Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh là một khía cạnh thiết yếu trong luật sở hữu trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa tác phẩm gốc và tác phẩm được phát triển từ nó. Việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả không chỉ đảm bảo sự công bằng mà còn khuyến khích sáng tạo và đổi mới trong nghệ thuật. Vậy, quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh là gì? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

Tại khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Theo đó cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm gốc. chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh cũng được hưởng quyền tài sản và quyền nhân than nhưng tùy thuộc vào mức độ và phạm vi. Tuy nhiên, quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh cũng có những đặc thù khi đặt trong mối quan hệ với tác phẩm gốc đó là quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh sẽ hoàn toàn độc lập với quyền tác giả đối với tác phẩm gốc ngay kể từ khi tác phẩm phái sinh được định hình dưới một dang vật chất nhât định. Tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả như một tác phẩm gốc nhưng không được gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc.

Giống như tác phẩm gốc, quyền tác giả của tác phẩm phái sinh là quyền tự động phái sinh ngay sau khi được tạo ra, được pháp luật bảo hộ mà không cần đăng ký.

2. Chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm phái snh

Theo Điều 4 của Luật sở hữu trí tuệ hiện hành thì quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Như vậy chủ thể quyền tác giả có thể là chính tác giả (đồng tác giả) hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Bên cạnh đó cũng có một số cá nhân được sở hữu tác phẩm không phải do họ sáng tạo mà do được chuyển giao hoặc được thừa kế của cá nhân khác để lại, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, ngoài ra còn có chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước đối với những tác phẩm thuộc về công chúng.

Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

3. Xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

Khi một tác phẩm phái sinh ra đời hợp pháp đáp ứng tất cả các điều kiện pháp luật quy định thì bản thân tác phẩm phái sinh đó sẽ được bảo hộ như một tác phẩm độc lập. Hành vi xâm phạm quyền tác giả nói chung bao gồm hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh nói riêng được liệt kê cụ thể tại điều 28 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành.  Bao gồm bốn nhóm hành vi sau đây:

Nhóm hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả:

  • Xâm phạm quyền đặt tên tác phẩm: thay đổi tên tác phẩm mà không được phép của tác giả, đồng tác giả trừ trường hợp tác phẩm dịch hoặc pháp luật khác có quy định. Khi làm tác phẩm phái sinh phải nêu tên tác phẩm gốc và không được tự ý đổi tên tác phẩm gốc.
  • Xâm phạm quyền đứng tên, nêu tên tác phẩm phái sinh: mạo danh tác giả, giả mạo tên, chữ ký tác giả, không nêu hoặc cố ý nêu sai tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm khi khai thác, sử dụng.
  • Xâm phạm quyền công bố của tác phẩm phái sinh: công bố mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, đồng sở hữu quyền tác giả, chiếm đoạt quyền tác giả.
  • Xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: xuyên tạc, sửa đổi, cắt xém tác phẩm.

Nhóm hành vi xâm phạm quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả:

  • Xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh: tác phẩm đã có được sử dụng làm tác phẩm phái sinh mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Xâm phạm quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng: biểu diễn, đọc, trung bày, triễn lãm, trình chiếu, trình diễn tại nơi công cộng hoặc nơi bán vé, thu tiền vào của mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Xâm phạm quyền sao chép tác phẩm: nhân bản, tạo ra bản sao tác phẩm mà chưa xin phép.
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao hữu hình tác phẩm mà chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Truyền đạt, phát song đến công chúng qua mạng viễn thông và mạng internet.
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Nhóm hành vi xâm phạm quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền tác giả:

  • Cố ý bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu.
  • Sản xuất phân phối nhập khẩu, chào bán, quảng bá, quảng cáo tàng trữ nhàm mục đích thương mại.
  • Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát song, truyền đạt đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thôg tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Nhóm hành vi xâm phạm quyền tác giả do không thực hiện nghĩa vụ được pháp luật quy định: để tạo ra một sản phẩm sáng tạo đòi hỏi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phải bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc vì vạy lẽ dĩ nhiên những người muốn sử dụng các sản phẩm đó phải trả cho họ một khoản tiền hợp lý nhất là trong trường hợp làm tác phẩm phái sinh.

 Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Các biện pháp đảm bảo thực thi quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Trong kỷ nguyên số hóa, chương trình máy tính không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ con người. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền tác giả cho các sản phẩm này đang phải đối mặt với nhiều thách thức do sự dễ dàng trong sao chép và phân phối. Để đảm bảo quyền lợi cho các nhà phát triển và thúc đẩy đổi mới, các biện pháp thực thi quyền tác giả trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái quát chung

Các biện pháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là các biện pháp ngă ngừa các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên thực tế mà còn là việc xử lý, giải quyết khi có hành vi xâm phạm nhằm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại.

Theo khoản 1 Điều 22 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành đưa ra khái niệm như sau: Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.

Từ các khái niệm trên cho thấy Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học nhưng trong quá trình tạo thành và hoạt động lại là sản phẩm khoa học kỹ thuật. Điều này tạo ra những thách thức về tính hiệu quả cho các chủ sở hữu quyền thực hiện những hành động chống lại các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

Các biện pháp đảm bảo thực thi quyền tác giả đối với chương trình máy tính

2. Các biện pháp đảm bảo thực thi quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

  • Biện pháp áp dụng công nghệ để tự bảo vệ:

Áp dụng các biện pháp công nghệ để tự bảo vệ nhằm mục đích giảm thiểu vi phạm bản quyền bằng cách kiểm soát cách thức sử dụng chương trình máy tính bằng các phương tiện kỹ thuật được xem là hiệu quả:

Áp dụng biện pháp công nghệ để phát hiện hành vi cài đặt chương trình máy tính trái phép. Để phát hiện hành vi cài đặt chương trình máy tính trái phép, các chương trình máy tính được thiết lập theo hướng dữ liệu của các doanh nghiệp của các doanh nghiệp phần mềm có một hệ thống theo dõi hoạt động của các chương trình máy tính bằng việc kết nối chương trình máy tính với hệ thống máy chủ serve, mỗi khi một chương trình máy tính được sử dụng trái phép ngay lập tức máy chủ sẽ được thông báo.

Áp dụng biện pháp công nghệ để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Các chương trình máy tính được bảo hộ quyền tác giả thường được thiết lập chức năng kiểm tra quyền tác giả như yêu cầu người sử dụng nhập vào một dãy số (gọi là key) để chứng thực là người dùng hợp pháp lúc mới cái đặt. Người sử dụng chương trình máy tính phải trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính để có được các key này.

  • Biện pháp dân sư:

Vấn đề nhận thức các hoạt động liên quan đến quyền tác giả đối với chương trình máy tính của các chủ thể sử dụng như người dùng cuối, hoặc các doanh nghiệp bao gồm chưa cao. Người tiêu dùng Việt Nam vẫn thích sử dụng các chương trình máy tính miễn phí được tải từ internet hoặc tìm cách vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật mà chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính áp dụng. Thực tiễn thực thi cho thấy nhiều chủ thể có tâm lý e ngại việc khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm vì những chi phí cần bỏ ra trong quá trình thu thập chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm, nếu tòa tuyên thắng kiện thì cũng chỉ được hoàn lại án phí trong khi đó nhiều trường hợp thiệt hại không thể xác định được. Do vậy, cần có quy định về bồi thường thiệt hại ấn định tối thiểu cho các trường hợp hành vi xâm phạm quyền tác giả nhưng không xác định được thiệt hại để khuyến khích các chủ thể quyền tiến hành khởi kiện truy cứu trách nhiệm pháp lý đồng thời cũng có tác dụng cảnh cáo cáo chủ thể đang có chủ ý xâm phạm quyền tác giả.

  • Biện pháp hình sự:

Trên thực tế không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới có rất ít các trường hợp xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính bị xử lý hình sự. Việt Nam hiện nay chưa xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính bằng biện pháp hình sự, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chưa có các hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm về quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Dù bản chất là quan hệ dân sự nhưng với những tác hại của các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính là rất lớn về kinh tế cho chủ sở hữu nên Bộ luật dân sự 2015 sửa đổi năm 2017 giới hạn trong hai nhóm hành vi là sao chép chương trình máy tính và phân phối đến công chúng bản sao chương trình máy tính.

  • Biện pháp hành chính:

Khi phát hiện ra hành vi xâm phạm, chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính sẽ kiến nghị và làm việc trực tiếp với chủ thể bị nghi ngờ có hành vi xâm phạm để yêu cầu tiến hành chấm dứt hành vi xâm phạm đó. Theo khoản 1 Điều 211 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính khi tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính: hành vi gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội; sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền. Ngoài ra còn áp dụng biện pháp bổ sung là gỡ bhor bản sao chương trình máy tính trên phương tiện đang sử dụng và trong môi trường mạng.

Trên đây là bài viết “Các biện pháp đảm bảo thực thi quyền tác giả đối với chương trình máy tính”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quy định của pháp luật về giới hạn quyền tác giả

Quyền tác giả là một trong những lĩnh vực pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của những người sáng tạo. Tuy nhiên, để cân bằng giữa lợi ích của tác giả và quyền lợi của xã hội, pháp luật đã có những quy định về giới hạn quyền tác giả. Vậy pháp luật quy định như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái niệm về giới hạn quyền tác giả

Mỗi tác phẩm ra đời, người tạo ra tác phẩm đó hay còn gọi là tác giả sẽ được pháp luật trao cho một số quyền hạn nhất định và đó sẽ là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trước sự xâm phạm của các chủ thể khác trong xã hội.

Giới hạn quyền tác giả có thể hiểu dưới một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, giới hạn về không gian: Quyền tác giả mang tính lãnh thổ có nghĩa là quyền tác giả phát sinh theo pháp luật của nước nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi pãnh thổ của nước đó. Tác phẩm được bảo hộ ở quốc gia này không đồng nghĩa với việc mặc nhiên được bảo hộ ở quốc gia khác. Do đó, phạm vi bảo hộ tác phẩm sẽ được mở rộng đối với tất cả các quốc gia thanh viên khi họ tham gia điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, giới hạn vê thời hạn bảo hộ: quyền tác giả chỉ có thời hạn nhất định chứ khôn phải có thời hạn vĩnh viễn, mỗi đối tượng sẽ cso những thời hạn bảo hộ khác nhau.

Thứ ba, giới hạn về đối tượng không được bảo hộ: không phải tất cả các đối tượng đều được bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm: tin tức thời sự thuần túy đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, những đối tượng sở hữu trí tuệ có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng an ninh,…

Thứ tư, giới hạn về nội dung bảo hộ: giới hạn quyền tác giả có thể bị hạn chế trong những trường hợp người khác có thể sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả, thâm chid không phải trả những lợi ích vật chất với những lý do chính đáng của ciệc sử dụng dựa trên các yếu tố như bản chất và mục đích sử dụng, phạm vi và ảnh hưởng của việc sử dụng,….

Như vậy, có thể hiểu giới hạn quyền tác giả là việc cho phép người khác khai thác, sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả, có thể không phải trả các lợi ích vật chất và việc khai thác sử dụng phải đảm bảo trong phạm vi nhất định với những lý do chính đán, những ddiefu kiện thỏa đáng mà không ảnh hưởng đến tác giả.

2. Nguyên tác giới hạn quyền tác giả

Nguyên tác khuyến khích sáng tạo: Theo Điều 40 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và cong nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”. Do đó để phát huy khả năng của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học cũng như đảm bảo vai trò của khoa học công nghệ, văn học, nghệ thuật trên thực tế thì hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam khi xây dựng các quy định về giới hạn quyền cũng cần lưu ý và tuân thủ theo tinh thần và quy định của Hiến pháp sao cho đảm bảo quyền nghiên cứu, sáng tạo của tác giả.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng: Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Pháp luật sở hữu trí tuệ cũng căn cứ theo nguyên tắc này. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dungjtrong mọi trường hợp, quyền sở hữu trí tuệ của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị giới hạn trong một số trường hợp liên quan đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng hay quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức khác.

Nguyên tắc tự định đoạt: Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền dân sự đặc biệt. Trong pháp luật sở hữu trí tuệ thì nguyên tắc tự định đoạt đucợ thể hiện thông qua việc mỗi cá nhân đều có quyền tự do sáng tạo và tự do thực hiện các giao dịch liên quan tới tài sản trí tuệ thuộc sở hữu của mình.

Nguyên tắc cân bằng lợi ích: đảm bảo sự bình đẳng của các chủ thể trong phân chia các lợi ích thu được từ đối tượng sở hữu trí tuệ. Sự cân bằng lợi ích trong các mối quan hệ pháp luật thể hiện tập trung thông qua sự cân bằng lợi ích giữa chủ hữu đối tượng sở hữu trí tuệ với cộng đồng.

Quy định của pháp luật về giới hạn quyền tác giả

3. Cơ sở giới hạn quyền tác giả

Theo khoản 2 Điều 4 Hiếp pháp Việt Nam 2013 quy định: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Luật sở hữu trí tuệ tại khoản 3 Điểu 7 cũng khẳng định nguyên tắc giới hạn quyền như sau: Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, hạn chế quyền là việc cần thiết của nhà nước bảo đảm quyền của chủ thể này không xâm phạm tới quyền của chủ thể khác, hay có thể hiểu bảo vệ phạm vi tự do chính đáng của người này cũng chính là hạn chế tự do của người khác, điều này hướng tới việc bảo đảm cho mỗi cá nhân có thể tự do thực hiện quyền của mình nhưng miễn là không thuộc nhữn phần bị “hạn chế”. Các quyền tự do ở đây là “tự do trong khuôn khổ” chứ không phải là “tự do tuyệt đối”.

Trong pháp luật sở hữu trí tuệ, các quy định về giới hạn quyền ra đời nhằm bảo đảm cho chủ thể quyền tác giả và xã hội đều được hưởng những lợi ích một cách xứng đáng, hài hòa, hợp lý nhất, đảm bảo không bên nào được hưởng lợi ích quá mức, xâm phạm đến lợi ích chính đáng của bên kia.

Trên đây là bài viết “Quy định của pháp luật về giới hạn quyền tác giả ”mà VCD gửi đếbạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Trong bối cảnh nội dung số ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, sự xuất hiện của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho hệ sinh thái sáng tạo. Những doanh nghiệp này không chỉ đóng vai trò là nền tảng phân phối mà còn nắm giữ trách nhiệm lớn lao trong việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan. Vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái quát về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian

Tại khoản 1 Điều 198b Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.

Bên cạnh đó Nghị định số 17/2023/NĐ-CP cũng đã có định nghĩa về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian tại khoản 1 Điều 110 với sự liệt kê đầy đủ các dịch vụ của các loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Có thể thấy điểm chung của các dịch vụ được đề cập tại khoản 1 Điều 110 nghị định này chỉ được phép truyền đạt những nội dung nguyên bản giữa những cá nhân, tổ chức trên nền tảng mà họ cung cấp dịch vụ hay đơn giản hơn là họ cung cấp một không gian nền tảng trực tuyến cho những cá nhân, tổ chức nhằm mục đích thực hiện một số chức năng nhất định được quy định tại từng quốc gia.

Như vậy, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có thể hiểu là một pháp nhân cung cấp một hay nhiều dịch vụ nhằm tạo ra sự kết nối giữa người dùng trong việc trao đổi thông tin trên các nền tảng trực tuyến thông qua hệ thống các phương tiện kỹ thuật. Bên cạnh đó họ không được can thiệp vào việc chỉnh sửa nội dung thông tin được truyền tải trên không gian mạng.

Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

2. Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan


Tại khoản 2 và 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về thuật ngữ quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả như sau:

2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ là vấn đề công bằng và công lý mà còn là vấn đề kinh tế. Trong thời đại số hóa hiện nay việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trở nên phức tạp hơn do sự phát triển của công nghệ thông tin.

Dịch vụ trung gian được coi là cầu nối liên kết đưa thông tin và các tác phẩm văn học, tác phẩm biểu diễn, các bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng tới công chúng thông qua các công nghệ như dịch vụ viễn thông, internet, mạng xã hội,…. Qua đó các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian này luôn cần phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dùng.

Một trong những đặc điểm nổi bật của không gian mạng đồng thời là một trong những yếu tố hấp dẫn của nó là sự ẩn danh của những người tương tác trên môi trường đó. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và bản quyền nói riêng sự ẩn danh này gây khó khăn cho các chủ sở hữu quyền khi họ muốn bảo vệ quyền của mình, chủ thể hiện hữu rõ ràng nhất trên môi trường số có thể can thiệp chỉ là các daonh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Trong trường hợp xảy ra hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan thì các doanh nghiệp này là những bên đầu tiên có khả năng ngăn chặn hoặc tạo điều kiện cho hành vi vi phạm xảy ra với bản chất là bên góp phần tạo ra môi trường số.

Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa chung nào về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian này trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan mà trách nhiệm này chủ yếu được xác định bởi các quy định pháp luật do chính phủ ở các quốc gia khác nhau thiết lập. Bản chất và mức độ trách nhiệm pháp lý của nó có thể khác nhau đáng kể giữa các quốc gia nhưng nhìn chung trách nhiệm pháp lý của nó trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan là sự chịu trách nhiệm và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến quản lý, giám sát và xử lý các hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của người dùng trên nền tảng của họ.

Hiện nay có ba truy trình phổ biến mà các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thường áp dụng để giải quyết các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan: “thông báo – gỡ bỏ”, “thông báo – thông báo”, “thông báo – ngăn chặn”. Những quy trình này đều đem lại hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan cũng như cho phép họ duy trì một môi trường trực tuyến an toàn và công bằng giữa người dùng với người dùng và người dùng với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian.

Trên đây là bài viết “Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Giới hạn quyền tác giả trong trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học

Trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học, việc chia sẻ và sử dụng nguồn tài liệu là rất cần thiết để thúc đẩy tri thức và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền tác giả cũng đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi cho tác giả và khuyến khích sáng tạo. Chính vì vậy, giới hạn quyền tác giả trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu trở thành một vấn đề đáng được lưu ý. Vậy quy định của pháp luật về vấn đề này như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

 1. Khái niệm

Giảng dạy được hiểu là trình bày kiến thức, truyền thụ tri thức một cách cụ thể cho người khác hiểu. Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (khoản 4 Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ 2013).

Đặc điểm chung trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học là việc khai thác, sử dụng các tác phẩm đã được công bố. Việc khai thác, sử dụng này có thể dưới nhiều hình thức khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Giới hạn quyền tác giả trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học được hiểu là việc sử dụng tác phẩm trong quá trình truyền đạt kiến thức, sáng tạo, tìm hiểu, khám phá các sự vật, hiện tượng, xã hội mà người sử dụng không cần xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, có thể không phải trả thù lao không được ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Giới hạn quyền tác giả trong trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học

2. Quy định về giới hạn quyền tác giả đối với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Pháp luật về quyền tác giả ghi nhận những đóng góp về văn học, nghệ thuật và nghiên cứu khoa học của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bằng cách dành cho họ những độc quyền khai thác, sử dụng thành quả sáng tạo, đầu tư của minh.  Nhằm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền tác giả và lợi ích công cộng pháp luật sở hữu trí tuệ quy định các ngoại lệ của độc quyền hay còn gọi là các hạn chế của quyền tác giả đối với một số hành vi sử dụng, khai thác quyền tác giả.

Việc giới hạn thể hiện ở chỗ trong những trường hợp nhất định thì cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng tác phẩm được công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc sử dụng tác phẩm được công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25 và Điều 26 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành). Đối tượng áp dụng trong trường hợp này là các tác phẩm đã được công bố.

Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao:

  • Đối với quy định tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân:  Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, ngoài việc tuân thủ theo nguyên tắc chung trong việc sử dụng tác phẩm là không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm và không gây phương hại đến quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì việc sao chép tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút chỉ được tiến hành khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:tự thực hiện hành vi sao chép; và chỉ được sao chép một bản và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy của cá nhân.
  • Đối với quy định sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu. Hoạt động của thư viện luôn gắn liền với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, bởi lẽ xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của thư viện được quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật thư viện 2019.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 nghị định 17/2023/ND-CP: Sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện quy định tại điểm e khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá ba bản để bảo quản, với điều kiện các bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ. Theo quy định nêu trên đối với việc sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện cũng giới hạn ở số lượng bản sao là ba bản và phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn mục đích là không nhằm mục đích thương mại.

Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao:

  • Pháp luật cho phép chủ thể khác được sử dụng tác phẩm trong một số trường hợp nhất định mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả nhưng phải trả tiền thù lao cho việc sử dụng. Điều 26 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về trường hợp này. Đây là ngoại lệ dành riêng cho tổ chức phát sóng, hành vi phát sóng được coi là truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Do đó pháp luật sở hữu trí tuệ đã quy định khi cá nhân nhân, tổ chức thực hiện phát sóng thì cần phải trả một khoản tiền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Các tổ chức phát sóng khi sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng dù là có tài trợ, quảng cáo, thu tiền hay không thì đều phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Điểm khác nhau được thể hiện ở mức nhuận bút, thù lao.

Trên đây là bài viết “Giới hạn quyền tác giả trong trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực thương mại điện tử

Trong kỷ nguyên thương mại điện tử, việc bảo vệ quyền tác giả trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự phát triển nhanh chóng của nội dung số khiến việc sao chép và chia sẻ trở nên dễ dàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức cho các tác giả và doanh nghiệp. Vậy bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực thương mại điện tử như thế nào?. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Khái quát về thương mại điện tử

Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các giao dịch mang tính thương mại được tiến hành bằng các phương tiện điện tử. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử là toàn bộ các giao dịch mang tính thương mại được tiến hành bằng các phương tiện điện tử mà chủ yếu là các mạng truyền thông, mạng máy tính và internet.

Pháp luật Việt Nam có đưa ra quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 85/2021/NĐ-CP như sau: Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.

Đặc điểm của thương mại điện tử:

  • Thương mại điện tử sử dụng các phương thức điện tử để tiến hành các giao dịch thương mại: việc sử dụng các phương thức điện tử cho phép các bên thực hiện các hoạt động mua, bán, chuyển giao, trao đổi các thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ,…
  • Thương mại điện tử mang tính chất xuyên biên giới: các phương tiện điện tử tạo ra một không gian với mạng lưới toàn cầu thể hiện rõ nét khả năng xóa mờ đi rào cản về biên giới lãnh thổ và khoảng cách địa lý đã luôn tồn tại trong thương mại truyền thống.
  • Thương mại điện tử có tính liên ngành và đa lĩnh vực: quy trình trong thương mại điện tử được chuẩn hóa, không chỉ tồn tại trong các hoạt động mua bán, cung ứng dịch vụ mà còn kết hợp các dịch vụ trung gian, các hoạt động xảy ra đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau.
  • Thương mại điện tử có sự đa dạng hóa của chủ thể tham gia và đối tượng được giao dịch: ngoài các chủ thể thương mại truyền thống, thương mại điện tử cần có sự tham gia của các chủ thể thứ ba là bên trung gian như các nhà cung cấp dịch vụ internet, dịch vụ logistic,…
Bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực thương mại điện tử

2. Quy định về xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong lĩnh vực thương mại điện tử

Tại điều 28 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành phân chia hành vi xâm phạm Quyền tác giả thành 4 nhóm chính:

  • Nhóm 1: Hành vi xâm phạm quyền nhân thân.
  • Nhóm 2: hành vi xâm phạm quyền tài sản.
  • Nhóm 3: Hành vi xâm phạm đến các biện pháp kỹ thuật.
  • Nhóm 4: hành vi xâm phạm gắn với môi trường số: cố ý phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số trái phép. Trách nhiệm pháp lý của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo quy định tại Điều 198b Luật sở hữu trí tuệ.

Khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra trên môi trường của một nền tảng website thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ trung gian sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi do người dùng của mình tạo ra trừ trường hợp được miễn trừ theo khoản 3 Điều 198b Luật sở hữu trí tuệ.  Các nhà cung cấp dịch vụ trung gian có nghĩa vụ triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả trên môi trường thương mại điện tử.

Ngoài ra theo nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng quy định riêng mục 7 thuộc chương VI về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Theo đó các doanh nghiệp này có chức năng “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” sẽ phải bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 113 hoặc yêu cầu của  chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 114.

3. Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả trên thương mại điện tử

Biện pháp tự bảo vệ: Đây là biện pháp được khuyến khích và ưu tiên áp dụng nhằm bảo vệ quyền tác giả chủ động từ phía chủ thể quyền, giảm thiểu những tranh chấp. Ngoài việc tự mình thực hiện quyền này thì chủ thể quyền tác giả có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền.

Biện pháp dân sự: các biện pháp bảo vệ quyền tác giả do Tòa án áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền được quy định tại Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ. Bồi thường thiệt hại là là chế tài quan trọng nhất là mục đích chính của chủ sở hữu khi sử dụng biện pháp dân sự được quy định tại Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ. Thời hiệu khởi kiện xâm phạm quyền tác giả có yêu cầu bồi thường thiệt hại là 3 năm (Điều 588) kể từ ngày người nhận yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, thời hiệu này không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân.

Biện pháp hành chính: được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền đối với tác phẩm bao gồm các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả và xử lý hàng hóa xâm phạm. Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà mức phạt tối đa đối với cá nhân là 250 triệu đồng và đối với tổ chức là 500 triệu đồng (theo quy định tại Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP).

Biện pháp hình sự: biện pháp hình sự được áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả ở mức độ nguy hiểm có dấu hiệu cấu thành tội phạm do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện được quy định tại Điều 212 Luật sở hữu trí tuệ. Tùy vào tính chất mức độ của hành vi cá nhân vi phạm có thể bị phạt tiền lên đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù đến 3 năm. Còn đối với pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị phạt tiền lên tới 3 tỷ đồng hoặc đình chỉ có thời hạn đến 2 năm. Ngoài ra còn phải chịu các hình phạt bổ sung khác.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực thương mại điện tử”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển, quyền tác giả trở thành một trong những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Hành vi xâm phạm quyền tác giả không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của tác giả và các tổ chức sáng tạo, mà còn gây ra những hệ lụy tiêu cực cho toàn xã hội. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tác giả, việc xác định rõ ràng các căn cứ và tiêu chí để nhận diện hành vi xâm phạm là vô cùng cần thiết. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Hành vi xâm phạm quyền tác giả là gì

Quyền tác giả bao gồm quyền nhân than và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ hiện hành.

Hành vi xâm phạm quyền tác giả thông thường là những hành vi dưới dạng hành động, làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn tác phẩm, xâm phạm những giá trị nhân thân, uy tín, danh tiếng của tác giả hoặc khai thác, sử dụng tác phẩm bát hợp pháp.

Bản chất của hành vi xâm phạm quyền tác giả là sự khai thác bất hợp pháp tức là sử dụng những quyền thuộc độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà không có sự cho phép, không tôn trọng quyền của chủ sở hữu đó. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả này trên thực tế rất đa dạng và chủ thể xâm phạm cũng khác nhau.

2. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả

Theo Điều 64 Nghị định 17/2023/ND-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả quyền liên quan, căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả dựa trên các căn cứ sau:

Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành. Các đối tượng này phải đáp ứng các điều kiện về căn cứ xác lập quyền theo quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét. Những yếu tố xâm phạm phổ biến trong hành vi xâm phạm quyền tác giả là việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm làm ảnh hưởng đến tính nguyên gốc, sao chép tác phẩm một cách bất hợp pháp hay sử dụng tác phẩm mà không xin phép cũng như không trả tiền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Thứ ba, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan. Trường hợp có nhiều đồng tác giả hoặc đồng chủ sở hữu quyền tác giả, hành vi xâm phạm có thể diễn ra giữa các đồng tác giả hoặc đồng chủ sở hữu khi một trong số họ thực hiện hành vi mà không có sự đồng ý từ các bên còn lại. Các hành vi xâm phạm sẽ bị coi là vi phạm nếu người thực hiện không được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép, theo các quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 5 Điều 29, khoản 3 Điều 30, khoản 3 Điều 31 và các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Các hành vi vi phạm diễn ra trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam sẽ bị áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu hành vi xâm phạm diễn ra qua mạng viễn thông hoặc mạng Internet, nó cũng được coi là xảy ra tại Việt Nam khi: người tiêu dùng hoặc người sử dụng nội dung thông tin số là người ở Việt Nam và nội dung vi phạm được truy cập hoặc khai thác từ Việt Nam.

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả

3. Một số biện pháp khắc phục tình trạng xâm phạm quyền tác giả

Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm: là một bước quan trọng, giúp tác giả có được bằng chứng pháp lý về quyền sở hữu. Việc này không chỉ bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giải quyết tranh chấp nếu có xảy ra. Nhờ đó, tác giả có thể ngăn chặn hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền lợi của mình.

Nâng cao ý thức tôn trọng quyền tác giả của người dân và ý thức tự bảo vệ của chủ thể quyền: ý thức tôn trọng quyền tác giả là một trong những điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc thực thi, bảo vệ quyền tác giả tại một quốc gia. Nếu người dân có ý thức tốt trong việc bảo vệ quyền tác giả thì hành vi xâm phạm có thể được ngăn ngừa và ngăn chặn. Ngoài ra nhà nước cần tăng cường giáo dục kiến thức về quyền tác giả, quyền liên quan trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.

Nâng cao vai trò của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả: Các tổ chức đại diện tập thể quyền giữ nhiệm vụ trung gian giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với tổ chức cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm đặc biệt là trong vấn đề thu phí tác quyền. Do đó việc phát huy tốt vai trò của tổ chức đại diện tập thể ngoài việc giúp ích cho tác giả còn góp phần làm ổn định và hạn chế hành vi xâm phạm quyền hiện nay, hỗ trợ cho hoạt động quản lý của nhà nước.

Áp dụng một số biện pháp công nghệ: có thể áp dụng các biện pháp công nghệ như sử dụng phần mềm bảo vệ bản quyền (DRM, watermarking), ứng dụng blockchain để xác thực quyền sở hữu, triển khai hệ thống giám sát trực tuyến và áp dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện vi phạm. Ngoài ra, phát triển nền tảng chia sẻ nội dung hợp pháp, xây dựng hệ thống báo cáo vi phạm và tổ chức các khóa học trực tuyến về quyền tác giả cũng là những giải pháp hiệu quả.

Trên đây là bài viết “Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả”mà VCD gửi đến bạn.

Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền tác giả trong số hóa tài liệu

Trong kỷ nguyên số hóa hiện nay, việc bảo tồn và truy cập tài liệu trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quyền tác giả. Quyền tác giả không chỉ bảo vệ quyền lợi của các tác giả, mà còn đảm bảo rằng tài liệu được số hóa và chia sẻ một cách hợp pháp. Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Thư viện số là gì?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thư viện 2019 như sau: Thư viện số là thư viện hoặc bộ phận của thư viện có tài nguyên thông tin được xử lý, lưu trữ dưới dạng số mà người dùng sử dụng thư viện truy cập, khai thác thông qua thiết bị điện tử và không gian mạng.

Do đó, thư viện số hay thư viện điện tử là loại hình đã tin họa hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện, là nơi người dụng có thể tới tra cứu và sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa.

HIện nay việc phát triển thư viện số đang được đẩy mạnh thực hiện tại Việt Nam nhằm hiện đại hóa thư viện, đáp ứng nhu cầu người sử dụng thư viện và xây dựng cơ sở dữ liệu số.

Quyền tác giả trong số hóa tài liệu

2. Quyền của tác giả trong số hóa tài liệu

Luật Thư viện 2019 đã đưa ra những quy định quan trọng về việc phát triển thư viện số, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền tác giả và quản lý tài nguyên thông tin số. Điều 31 của Luật này nêu rõ các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng và quản lý tài nguyên thông tin số, bao gồm:

  • Xây dựng tài nguyên thông tin số: Thư viện cần thu thập và số hóa tài liệu một cách có hệ thống, đảm bảo các tài nguyên này được bảo tồn và truy cập một cách hiệu quả.
  • Xử lý và bảo quản tài nguyên: Việc lưu giữ và bảo quản tài nguyên thông tin số phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và nghiệp vụ thư viện, nhằm đảm bảo an toàn và tính toàn vẹn của tài liệu.
  • Sử dụng phần mềm tiên tiến: Để quản lý thư viện số, các công nghệ hiện đại cần được áp dụng, từ việc thiết kế giao diện người dùng thông minh đến việc đảm bảo tính mở và khả năng liên kết giữa các hệ thống dữ liệu. Điều này không chỉ giúp việc tra cứu và khai thác tài liệu trở nên dễ dàng hơn mà còn hỗ trợ việc cấp quyền truy cập cho người dùng.
  • Cung cấp quyền truy cập: Luật cũng quy định rằng thư viện phải đảm bảo quyền truy cập vào tài nguyên thông tin số, tạo điều kiện cho người dùng tận dụng tối đa các tài nguyên này.

Hoạt động của thư viện số có thể xâm phạm quyền tác giả thông qua việc số hóa tài liệu  và cho phép người dùng tải về hoặc đăng tải tài liệu số hóa mà không có sự cho phép của tác giả. Luật sở hữu trí tuệ 2009 đã được sở đổi bổ sung bởi Luật sở hữu trí tuệ 2022 đã có những quy định mới về các hoạt động của thư viện số liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể theo quy định tại Điều 25 như sau:

Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

e) Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số;


Dựa trên quy định này, các thư viện hiện nay có thể sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải ghi thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm trong các trường hợp:

  • Sao chép để lưu trữ (có đánh dấu sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận).
  • Sao chép hoặc truyền tác giả thông qua máy tính (điều kiện là số người đọc cùng thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm). Quy định này không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số.
  • Sao chép một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để phục vụ nghiên cứu, học tập.

Do đó, các thư viện có thể liên quan đến tài liệu số hóa theo quy định được bổ sung, theo đó để đảm bảo tuân hủ quyền sở hữu trí tuệ và tránh vi phạm quyền tác giả, các thue viện cần thực hiện việc kiểm soát và giám sát hoạt động của người dùng trong thư viện số một cách nghiệm ngặt. Đồng thời cần có sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm của cả tác giả và người dùng để duy trì cân bằng giữa quyền lợi của các bên liên quan.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả trong số hóa tài liệu”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Xin giấy phép chuyển thể sang sách nói

Chuyển thể sách sang sách nói là một bước chuyển quan trọng trong việc mở rộng cách tiếp cận thông tin và kiến thức, phù hợp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu nghe sách thay vì đọc văn bản truyền thống. Tuy nhiên, để thực hiện việc này một cách hợp pháp và tuân thủ quy định của pháp luật, việc xin giấy phép chuyển thể là điều bắt buộc.Vậy xin giấy phép chuyển thể sang sách nói như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Chuyển thể sách sang sách nói là gì?

Sách là sản phẩm trí tuệ của con người được tích lũy thông qua kiến thức thực tiễn, nền văn hóa, lịch sử. Sách là một tập hợp các trang giấy hoặc tài liệu chứa đựng văn bản hoặc hình ảnh, được gắn lại với nhau thành một cuốn nhằm mục đích lưu giữ và truyền tải kiến thức, thông tin hoặc giải trí.

Chuyển thể sách sang sách nói là quá trình biến nội dung một cuốn sách từ dạng văn bản thành âm thanh. Điều này cho phép người nghe tiếp cận nội dung sách qua giọng đọc, thay vì phải đọc bằng mắt. Sách nói thường được ghi âm với sự tham gia của một hoặc nhiều người đọc diễn đạt nội dung. Quá trình này có thể bao gồm việc thêm nhạc nền hoặc các hiệu ứng âm thanh để làm tăng sự hấp dẫn cho người nghe.

Giấy cấp phép chuyển thể sang sách nói là một văn bản pháp lý chính thức, cho phép một tác phẩm sách in (hoặc sách điện tử) được chuyển đổi sang định dạng âm thanh để trở thành sách nói. Điều này giúp tác phẩm có thể được trải nghiệm qua việc nghe, thay vì đọc trực tiếp từ bản văn bản. Giấy phép này bảo vệ quyền lợi của tác giả và nhà xuất bản, đồng thời đảm bảo rằng nội dung gốc được sử dụng hợp pháp và không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Xin giấy phép chuyển thể sang sách nói

2. Điều kiện và hồ sơ để xin giấy phép chuyển thể sách sang sách nói

Để xin giấy phép chuyển thể sách sang sách nói, bạn cần đáp ứng các điều kiện sau:

  • Quyền sở hữu hoặc giấy phép sử dụng: phải chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm gốc hoặc có giấy phép sử dụng nội dung từ chủ sở hữu bản quyền. Điều này cũng áp dụng cho các trường hợp trích dẫn nội dung từ các tác phẩm khác (nếu cần).
  • Sự đồng thuận từ tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền: Nếu tác giả còn sống hoặc có thể xác minh được, bạn cần nhận được sự đồng ý từ họ hoặc từ người nắm giữ quyền tác giả để thực hiện việc chuyển thể.
  • Nội dung chuyển thể không vi phạm bản quyền và luật pháp: Sách nói sau khi chuyển thể phải tuân thủ các quy định về bản quyền, và không được vi phạm các quy định pháp luật khác liên quan đến nội dung.
  • Thủ tục nộp hồ sơ bản quyền: có thể phải nộp các hồ sơ liên quan đến bản quyền và xin cấp phép từ cơ quan quản lý văn hóa hoặc truyền thông (như Cục Bản quyền tác giả).
  • Giấy chứng nhận hoặc tài liệu chứng minh: Trong một số trường hợp cần cung cấp các tài liệu chứng minh mục đích chuyển thể, và sản phẩm chuyển thể phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung và chất lượng.

Để xin cấp giấy phép chuyển thể sách sang sách nói, bạn cần chuẩn bị các hồ sơ và thông tin sau:

  • Đơn xin cấp phép chuyển thể: Đơn cần ghi rõ lý do và mục đích của việc chuyển thể sách sang sách nói.
  • Bản sao công bố sách gốc: Bản sao của tác phẩm gốc đã được xuất bản hoặc công bố.
  • Quyết định cấp phép xuất bản: Bản sao quyết định cho phép xuất bản sách gốc từ cơ quan có thẩm quyền.
  • Hợp đồng chuyển thể: Hợp đồng ký kết giữa bạn và chủ sở hữu quyền tác giả của sách gốc.
  • Mẫu sách nói hoặc kịch bản sách nói: Một phần mẫu hoặc kịch bản của sách sau khi chuyển    thể.
  • Giấy tờ cá nhân: Bản sao CMND, hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân để xác nhận danh tính.
  • Các giấy tờ khác liên quan: Tài liệu bổ sung (nếu có), như giấy chứng minh mục đích sử dụng hoặc chứng nhận bản quyền đã đăng ký.

Sau khi hoàn thiện hồ sơ, bạn có thể nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý xuất bản hoặc gửi qua đường bưu điện. Thời gian xử lý hồ sơ sẽ phụ thuộc vào cơ quan quản lý và thường mất một khoảng thời gian nhất định để xem xét và cấp phép

3. Trường hợp nào không được cấp giấy phép chuyển thể sang sách nói

Theo Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ, quyền làm tác phẩm phái sinh (như chuyển thể sách thành sách nói) là một trong những quyền tài sản của tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền. Điều này có nghĩa là tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền có độc quyền trong việc thực hiện hoặc cấp phép cho người khác thực hiện tác phẩm phái sinh. Nếu một cá nhân hoặc tổ chức muốn thực hiện tác phẩm phái sinh, họ phải xin phép và có sự đồng ý của chủ sở hữu bản quyền. Đồng thời, họ phải trả tiền bản quyền và các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu​.

Theo Điều 28 Khoản 2 của Luật Sở hữu trí tuệ, bất kỳ hành vi chuyển thể nào mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc không trả tiền bản quyền đều được coi là xâm phạm quyền tài sản của tác giả. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, và chủ sở hữu quyền tác giả có quyền yêu cầu bồi thường hoặc kiện các bên vi phạm​.

Như vậy, việc chuyển thể sách sang sách nói mà không có sự đồng ý và thanh toán bản quyền đầy đủ sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả, và có thể dẫn đến hậu quả pháp lý.

Trên đây là bài viết “Xin giấy phép chuyển thể sang sách nói ”mà VCD gửi đếnbạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bắt chước thiết kế có vi phạm bản quyền?

Trong thế giới sáng tạo ngày nay, việc bắt chước thiết kế đã trở thành một vấn đề nóng hổi, đặc biệt trong các lĩnh vực như thời trang, thiết kế, nội thất, và ẩm thực.  Điều này không chỉ đặt ra câu hỏi về đạo đức trong việc sáng tạo mà còn liên quan đến các quy định pháp lý về bản quyền. Vậy, bắt chước thiết kế có thực sự vi phạm bản quyền hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Bắt chước ý tưởng thiết kế

Bản quyền (hay quyền tác giả) là một dạng quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ các tác phẩm sáng tạo của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Bản quyền bảo vệ các tác phẩm sáng tạo bao gồm các thiết kế đồ họa, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và các tác phẩm khác. Khi một thiết kế được tạo ra, tác giả tự động có quyền tác giả đối với tác phẩm đó mà không cần đăng ký bản quyền.

Bắt chước thiết kế là hành động sao chép hoặc làm theo một thiết kế đã có sẵn mà không có sự sáng tạo hay biến tấu, bao gồm việc sao chép hình dáng, màu sắc, bố cục hoặc các yếu tố khác của một sản phẩm hoặc tác phẩm nghệ thuật.

Bắt chước thiết kế có vi phạm bản quyền?

2. Bắt chước thiết kế có vi phạm bản quyền?

Theo pháp luật sở hữu trí tuệ các loại quyền tài sản bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, và quyền đối với giống cây trồng. Điều này cho thấy sự phức tạp và đa dạng trong hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, nơi mà mỗi loại quyền bảo vệ một khía cạnh khác nhau của sáng tạo.

Khái niệm “ý tưởng thiết kế” là một khái niệm chỉ tồn tại trong tâm trí, tức là chưa được thể hiện thành hình thức vật chất cụ thể. Đây là một điểm quan trọng, vì theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, chỉ những tác phẩm đã được thể hiện dưới dạng vật chất mới có thể được bảo vệ bởi quyền tác giả. Điều này có nghĩa là các ý tưởng, dù có giá trị sáng tạo, sẽ không tự động được bảo vệ nếu chúng chỉ dừng lại ở mức độ suy nghĩ. Ví dụ như một nhà thiết kế có thể có một ý tưởng về cách thiết kế một quán cà phê, nhưng nếu ý tưởng đó chưa được vẽ ra hay thể hiện dưới dạng nào khác, thì quyền tác giả không thể được xác lập.

Việc bảo hộ thiết kế bài trí của cửa hàng là một quy trình quan trọng và không phải là điều hiếm gặp. Để bảo vệ quyền tác giả cho ý tưởng thiết kế, người thiết kế cần chuyển hóa ý tưởng của mình thành hình thức vật chất. Cụ thể, họ có thể viết ra bản mô tả chi tiết về cách bài trí, màu sắc, vật liệu sử dụng và các yếu tố khác liên quan đến thiết kế. Ngoài ra, việc sử dụng bản vẽ, dù trên giấy hay qua phần mềm thiết kế, sẽ giúp tạo ra hình ảnh cụ thể cho ý tưởng, từ đó làm cho nó trở nên dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn.

Khi ý tưởng đã được thể hiện rõ ràng, nhà thiết kế có thể yêu cầu bảo vệ quyền tác giả cho tác phẩm của mình. Điều này có nghĩa là bất kỳ ai muốn sao chép hoặc bắt chước thiết kế đó đều cần có sự cho phép từ người sở hữu quyền tác giả. Việc bảo hộ này không chỉ giúp ngăn chặn hành vi sao chép từ các đối thủ cạnh tranh mà còn nâng cao uy tín cho thương hiệu. Khách hàng sẽ cảm thấy an tâm hơn khi biết rằng thiết kế và phong cách của cửa hàng đã được bảo vệ pháp lý, điều này tạo ra một lợi thế cạnh tranh đáng kể trong thị trường hiện nay.

Gần đây, thông tin về việc chuỗi nhượng quyền cà phê nổi tiếng và thành công nhất Việt Nam – Cộng Cà phê, bị quán cà phê C. 1989 “nhái” ý tưởng thiết kế và bài trí đã thu hút sự chú ý của dư luận. Hành động này không chỉ gây ra sự nhầm lẫn cho khách hàng mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong ngành cà phê.

Như đã phân tích ở trên thì trong trường hợp này, quán cà phê C. 1989 đã thực hiện các hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại như màu sắc, cách thiết kế bài trí, menu, và phương thức phục vụ, dẫn đến việc gây nhầm lẫn cho khách hàng về nguồn gốc và chủ thể kinh doanh. Những hành động này có thể được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và lợi ích của Cộng cà phê.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng C. 1989 không vi phạm quyền tác giả đối với “ý tưởng thiết kế” và bài trí của Cộng cà phê, vì quyền tác giả chỉ bảo vệ những tác phẩm đã được thể hiện một cách cụ thể. Do đó, hành vi của C. 1989 chủ yếu có thể bị xem xét dưới góc độ cạnh tranh không lành mạnh (theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành).

Để củng cố thêm cơ sở pháp lý cho mình, Cộng cà phê nên thực hiện việc đăng ký quyền tác giả cho bản vẽ thiết kế hoặc mô tả thiết kế quán cà phê. Việc này sẽ giúp tạo ra một hồ sơ pháp lý rõ ràng, bảo vệ quyền lợi của Cộng cà phê trong trường hợp có tranh chấp hoặc khi cần chứng minh quyền sở hữu thiết kế đối với các bên thứ ba. Qua đó, không chỉ bảo vệ tài sản trí tuệ mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của thương hiệu trên thị trường.

Trên đây là bài viết “Bắt chước thiết kế có vi phạm bản quyền?”mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,