghiệp điện ảnh không chỉ làm giảm doanh thu mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của các đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất và những người lao động trong ngành. Việc không tuân thủ pháp luật về bản quyền cũng làm mất đu sự công bằng trong cạnh tranh giữa các đơn vị sản xuất và phân phối phim hợp pháp.

Xem phim lậu có phải là hành vi vi phạm pháp luật?

2. Xem phim lậu có vi phạm pháp luật không?

Hiện nay Luật sở hữu trí tuệ 2022 và các luật khác có liên quan chưa có quy định cụ thể về việc xem phim lậu. Do đó việc xem phim lậu không bị xem là hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó không phải chịu bất cứ chế tài nào của pháp luật.

Tuy nhiên, nếu người xem phim lậu thực hiện các hành động như chia sẻ hoặc phát tán nội dung vi phạm bản quyền thì khi đó người xem phim lậu mới có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.

Theo đó, tại Điều 17 nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định về mức xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng như sau:

Hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng

1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.

Như vậy, nếu người xem phim lậu có hành vi chia sẻ hoặc phát tán nội dung vi phạm bản quyền lên các trang mạng thì bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể là xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng nên có thể bị xử phạt hành chính từ 10 triệu đến 30 triệu đồng tùy theo mức độ vi phạm. Ngoài ra, còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc dỡ bản sao tác phẩm vi phạm.

Đồng thời người xem phim lậu có hành vi chia sẻ hoặc phát tán nội dung vi phạm bản quyền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a Khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan thì việc các trang phim lậu chiếu phim mà không xin phép bản quyền có thể bị xử phạt theo mức cao nhất lên đến từ 1.000.000 tỷ đồng đến 3.000.000 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm nếu là pháp nhân thương mại.

Pháp nhân thương mại vi phạm còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Có thể thấy rằng, các biện pháp kiểm soát và xử lý nghiêm ngặt theo pháp luật cần được triển khai để ngăn chặn sự gia tăng của phim lậu trên mạng, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong ngành điện ảnh. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của người dùng về những rủi ro khi xem phim trái phép cũng là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình giải quyết vấn đề này.

Trên đây là bài viết “Xem phim lậu có phải là hành vi vi phạm pháp luật?”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu?

Trong nền giáo dục hiện đại, học liệu đóng vai trò như những viên gạch nền tảng, xây dựng nên sự nghiệp học tập và nghiên cứu của sinh viên và giảng viên. Mặc dù học liệu có thể được sản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau từ giáo trình truyền thống đến các tài liệu số hóa. Tuy nhiên một câu hỏi đặt ra “Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu đó?”. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Học liệu là gì?

Học liệu được hiểu là toàn bộ tài liệu phục vụ các mục đích học tập, nghiên cứu và giảng dạy. Học liệu bao gồm: giáo trình, bài giảng, tài liệu chuyên khảo, kết quả nghiên cứu khoa học, báo, tạp chí chuyên ngành, khóa luận, luận văn, luận án, kỷ yếu hội thảo khoa học, báo cáo thực tập, thực tế và các tài liệu chuyên ngành khác.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Thông tu 11/2018/TT-BGDĐT về tiêu chí xác định hàng hóa chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho giáo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đưa ra định nghĩa về học liệu như sau:

Học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập, nghiên cứu. Học liệu có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ) và học liệu điện tử. Học liệu điện tử là các tài liệu học tập được số hóa theo một kiến trúc định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên các thiết bị điện tử như CD, USB, máy tính, mạng máy tính nhằm phục vụ cho việc dạy và học. Dạng thức số hóa có thể là văn bản (text), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video, phần mềm máy tính và hỗn hợp các dạng thức nói trên.

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì học liệu là một dạng cụ thể của tác phẩm văn học, khoa học được Nhà nước bảo hộ thể hiện dưới hình thức như giáo trình hoặc bài giảng thể hiện bằng hình thức viết, bài phát biểu, bài giảng, bài nói khác dưới dạng ngôn ngữ nói và được định hình dưới dạng vật chất nhất định.

Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu?

2. Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu?

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Các trường đại học thường sở hữu nhiều loại học liệu như giáo trình, tài liệu học tập, tài liệu nội bộ, tài liệu hướng dẫn, tài liệu ôn tập, bài giảng, bài giảng phát thanh, bài giảng trực tuyến, bài giảng LMS, sách tham khảo, và bài giảng đa phương tiện. Ngoài ra, các bài giảng trực tuyến được ghi âm và ghi hình của giảng viên cũng được coi là học liệu.

Theo quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, giảng viên biên soạn học liệu thì họ sẽ là tác giả hoặc đồng thời là chủ sở hữu học liệu. Tuy nhiên, trường hợp giảng viên không phải là tác giả và chủ sở hữu, mà trường đại học có thể trở thành chủ sở hữu nếu học liệu được hình thành từ việc nhà trường thuê hoặc giao nhiệm vụ cho giảng viên. Trong trường hợp này, trường sẽ nắm quyền tác giả. Nếu trường đại học là tác giả, ban giám hiệu sẽ có quyền về việc đặt tên, sửa đổi và bổ sung nội dung học liệu. Nếu hội đồng do ban giám hiệu chỉ định để xem xét sửa đổi học liệu không có giảng viên tham gia, thì họ có quyền tự ý sửa đổi nội dung hay không?

Do đó, xem xét quy định về tác giả, theo đó tác giả nắm giữ các quyền nhân thân như: quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền công bố, và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả và có thể chuyển nhượng quyền công bố cho người khác. Như vậy, trường đại học không thể trở thành tác giả của học liệu; giảng viên, người biên soạn, mới chính là tác giả.

Từ những quy định trên, trường đại học không phải là tác giả mà chỉ có thể là chủ sở hữu nếu nhà trường giao việc hoặc nhận chuyển nhượng quyền sở hữu từ giảng viên. Luật Sở hữu trí tuệ phân loại các chủ sở hữu, bao gồm: tác giả, đồng tác giả, tổ chức hoặc cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả, người thừa kế, và người nhận chuyển nhượng quyền tác giả. Do đó, trường đại học có thể là chủ sở hữu học liệu nếu trường giao nhiệm vụ hoặc ký hợp đồng với giảng viên.

Nếu trường đại học là chủ sở hữu quyền tác giả, họ sẽ nắm giữ một hoặc nhiều quyền tài sản, như làm học liệu phái sinh, sao chép, phân phối, và công bố học liệu. Trong khi đó, giảng viên, với tư cách là tác giả, sẽ giữ các quyền nhân thân nhưng không phải là chủ sở hữu vì đã chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản cho trường.

Trên đây là bài viết “Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu? ”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, việc tạo ra và chia sẻ tri thức trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo nhiều thách thức liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, tại các cơ sở giáo dục đại học, nơi mà nghiên cứu và sáng tạo không ngừng diễn ra, vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học càng trở nên cấp thiết. Vậy, pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học tại cơ sở giáo dục đại học như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Tác phẩm khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học

Bảo hộ quyền tác giả là hoạt động nhằm bảo vệ thành quả của các tổ chức, cá nhân đã lao động sáng tạo, đóng góp sự tiến bộ xã hội. Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,…” và theo quy định tại Điều 14 Luật này đã liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

Trong các cơ sở giáo dục đại học có nhiều loại hình tác phẩm có thể được bảo hộ quyền tác giả như sản phẩm của đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, công nghệ, đề cương bài giảng, đề thi tuyển sinh, giáo trình, tập bài giảng, báo cáo khoa học, bài giảng điện tử … Việc xác định chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 41 Văn bản hợp nhất Luật Khoa học và Công nghệ 2022 quy định: Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Như vậy có thể hiểu rằng chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học là tổ chức hoặc cá nhân đầu tư về tài chính, cơ sở vật chất-kỹ thuật để tạo ra kết quả nghiên cứu khoa học. Chủ sở hữu của kết quat nghiên cứu khoa học có quyền công bố tác phẩm khoa học cùng với toàn bộ nhóm quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học

2. Xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ nhất là hành vi vi phạm liên quan đến quyền sao chép tác phẩm:

Theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định: Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Theo đó việc sao chép trực tiếp hay gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm cũng bị coi là hành vi sao chép. Các hành vi vi phạm quyền tác giả tại các cơ sở giáo dục đại học có thể thông qua việc nhân bản tài liệu (photocopy, in ấn, sao chụp,…) sử dụng và phân phối, ghi âm chụp hình bài giảng của giảng viên trên lớp mà không xin phép. Tại Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ có quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép không phải trả tiền nhuận bút thù lao.

Thứ hai, hành vi vi phạm liên quan đến trích dẫn tác phẩm:

Trích dẫn tác phẩm là việc tái tạo chính xác một đoạn vă bản mà không có sự sửa chữa gì, phân biệt với đoạn văn bản xung quanh bằng dấu trích dẫn hoặc các yếu tố định dạng. Theo Luật sở hữu trí tuệ việc trích dẫn mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình, trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, phim tài liệu, không nhằm mục đích thương mại thì không phải xin phép tác giả và không phải trả tiền nhaaujn bút thù lao.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học.

  • Các cơ sở giáo dục đại học và cơ quan quản lý cần ban hành các quy định hướng dẫn nội bộ phù hợp với Luật sở hữu trí tuệ hiện hành bao gồm quy trình đánh giá và công bố kết quả nghiên cứu quyền lợi của từng tác giả.
  • Nâng cao nhận thức về quyền tác giả: tăng cường giáo dục và tuyên truyền cho sinh viên về quyền tác giả và trách nhiệm của mình trong quá trình nghiên cứu và bảo vệ quyền tác gả.
  • Tăng cường giám sát và kiểm tra việc bảo vệ quyền tác giả trong quá trình nghiên cứu khoa học. Nếu phát hiện vi phạm cần đưa ra các biện pháp kỷ luật và xử lý nghiêm minh để tạo ra ý thức giáo dục cho các sinh viên.
  • Ngoài việc đảm bảo quyền tác giả cần tăng cường đào tạo và hỗ trợ cho sinh viên về kỹ năng viết báo khoa học để giúp họ tránh được các lỗi sai vi phạm liên quan đến quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

Hiện nay, môi trường kỹ thuật số không chỉ mở ra cơ hội cho sự sáng tạo mà còn tạo ra những lỗ hổng trong việc bảo vệ quyền lợi của tác giả. Từ âm nhạc, văn học cho đến các tác phẩm nghệ thuật, mọi thứ đều có thể được số hóa và lan tỏa chỉ trong chớp mắt. Tuy nhiên, chính sự dễ dàng này lại khiến cho việc xác định quyền sở hữu và bảo vệ tác phẩm trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Bài viết ” Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số” của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái quát về môi trường kỹ thuật số

Kỹ thuật số được hiểu là quá trình liên quan đến việc biểu diễn, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin bằng cách sử dụng các con số hoặc biểu tượng tương tự. Máy tính, điện thoại di động các thiết bị điện tử đều được sử dụng một hệ thốn gọi là nhị phân để xử lý thông tin.

Môi trường kỹ thuật số là môi trường truyền thông tích hợp nơi các thiết bị kỹ thuật số giao tiếp, quản lý nội dung và hoạt động. Hiện nay môi trường kỹ thuật số đã trở nên phổ biến và phủ sóng trong mọi lĩnh vực đời sống của con người từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,….

Trong môi trường kỹ thuật số, quyền tác giả vẫn được xem xét vào bảo hộ cùng với những đặc tính ban đầu của nó. Dù được thể hiện dưới dạng mã hóa kỹ thuật số, Quyền tác giả vẫn chỉ bảo hộ hình thức chứ không bảo hộ nội dung đồng thời quyền được bảo hộ xác lập ngay khi tác phậm được hình thành. Khác với các tác phẩm truyền thông có thể dễ dàng nhận biết dựa trên các giác quan thông thường, tác phẩm khi được đưa vào trong môi trường kỹ thuật số sẽ chỉ bao gồm tập hợp của các chuỗi số 0 và 1 và không có sự phân biệt về loại hình tác phẩm cho đến khi nó được giải mã đúng phương pháp.

Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

2. Đặc điểm bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả là sự bảo hộ dành cho tác giả. Cơ sở để quyền tác giả được bảo vệ phải xuất phát ban đầu từ chính yếu tố về phái tác giả hay nói cách khác việc pháp luật quy định và bảo hộ các quyền pháp lý cụ thể đối với tác phẩm làm cho tác giả thự sự được hưởng các lợi ích vât chất và tinh thần có được từ tác phẩm chính là thông qua đó bảo hộ quyền tác giả.

Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ tự động. Các tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số chỉ sau khi dược hình thành dưới một dạng hinhd thức nhất định có thể phân biệt được, thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mới đương nhiên được hưởng các quyền tác giả đối với tác phẩm đó, đòng thời các quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.

Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả mang tính lãnh thổ. Sự phát triển của môi trường kỹ thuật số ranh giới lãnh thổ quốc gia trở nên khó xác định bởi vậy mà hầu hết các quốc gia đã xem xét đến tính chất của hành vi xâm phạm không còn là nơi xảy ra hành vi xâm phạm nữa mà dự trên đối tượng mà hành vi đó hướng tới. Hàn vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại nước nội tại nếu hành vi đó xảy ra trên môi trường viễn thông và mạng internet mà người tiêu dùng hoặc người khai thác, sử dụng nội dung thông tin số tại nước đó.

Thú tư, đối tượn được bảo hộ trong môi trường kỹ thuật số là những tác phẩm đặc thù được mã hóa hoặc được trực tiếp tạo ra dựa trên các thiết bị kỹ thuật số. Các dạng tác phẩm số này giúp các tác giả có thể phân phối đến người dủng với số lượng lớn, chi phí rẻ, …Các tác phẩm kỹ thuật số có thể tiếp cận tới người dùng một cách nhanh chóng dễ dàng bởi chúng mang những đặc điểm như gọn nhẹ, dễ nhân bản, lưu trữ trao đổi thông qua các thiết bị kỹ thuật số.

3. Đối tượng bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

Sự ra đời của môi trường kỹ thuật số cho phép tác giả có thể thể hiện, lưu trữ, truyền tải các tác phẩm của mình dưới dạng hình thức vật chất nhất định như sách, báo, tranh, ảnh,… hoặc thông qua hình thức số hóa tác phẩm.

Đối tượng bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số được hiểu là tác phẩm hưng những tác phẩm đó được thể hiện dữ liệu dưới dạng số hóa với một vài hình thức truyền tải tác phẩm và cách thức bảo hộ đặc thù. Do đó, đối tượng bảo hộ quyền tac giaqr trong môi trường kỹ thuật số có thể xem xét dựa trên ba lĩnh vực: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành cũng đã cho chương trình máy tính và ưu tập dữ liệu vào đối tượng được bảo hộ tương tự như quy định tại Điều 4 và 5 Hiệp ước WCT. Tuy nhiên, có thể thấy quy định của pháp luật Việt Nam mới chỉ liệt kê ra các loại hình tồn tại chung của các phẩm mà chưa có quy định cụ thể nào cho các trường hợp tác phẩm tồn tại dưới dạng dữ liệu kỹ thuật số.

Tuy nhiên, có thể hiểu rằng đối tượng bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số là những tác phẩm được số hóa hoặc tồn tại dưới dạng các dữ liệu điện tử và sử dụng thể hiệ thông qua các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại, máy chiếu, … Theo đó các tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, tác phẩm báo trí, tác phẩm âm nhạc có thể là những tác phẩm được số hóa để hoặc đối với các tác phẩm sân khấu, điện ảnh cần phải ghi âm, ghi hình để có thẻ sử dụng trong môi trường kỹ thuật số.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Phân biệt quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

Trong bối cảnh kinh tế tri thức ngày càng phát triển, việc phân biệt quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trở nên cần thiết. Mặc dù cả hai đều bảo vệ quyền lợi cho tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất,.. nhưng chúng lại có những đặc điểm riêng biệt. Sự hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của hai loại quyền này sẽ giúp các chủ thể thực hiện quyền lợi của mình một cách hiệu quả hơn. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Điểm giống nhau giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.

  • Phạm vi điều chỉnh: Cả hai đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản pháp lý liên quan.
  • Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ: Cả quyền tác giả và quyền liên quan đều là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
  • Quản lý: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm quản lý cả hai loại quyền này.
  • Nhà nước công nhận và bảo hộ: Cả hai quyền đều được Nhà nước công nhận và bảo hộ theo quy định pháp luật.
  • Hỗ trợ tài chính: Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính cho việc tạo ra, nhận chuyển giao và khai thác quyền tác giả cũng như quyền liên quan nhằm phục vụ lợi ích công cộng.
  • Biện pháp tự bảo vệ: Tổ chức và cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp pháp lý để tự bảo vệ quyền lợi của mình trong cả hai lĩnh vực này.
Phân biệt quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

2. Điểm khác nhau giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

Tiêu chíQuyền tác giảQuyền liên quan
  Căn cứ phát sinh, xác lập quyền  Phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.   (Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2022)    Phát sinh khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.   (Căn cứ theo khoản 2 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2022)
  Đối tượng được bảo hộCác loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm:   (1) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:   – Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;   – Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;   – Tác phẩm báo chí;   – Tác phẩm âm nhạc;   – Tác phẩm sân khấu;   – Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự;   – Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;   – Tác phẩm nhiếp ảnh;   – Tác phẩm kiến trúc;   – Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;   – Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;   – Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.   (2) Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. . (Căn cứ theo Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2022)  – Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;   – Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;   – Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ;   – Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ;   – Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên . – Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;   – Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.   – Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt Nam;   – Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.   (Căn cứ theo Điều 17 Luật sở hữu trí tuệ 2022)  
  Chủ thể được bảo hộTổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả.   (Căn cứ theo Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ 2022)Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan, bao gồm: – Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật; – Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền liên quan. – Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác. – Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng.   (Căn cứ theo Điều 16 Luật sở hữu trí tuệ 2022)  
  Nội dung bảo hộ  Quyền nhân thân và quyền tài sản.  Chủ yếu là quyền tài sản, chỉ có người biểu diễn có quyền nhân thân.  
  Điều kiện bảo hộ  Có tính nguyên gốc; được định hình dưới một dạng vật chất nhất định; trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học; không thuộc các đối tượng không thuộc quyền bảo hộ.    Có tính nguyên gốc, phải có dấu ấn sáng tạo của chủ thể liên quan và không gây phương hại đến quyền tác giả.
  Thời hạn bảo hộ    Các quyền nhân thân: bảo hộ vô thời hạn trừ quyền công bố tác phẩm; -Các quyền tài sản: Có thời hạn bảo hộ như sau:   -Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh: Thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.   -Tác phẩm còn lại: Có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.   (Căn cứ theo Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2022)    -Quyền của người biểu diễn: năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình . -Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố.   -Quyền của tổ chức phát sóng: năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện.   (Căn cứ theo Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2022)  

Trên đây là bài viết “Phân biệt quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Các trường hợp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả độc lập với nhau

Quyền tác giả là một khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực sáng tạo, bảo vệ những nỗ lực và công sức của những người tạo ra tác phẩm. Quyền tác giả không chỉ bảo vệ những nỗ lực đó mà còn xác định ai có quyền kiểm soát và khai thác các tác phẩm. Tuy nhiên, một câu hỏi thường đặt ra là: quyền tác giả thuộc về ai? Là tác giả trực tiếp thực hiện sáng tạo hay công ty?. Bài viết “Các trường hợp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả độc lập với nhau” của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

  1. Xác định mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả?

Tác phẩm là kết tinh sức lao động sáng tạo của tác giả, do vậy các quyền của tác giả đối với tác phẩm được pháp luận ghi nhận và bảo hộ. Quyền tác giả đối với tác phẩm được coi là một quyền tài sản và nằm trong phạm vi các loại tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2015.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm được phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo dưới hình thức và vật chất nhất định. Tác giả là người trực tiếp tạo ra tác phẩm còn chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 19 và Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ một chủ thể nào đó chứng minh được mình đang có caqsc quyền tài sản thuộc quyền tác giả sẽ là chủ sở hữu của quyền tác giả. Một nguyên tắc chung, người sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu của tác phẩm trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác.

Công ước Berne quy định cho pháp luật của mỗi nước thành viên quyết định ai là tác giả ai là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm. Theo Điều 15 Công ước này quy định một cá nhân hay một tổ chức có ghi tên trên tác phẩm theo thông lệ được xem là tác giả trừ khi có bằng chứng ngược lại trong trường hợp này tác giả và chủ sở hữu là một. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ nhất định để tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là hai chủ thể độc lập và tách biệt.

Các trường hợp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả độc lập với nhau

2. Các trường hợp tác giả và chủ sở hữu độc lập và tách biệt với nhau?

Một số trường hợp mà trong đó chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả:

Tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ được giao:

Trước hết giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả tồn tại mối quan hệ thông qua Hợp đồng lao động được ký kết. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về quyền tác giả thì pháp luật thừa nhận nguyên tắc chung là chủ sở hữu quyền tác giả chính là người sáng tạo ra tác phẩm tức là người lao động đã trực tiếp tại ra tác phẩm trừ trường hợp họ sáng tạo theo nhiệm vụ được giao. Việc giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm phải được thê hiện bằng một văn bản cụ thể. Như vậy một tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ đượ giao thì người sáng tạo ra tác phẩm đó vẫn được công nhận là tác giả nhưng chủ sở hữu quyền tác giả lại là cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo cho tác giả.

Tác phẩm được tạo ra thông qua hợp đồng thuê sáng tạo:

Khác với trường hợp trên tác giả sáng tạo ra tác phẩm là thành viên của một cơ quan, tổ chức giữa các bên có hình thành mối quan hệ lao động còn ở đây chỉ duy nhất có hợp đồng thuê sáng tạo được ký kết giữa các bên. Do đó, theo hợp đồng thuê sáng tạo tác giả sẽ tạo ra tác phẩm theo yêu cầu của chủ thể phía bên kia và được nhận một khoản tiền thù lao theo mức các bên thỏa thuận. Hệ thống pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc người tạo ra tác phẩm trong hợp đồng thuê sáng tạo được ghi nhận là tác giả còn các quyền tài sản sẽ thuộc bên thuê sáng tạo hay bên giao việc nếu không có thỏa thuận khác.

Chuyển giao quyền tác giả:

Một trong những quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm là khai thác tác phẩm theo các cách thức khác nhau. Việc chuyển giao quyền tác giả của chủ sở hữu quyền tác giả thường được tiến hành theo cách thức chuyển nhượng quyền tác giả và chuyển nhượng quyền sử dụng quyền tác giả. Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả là hợp đồng chuyển giao toàn bộ hay một phần quyền tác giả từ chủ thể này sang chủ thể khác. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả theo quy định của hầu hết hệ thống pháp luật là phải được dưới hình thức văn bản phải có đầy đủ chữ ký của các bên. Theo quy định tại Điều 48 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam thì Hợp đồng chuyển nhượng phải được lập thành văn bản. Trong đó các quyền tài sản và quyền nhân thân như quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố là đối tượng có thể chuyển giao.

Trên đây là bài viết “Các trường hợp tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả độc lập với nhau

”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Pháp luật Việt Nam có bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra không?

Trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một công cụ mạnh mẽ trong việc sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn học. Sự bùng nổ của AI đã đặt ra nhiều câu hỏi về quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền tác giả đối với những tác phẩm do nó tạo ra. Vậy, háp luật Việt Nam có bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra không?. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái quát về Trí tuệ nhân tạo

Theo John McCarrthy của Viện công nghệ Massachusetts (MIT) giải thích thuật ngữ trí tuwj nhân tạo như sau: “Đó là khoa học và kỹ thuật tạo ra máy móc thông minh, đặc biệt là các chương trình máy tính thông minh. Nó liên quan đến những nhiệm vụ tương tự như sử dụng máy tính để hiểu trí thông minh của con người”.

Hiểu một cách đơn giản nhất, trí tuệ nhân tạo là “trí thông minh” của máy tính do con người lập trình để giúp máy tính có thể mô phỏng trí tuệ con người và bắt chước hoạt động của họ. Thuật ngữ này cũng có thể được áp dụng cho bất kỳ máy móc nào thể hiện những đặc điểm liên quan đến trí óc con người như học tập, ra quyết định hay giải quyết các vấn đề. Để thực hiện những hoạt động mô phỏng trí óc này, ở trí tuệ nhân tạo có sự kết hợp giữa khoa học máy tính và bộ dữ liệu mạnh mẽ.

Thông thường trí tuệ nhân tạo được chia thành 3 loại:

  • Trí tuệ nhân tạo hẹp (Narrow AI): là một loại trí tuệ nhân tạo được thết kế để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể hoặc một tập hợp hẹp các nhiệm vụ.
  • Trí tuệ nhân tạo mạnh (General AI): là một dạng trí tuệ nhân tạo có khả năng hiểu và thực hiện một loạt các nhiệm vụ tương tự như con người, đặc biệt là khả năng tư duy, tự học và áp dụng kiến thức vào tình huống mới.
  • Trí tuệ nhân tạo siêu việt (Superintelligence): đây là một dạng trí tuệ nhân tạo vượt xa trí tuệ con người. Nó đại diện cho một hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng thông minh tuyệt đối và vượt trội so với khả năng của con người trong mọi khía cạnh.
có bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra không

2. Điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả

Theo Công ước Berne và quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, khái niệm “tác phẩm” được định nghĩa là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.” Đồng thời, Khoản 3 Điều 14 quy định rằng tác phẩm được bảo hộ “phải do tác giả trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.”

Được thể hiện dưới một hình thức nhất định:

Pháp luật ghi nhận rằng Quyền tác giả chỉ được xác lập khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định như dạng ghi âm, ghi hình, viết lại, được đọc lên,… Do vậy, nếu kết quả sáng tạo nếu mới chỉ dừng lại ở mặt ý tưởng trong đầu tác giả, chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức vật chất thì không thể được coi là một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

Là kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần:

Tác phẩm để được bảo hộ quyền tác giả phải dựa trên quá trình suy nghĩ, tìm hiểu, sáng tạo, phản ánh tư tưởng, tình cảm của người sáng tác. Nói cách khác, tác phẩm phải là sản phẩm sáng tạo mang giá trị nội dung và tinh thần của tác giả.

Tác phẩm phải mang tính nguyên gốc:

“Tính nguyên gốc” (originality) đòi hỏi tác phẩm phải do tác giả độc lập và trực tiếp sáng tạo ra mà không sao chép từ chủ thể khác. Tính nguyên gốc không yêu cầu tác phẩm phải có giá trị nội dung cao, hoặc chất lượng nghệ thuật độc đáo, nhưng cần có tạo ra dấu ấn riêng của tác giả qua nội dung hoặc hình thức thể hiện tác phẩm.

3. Pháp luật Việt Nam có bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra không?

AI, thực chất là một sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra, phát triển qua các hình thức robot hoặc máy móc hữu hình khác, nhằm giảm thiểu sức lao động cho con người. Các ứng dụng của AI, như robot quét nhà hay robot chơi cờ, thực hiện công việc một cách rập khuôn theo thiết lập của con người.

Căn cứ theo khoản 1, 2 và 6 Điều 4 Luật ở hữu trí tuệ quy định:

Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

6. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

….

Thêm vào đó tại Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về chủ thể quyền tác giả bao gồm: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Dựa vào các quy định trên cho thấy pháp luật Việt Nam chỉ xác định các chủ thể quyền tác giả là cá nhân và tổ chức, mà chưa công nhận trí tuệ nhân tạo (AI) là một chủ thể có quyền tác giả.

Do đó, các tác phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam chưa được bảo hộ quyền tác giả. Điều này có nghĩa là các sản phẩm sáng tạo do AI tạo ra không được công nhận quyền sở hữu trí tuệ.

Trên đây là bài viết “Pháp luật Việt Nam có bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra không?”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Đăng ký bản quyền tác giả cho lịch giấy

Lịch giấy, với thiết kế đa dạng và bắt mắt, là sản phẩm thể hiện dấu ấn cá nhân của người sáng tạo. Tuy nhiên, tình trạng sao chép trái phép các thiết kế lịch đang ngày càng phổ biến, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quyền lợi của các nhà thiết kế. Trong bối cảnh đó, việc hiểu rõ về bản quyền lịch giấy và tầm quan trọng của việc đăng ký bản quyền là rất cần thiết. Bài viết “Đăng ký bản quyền tác giả cho lịch giấy” của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Lịch giấy có phải là tác phẩm được bảo hộ Bản quyền?

Lịch giấy là một sản phẩm in ấn không chỉ giúp theo dõi thời gian và ngày tháng trong năm mà còn đóng vai trò như một vật dụng trang trí hấp dẫn và hiệu quả quảng cáo. Khi được in thêm logo công ty, lịch giấy có thể truyền tải hình ảnh thương hiệu một cách mạnh mẽ. Sản phẩm này thường được thiết kế dưới dạng các tờ lịch rời hoặc liền nhau, in trên giấy và có nhiều hình thức khác nhau, như lịch để bàn, lịch bloc, và lịch treo tường.

Bản quyền, hay quyền tác giả, là một khái niệm pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo đối với các tác phẩm trí tuệ mà họ sản xuất. Nói cách khác, khi bạn sáng tạo ra một tác phẩm như bài hát, bài thơ, bức tranh, chụp hình ảnh, một đoạn video, một phần mềm,…bạn đăng ký bản quyền và sẽ được pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tác phẩm đó.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ lịch có thể được phân loại vào nhóm “Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng”  theo quy định tại Điều 14.1 của Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP vì các lý do sau:

Tính năng hữu ích: Lịch bàn được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối và bố cục, phục vụ mục đích xem và theo dõi thời gian.

Gắn liền với đồ vật hữu ích: Lịch bàn có thể kết hợp với các sản phẩm như quyển lịch, ghi nhớ để bàn và có thể được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp hàng loạt.

Thiết kế đồ họa và mỹ thuật: Lịch bàn có thể bao gồm thiết kế đồ họa (như biểu trưng, bộ nhận diện, bao bì) hoặc thiết kế nội thất, mang tính mỹ thuật cao.

Yếu tố mỹ thuật: Lịch bàn được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm có tính mỹ thuật, không dễ dàng tái tạo đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực này. Lưu ý rằng yếu tố tạo dáng bên ngoài không được bảo hộ nếu nó là yêu cầu thiết yếu để thực hiện chức năng của sản phẩm.

Chứa hình ảnh có bản quyền: Lịch bàn có thể bao gồm các hình ảnh có bản quyền, tăng giá trị cho tác phẩm.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức của tác phẩm, tức là cách bài trí, bố cục và hình dạng của lịch bàn, mà không bảo hộ nội dung. Do đó, nếu có người khác sử dụng thông tin về ngày tháng để tạo ra lịch bàn của họ, điều này sẽ không ảnh hưởng đến quyền tác giả của chủ sở hữu lịch bàn khác.

Đăng ký bản quyền tác giả cho lịch giấy

2. Hồ sơ đăng ký bản quyền lịch giấy

Theo Điều 49.2 của Luật Sở hữu trí tuệ, việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để hưởng quyền tác giả. Điều này có nghĩa là quyền tác giả đối với tác phẩm lịch bàn vẫn phát sinh mà không cần đăng ký.Tuy vậy, đăng ký quyền tác giả cho lịch bàn được thực hiện với mục đích ngăn chặn các hành vi xâm phạm tác phẩm lịch bàn như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng, trưng bày, phân phối trái phép lịch bàn. Việc ghi nhận tên các tác giả trên giấy đăng ký quyền tác giả cũng là cơ sở pháp lý quan trọng chứng minh quyền của tác giả đối với tác phẩm lịch bàn, bảo vệ lợi ích của người sáng tạo khi có các tranh chấp về quyền tác giả hay có các hành vi vi phạm xảy ra.

Hồ sơ đăng ký quyền tác giả cho lịch bàn bao gồm các tài liệu sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả: Điền theo mẫu quy định, phải có chữ ký hoặc của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.
  • Bản sao tác phẩm: Gửi 02 bản tác phẩm đăng ký, bao gồm cả bản điện tử. Mỗi bản phải được in trên giấy A4 và có chữ ký hoặc dấu của tác giả, chủ sở hữu.
  • Giấy ủy quyền: Cần có giấy ủy quyền cho VCD để thực hiện thủ tục đăng ký.
  • Giấy tờ pháp lý: Cung cấp 01 bản sao CCCD/CMND/ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy phép thành lập hoặc Quyết định thành lập.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn: Bao gồm:
  • Giao nhiệm vụ.
  • Hợp đồng sáng tạo (bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực).
  • Văn bản thừa kế (có công chứng, chứng thực).
  • Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả.
  • Cam đoan của tác giả: Nếu tác giả không phải là chủ sở hữu quyền tác giả, cần có văn bản cam đoan tự sáng tạo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung này.
  • Văn bản đồng ý của đồng tác giả: Nếu tác phẩm có nhiều tác giả, cần có văn bản đồng ý của tất cả các đồng tác giả.
  • Văn bản đồng ý của đồng chủ sở hữu: Nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung, cần có văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu.
  • Sự đồng ý của người có hình ảnh: Nếu tác phẩm sử dụng hình ảnh của người khác, cần có sự đồng ý bằng văn bản của người đó theo quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết “Đăng ký bản quyền tác giả cho lịch giấy” mà VCD gửi đếnbạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền nhân thân của tác giả có được chuyển giao hay không?

Tác giả không chỉ là người sáng tạo ra tác phẩm, mà còn là người gắn bó sâu sắc với những giá trị mà tác phẩm thể hiện. Quyền nhân thân của tác giả, bao gồm quyền được ghi danh và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ danh dự và uy tín của người sáng tạo. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu quyền này có thể được chuyển nhượng hay không?. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Quyền nhân thân là gì?

Xét theo khía cạnh pháp luật, nhân thân là một trong những quyền dân sự gắn liền với bản thân mỗi người. Nhân thân được hình thành, phát sinh, thay đổi và chấm dứt thông qua các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các ví dụ điển hình bao gồm việc khai sinh, kết hôn, khai tử, xác định quốc tịch, cũng như các quan hệ như cha con, vợ chồng, họ tên, quê quán và dân tộc.

Quyền nhân thân là một khái niệm quen thuộc, được áp dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Pháp luật cũng đã quy định rõ ràng về quyền này. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự 2015, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển nhượng cho người khác, trừ khi có quy định khác trong luật liên quan.

Quyền nhân thân được thể hiện qua các đặc điểm cơ bản sau:

  • Bộ phận của quyền dân sự: Quyền nhân thân là một phần của quyền dân sự và thuộc về cá nhân.
  • Giá trị tinh thần: Quyền nhân thân luôn hướng tới những giá trị tinh thần không thể định giá.
  • Không thể chuyển nhượng: Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác.
Quyền nhân thân của tác giả có được chuyển giao hay không

2. Quyền nhân thân của tác giả có được chuyển giao hay không?

Pháp luật sở hữu trí tuệ 2022 tại Điều 19 quy định về quyền nhân thân của tác giả bao gồm:

Quyền nhân thân bao gồm:

1. Đặt tên cho tác phẩm.

Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Chuyển giao, hay còn gọi là chuyển nhượng quyền tác giả, được hiểu là việc chủ sở hữu quyền tác giả đồng ý chuyển giao quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản cho tổ chức hoặc cá nhân khác thông qua hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan (Khoản 1 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ). Bên canh đó, Khoản 2 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ quy định rằng: “Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này”.

Như vậy,  trong số các quyền nhân thân của quyền tác giả, chỉ có quyền công bố tác phẩm là có thể chuyển nhượng. Những quyền nhân thân khác vẫn giữ nguyên quyền lợi thuộc về tác giả và không được chuyển giao.

Cũng theo quy định này thì người biểu diễn cũng sẽ không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật này là:

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

3. Quyền nhân thân được bảo hộ bao lâu?

Căn cứ theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 có quy định về thời hạn bảo hộ quyền nhân thân của tác giả như sau:

Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn:

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Quyền nhân thân bảo hộ có thời hạn:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh.
  • Trừ trường hợp tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại trên có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;
  • Thời hạn bảo hộ các tác phẩm trên chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Quyền nhân thân của tác giả có được chuyển giao hay không? mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,