Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Hiện nay, việc chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức diễn ra rất phổ biến. Quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả là đối tượng được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, để sử dụng và bảo hộ các quyền này cần có sự cho phép của chủ thể mang quyền thông qua hoạt động chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan. Pháp luật hiện hành cũng có những quy định cụ thể về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ) quy định quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan) là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.

Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan là người được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu có thể tự mình sử dụng hoặc cho người khác sử dụng; họ cũng có quyền định đoạt, chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đó cho người khác. Chủ sở hữu có thể định đoạt một số quyền thuộc quyền sở hữu của mình thông qua việc từ bỏ, để kế thừa hoặc chuyển nhượng các quyền năng đó cho người khác thông qua hợp đồng.

Khoản 1 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chung về chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau: “Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Như vậy có thể hiểu, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là văn bản thể hiện sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Theo đó, bên chuyển nhượng là chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu một hoặc một số quyền nhân thân, quyền tài sản của mình cho bên nhận chuyển nhượng là cá nhân, tổ chức theo hình thức, phạm vi, thời hạn… được hai bên xác định trong hợp đồng.

2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Hợp đồng quyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là hợp đồng dân sự đặc biệt. Bên cạnh đặc điểm của hợp đồng dân sự như mang tính chất song vụ, ưng thuận; có đền bù hoặc không có đền bù thì hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả còn có các đặc điểm riêng sau:

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan có đối tượng là quyền nhân thân và quyền tài sản. Nếu như đối tượng của hợp đồng dân sự chỉ có thể là tài sản hoặc công việc thì đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan còn có đối tượng là quyền nhân thân. Thông thường quyền nhân thân này là quyền nhân thân gắn với tài sản và theo quy định của pháp luật có thể chuyển giao được. Tuy nhiên quyền nhân thân là một đối tượng rất hạn chế và chỉ có một số quyền nhân thân nhất định được pháp luật quy định mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng này.

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả quyền liên quan là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu: Do đối tượng của hợp đồng là những quyền năng mang tính chất vô hình nên việc “chuyển giao” ở đây thể hiện sự chuyển giao về mặt pháp lí. Bên được chuyển nhượng sẽ được sở hữu đối với đối tượng của hợp đồng kể từ một trong ba thời điểm sau: (1) thời điểm hợp đồng có hiệu lực; (2) thời điểm các bên có thoả thuận khác; (3) pháp luật có quy định khác. Cũng kể từ thời điểm chuyển giao đó, bên chuyển nhượng sẽ chấm dứt tư cách chủ sở hữu đối với các quyền đã chuyển giao. Do vậy, sau khi chuyển nhượng, bên chuyển nhượng không có quyền sử dụng cũng như định đoạt các quyền năng đó.

3. Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 46 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;

b) Căn cứ chuyển nhượng;

c) Giá, phương thức thanh toán;

d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

2. Việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ở đây, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cũng mang đặc trưng của một hợp đồng dân sự, bao gồm: tên, địa chỉ của hai bên; căn cứ chuyển nhượng; giá cả, phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ của các bên và trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng xảy ra. Vì vậy, việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cần lưu ý là giá của nghệ thuật nói chung và giá trị của tác phẩm nói riêng không thể định lượng như vật chất được mà tùy thuộc vào yếu tố chủ quan, khách quan, khả năng cảm nhận, đánh giá của các bên… để đưa ra con số hợp lý trong hợp đồng.

Ngoài ra, Luật sở hữu trí tuệ cũng có quy định mới về trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì “việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác” (khoản 3 Điều 45). Bên cạnh đó, trường hợp tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh thì vẫn được quyền chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh cho tổ chức, cá nhân khác và được hưởng thù lao từ việc chuyển nhượng quyền đó. Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền này chỉ được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả được xác định.

Trên đây là bài viết: “Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan”. Mong rằng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn.

Cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được bảo hộ?

Một tác phẩm có thể phổ biến đến công chúng theo nhiều cách khách nhau. Tuy nhiên, để tác phẩm nghệ thuật đó được công chúng biến đến rộng rãi thì tác phẩm đó cần được thể hiện trên các chương trình, nền tảng âm nhạc đại chúng. Một buổi biểu diễn, bên cạnh việc sáng tác của tác giả thì người biểu diễn phải trình bày tác phẩm đó trên các chương trình, nền tảng xã hội với sự hỗ trợ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Vậy, cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được pháp luật bảo hộ?

1. Định nghĩa cuộc biểu diễn

Nghệ thuật là một loạt các hành động, mang tính đặc trưng của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn là hoạt động tạo ra những sản phẩm nghệ thuật được định hình dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh để truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật tới công chúng. Hoạt động này được thể hiện dưới các hình thức như biểu diễn nghệ thuật; lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật. Khoản 3 Điều 2 Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định về hoạt động biểu diễn có giải thích “loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam và thế giới”.

Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2023, gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ), “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Như vậy, cuộc biểu diễn được hiểu là hoạt động nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian; được truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật nhằm tiếp cận công chúng.

2. Điều kiện để cuộc biểu diễn được bảo hộ theo quy định pháp luật

Tuy nhiên, không phải cuộc biểu diễn nào cũng được Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung bảo hộ. Căn cứ theo khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ, để cuộc biểu diễn được bảo hộ thì phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;

b) Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;

c) Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật này;

d) Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này;

đ) Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Theo nguyên tắc hiệu lực lãnh thổ của quyền tắc giả thì nơi thực hiện cuộc biểu diễn cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp định song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc ký kết. Ngoài các nguyên tắc được quy định trong các Điều ước quốc tế như nguyên tắc đối xử công dân, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Hiệp định TRIPS), Khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường hợp cụ thể khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, cuộc biểu diễn này phải đảm bảo được thực hiện lần đầu hoặc được định hình lần đầu (điều kiện về hình thức hoặc thực hiện). Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn được  định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

Theo điểm c Điều 2 Hiệp ước về cuộc biểu diễn và bản ghi âm của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (gọi tắt là Hiệp ước WPPT) mà Việt Nam là thành viên có định nghĩa định hình “là sự biểu hiện các âm thanh, hoặc sự tái hiện lại biểu hiện này, từ đó các âm thanh có thể được cảm nhận, được sao chép hoặc truyền đạt qua một thiết bị nào đó.” Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan thì định hình được hiểu là: “sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt”. Vì vậy có thể hiểu, việc thực hiện cuộc biểu diễn thông qua chính hoạt động sáng tạo của người biểu diễn hoặc có sự kết hợp với một số các yếu tố có liên quan như màu sắc, bố cục, đường nét, hình khối, âm thanh để tạo nên cuộc biểu diễn. Trong hoạt động biểu diễn, tính sáng tạo của người biểu diễn là yếu tố quan trọng để hình thành nên hình tượng của họ, một trong các quyền nhân thân quan trọng mà pháp luật bảo hộ cho người biểu diễn.

Như vậy, bên cạnh căn cứ pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ, cuộc biểu diễn phải được định hình lần đầu, thể hiện sự sáng tạo của người biểu diễn và không gây tổn hại đến quyền tác giả. Khi đó, cuộc biểu diễn sẽ được bảo hộ bởi quyền liên quan một cách hoàn chỉnh nhất.

Trên đây là bài viết Cuộc biểu diễn phải đáp ứng các điều kiện nào để được bảo hộ?”. Mong bài viết có ích cho các bạn.

Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

Với sự phát triển không ngừng nghỉ của xã hội với những biến chuyển của thế giới, việc cập nhật tin tức thời sự một cách nhanh chóng và chính xác là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với các cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Vì vậy, dưới góc nhìn của luật pháp nói chung và Luật Sở hữu trí tuệ nói riêng, một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao những tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

1. Quyền tác giả là gì?

Trước khi giải đáp câu hỏi trên, phải hiểu rằng quyền tác giả “là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” (Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2023, sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ). Còn tác phẩm “là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” căn cứ theo khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ.

Sự sáng tạo ở đây được hiểu là tác phẩm đó được tác giả tạo ra bằng trí tuệ, cảm xúc của mình và được thể hiện dưới một hình thức nhất định như truyện, thơ, tác phẩm điện ảnh… không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký và được Nhà nước bảo đảm quyền tự do sáng tạo của cá nhân trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt các quyền của mình có được từ tác phẩm và được bảo vệ khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Căn cứ để trở thành đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả

Quyền tác giả được bảo hộ khi tác phẩm có tính sáng tạo (tính nguyên gốc) và hình thức thể hiện tác phẩm (tính định hình). Tính nguyên gốc thể hiện ở chỗ tác phẩm đó phải là kết quả sáng tạo bằng trí tuệ của mình, không sao chép từ tác phẩm của người khác, thể hiện cái riêng của tác giả. Tính định hình được thể hiện bởi phương thức thể hiện tác phẩm đó bằng chữ viết, các ký tự, đường nét, hình khối bố cục…Vì vậy, Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Điều 14, bao gồm:

(1) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

(2) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

(3) Tác phẩm báo chí;

(4) Tác phẩm âm nhạc;

(5) Tác phẩm sân khấu;

(6) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

(7) Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;

(8) Tác phẩm nhiếp ảnh;

(9) Tác phẩm kiến trúc;

(10) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

(11) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

(12) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

3. Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan, “Tin tức thời sự thuần túy đưa tin quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo.”

Có thể hiểu đó là những tin tức mang tính chất “thời sự”, cần được chuyển đến công chúng nhanh nhất, chỉ là những bản tin, những số liệu, phản ánh các thông tin sự thật khách quan như: dịch bệnh, tai nạn, sự kiện diễn ra trong và ngoài nước… được thu thập, tổng hợp và phản ánh một cách chân thực những sự vật sự việc khách quan, mà không phải là sự thể hiện sự sáng tạo, hay những nét riêng khác biệt nào đó của cá nhân, hay chủ thể nào đó. Do vậy, tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, việc đăng tải lại tin tức thời sự sẽ không phải xin phép bằng văn bản nhưng cần có trích nguồn cụ thể, vừa đảm bảo độ chính xác thông tin, vừa thể hiện sự tôn trọng đối với tác giả. Tuy nhiên, nếu việc đăng tải lại thông tin này không chính xác so với thông tin gốc, ảnh hưởng đến uy tín và gây thiệt hại đối với tác giả, tác giả có quyền yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình đưa tin, nếu chủ thể là cá nhân, tổ chức có nêu thêm cảm nhận, đánh giá, nhận xét, bình luận thể hiện quan điểm và suy nghĩ của mình, thể hiện sự sáng tạo và cách nhìn khác đối với tin tức thời sự đó và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định hoặc bất kỳ phương tiện nào thì có thể được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trên đây là bài viết “Tại sao tin tức thời sự thuần túy đưa tin không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả?”. Mong bài viết có ích cho các bạn.

Tác phẩm có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó có là đồng chủ sở hữu?

Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là người thừa kế theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, vậy trường hợp có nhiều người được thừa kế thì những người thừa kế đó có là đồng sở hữu quyền tác giả hay không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Thừa kế quyền tác giả

Quyền tác giả quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó có một số quyền có thể để lại thừa kế theo quy định của pháp luật Dân sự.

Tài sản của cá nhân có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, mà có quyền tài sản nằm trong quyền tác giả. Vậy, khi cá nhân sở hữu quyền tác giả chết và để lại tài sản của mình cho người thừa kế thì quyền tác giả đương nhiên sẽ trở thành di sản thừa kế.

Điều 40 Luật SHTT có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, cụ thể:

Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.”

Theo đó, người được nhận thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này.

2. Đồng sở hữu quyền tác giả

Theo Điêu 208 Bộ luật Dân sự, việc xác lập quyền sở hữu chung được thực hiện theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. Một trong những trường hợp sở hữu chung được xác lập là do thừa kế. Trong trường hợp này, việc phân chia di sản thừa kế thuộc sở hữu chung của những người đồng thừa kế thực hiện theo quy định tại Điều 659 và Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

– Phân chia di sản theo di chúc: Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Phân chia di sản theo pháp luật: Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Theo quy định của pháp luật, những quyền tác giả được thừa kế đều là quyền không gắn liền với tác giả và có thể chuyển giao. Trên cơ sở đó, chủ sở hữu các quyền trên có thể là một hoặc nhiều người. Theo đó, nếu nhiều người được nhận thừa kế tác phẩm theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này.

Trong trường hợp thừa kế quyền tác giả theo pháp luật thì những người được thừa kế cùng hàng có quyền hưởng ngang nhau trong việc sử dụng, định đoạt tác phẩm. Nguyên tắc sử dụng, định đoạt tác phẩm do được thừa kế, những người thừa kế phải dựa trên cơ sở thỏa thuận. Nếu những người có quyền thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Khi có nhiều người cùng được thừa kế quyền tác giả theo di chúc thì họ được sử dụng, định đoạt tác phẩm theo phạm vi đã được xác định cụ thể trong nội dung của di chúc. Trong trường hợp người lập di chúc không chỉ định rõ phạm vi sử dụng, định đoạt tác phẩm của từng người thừa kế thì việc sử dụng, định đoạt tác phẩm của từng người thừa kế phải được sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế theo di chúc. Nếu những người thừa kế quyền tác giả theo di chúc không thỏa thuận được về việc hưởng thừa kế quyền tác giả thì họ có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Ngoài ra, nếu có tổ chức, cá nhân muốn sử dụng tác phẩm thì phải xin phép, trả tiền nhuận bút cho tất cả các đồng chủ sở hữu (trừ trường hợp ngoại lệ).

Có thể từ chối thừa kế quyền tác giả hay không?

Luật Sở hữu trí tuệ có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, vậy người được thừa kế có thể từ chối quyền thừa kế của mình hay không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết “Có thể từ chối thừa kế quyền tác giả hay không” của VCD để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Thừa kế quyền tác giả

Quyền tác giả quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó có một số quyền có thể để lại thừa kế theo quy định của pháp luật Dân sự.

Tài sản của cá nhân có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, mà có quyền tài sản nằm trong quyền tác giả. Vậy, khi cá nhân sở hữu quyền tác giả chết và để lại tài sản của mình cho người thừa kế thì quyền tác giả đương nhiên sẽ trở thành di sản thừa kế.

Điều 40 Luật SHTT có quy định về chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế, cụ thể:

“Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.”

Theo đó, người được nhận thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu của các di sản thừa kế này. Tuy nhiên, người thừa kế không thừa hưởng hết toàn bộ quyền tác giả mà chỉ là chủ sở hữu của các quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản trong quyền tác giả.

2. Từ chối thừa kế tác phẩm

Trên cơ sở đó tại Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ quy định cá nhân được thừa kế quyền tác giả nhưng chỉ một số quyền nhất định. Đối với quyền nhân thân, cá nhân chỉ được nhận thừa kế quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Những quyền nhân thân khác không thể để lại thừa kế bởi những quyền này gắn liền với cá nhân mỗi người, thường là tên gọi, uy tín, danh dự, nhân phẩm… chỉ cá nhân đó mới thực hiện được. Còn đối với quyền tài sản thì được thừa kế toàn bộ theo quy định của pháp luật giống như là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả ban đầu của tác phẩm, cụ thể các quyền sau:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Việc từ chối nhận thừa kế được thực hiện theo quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự như sau.

“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”

Như vậy, cá nhân có quyền từ chối nhận di sản là quyền tác giả và phải tuân thủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản mà tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ thì tác phẩm sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định của luật SHTT Việt Nam.

Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?

Scan là một trong những cách phổ biến mà người dùng thông qua việc quét lại các giấy tờ bản cứng để lưu lại thành các file hình ảnh trên máy tính, điện thoại. Dưới góc độ pháp lý, các hoạt động scan tài liệu có phải là hình thức sao chép tác phẩm không? Mời bạn đọc theo dõi bài viết “Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?” của VCD để tìm hiểu thêm.

1. Scan có được coi là hình thức sao chép tác phẩm?

Scan là việc chuyển các dữ liệu trên giấy tờ, tài liệu, hình ảnh trên giấy thành dữ liệu, hình ảnh, file lưu trữ trên máy tính, điện thoại thông qua một chiếc máy scan, máy in có tính năng scan hoặc qua ứng dụng scan trên điện thoại thông minh.

Căn cứ quy định tại Khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, bản gốc, bản sao của tác phẩm được định nghĩa như sau:

“4. Bản gốc tác phẩm là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó việc sáng tạo tác phẩm được định hình lần đầu tiên.

5. Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.”

Đồng thời, khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ nêu rõ, sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.

Từ các quy định trên, ta có thể thấy rằng việc scan thực chất là đang tạo ra một bản sao của tác phẩm gốc dưới hình thức điện tử, vậy nên đây là hành vi sao chép tác phẩm.

2. Scan tác phẩm có phải xin phép tác giả không?

Quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ

Mọi tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền nhân thân và quyền tài sản phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Những hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi vi phạm bản quyền tác giả.

Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ cho phép việc sao chép tác phẩm mà không phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả được quy định tại điểm a, đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.

Như vậy, scan là một trong những hình thức sao chép tác phẩm và tùy vào mục đích sao chép, tổ chức cá nhân phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả hoặc không cần. Tuy nhiên, cần tôn trọng tác giả và quyền tác giả khi sao chép tác phẩm, khi sử dụng phải nêu rõ thông tin tác giả và nguồn từ tác phẩm gốc.

Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình

Để tạo nên một chương trình hoàn chỉnh, đầy đủ nội dung, hoạt động theo từng kế hoạch cụ thể và phù hợp với thị hiếu khán giản thì chương trình phải có một kịch bản hay và hoàn chỉnh. Do đó, để đảm bảo công sức, tiền bạc đã bỏ ra xây dựng kịch bản không bị sao chép thì việc bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình là vô cùng cần thiết. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của VCD đề tìm hiểu về bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình.

1. Kịch bản chương trình là gì?

Kịch bản chương trình có thể hiểu là một bản mô tả chi tiết về nội dung và quy trình của một chương trình truyền hình, phát thanh hoặc sự kiện trực tiếp. Nó định nghĩa các phần chính của chương trình, bao gồm lời mở đầu, mục tiêu, nội dung, kịch bản trò chuyện giữa người dẫn chương trình và khách mời, và các phần khác nhau để xây dựng sự kết hợp hài hòa và mạch lạc của chương trình.

Kịch bản chương trình cung cấp một hướng dẫn cho người dẫn chương trình và các thành viên trong đoàn làm phim/truyền hình về cách diễn đạt, tương tác và thực hiện chương trình một cách chuyên nghiệp, đảm bảo rằng chương trình diễn ra suôn sẻ và theo kế hoạch.

Đồng thời, giúp đảm bảo rằng mọi người tham gia chương trình có một hướng dẫn rõ ràng về cách diễn đạt, nội dung và luồng làm việc. Đây cũng là một công cụ hữu ích để sắp xếp và kiểm soát thời gian chương trình một cách hiệu quả.

2. Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình

Bảo hộ bản quyền kịch bản chương trình là cách thức, biện pháp được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo ra hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu bản quyền kịch bản chương trình cũng như là các chủ thể có liên quan, chống lại bất kỳ một sự xâm phạm nào.

Tại Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:

“1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;”

Như vậy, theo quy định trên thì kịch bản trương trình thuộc dạng tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác. Do đó, chủ thể có quyền được bảo hộ là tổ chức, cá nhân gồm người trực tiếp sáng tạo ra kịch bản chương trình và chủ sở hữu quyền kịch bản chương trình quy định theo pháp luật.

Về đối tượng bảo hộ, kịch bản chương trình phải đáp ứng một số điều kiện như:

  • Tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo mà không phải là do sao chép, ăn cắp, sửa đổi, lấy ý tưởng… từ tác phẩm của người khác;
  • Kịch bản chương trình được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày kịch bản chương trình đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác.

Giống như quy định tại các điều ước quốc tế song và đa phương, Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định bản quyền kịch bản chương trình được mặc nhiên công nhận và bảo hộ sau khi kịch bản được hình thành trên một loại hình vật chất nhất định. Việc đăng ký quyền kịch bản chương trình theo quy định tại điều 49 Luật sở hữu trí tuệ không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền bảo hộ.

Tuy nhiên, việc có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với bản quyền kịch bản chương trình có ý nghĩa khi xảy ra tranh chấp vì tổ chức, cá nhân có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với bản quyền kịch bản chương trình sẽ không có nghĩa vụ chứng minh bản quyền thuộc về mình, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Vậy, để đủ điều kiện được pháp luật bảo hộ, kịch bản chương trình cần đáp ứng các điều kiện về đối tượng như trên và phải được định hình trên vật chất nhất định, khi đó kịch bản chương trình mới được bảo hộ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ quyền tác giả không?

Tại các cơ quan báo chí, biên dịch là công việc diễn ra thường xuyên nhằm chuyển tải tới công chúng các thông tin từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Vậy những tác phẩm báo chí đã được biên dịch có được đăng ký bảo hộ quyền tác giả hay không, mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để tìm hiểu thêm.

1. Tác phẩm báo chí được biên dịch là gì?

Theo cách hiểu thông thường, dịch thuật là việc chuyển thể từ vựng, câu, văn bản… từ một ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nói một cách học thuật hơn, dịch là quá trình chuyển đổi từ một ngôn ngữ nguồn dạng văn bản hoặc lời nói thành ngôn ngữ đích dạng văn bản hoặc lời nói tương ứng. Có thể nói rằng, tác phẩm báo chí biên dịch là dịch một tác phẩm báo chí từ ngôn ngữ này, sang ngôn ngữ khác với nội dung tương ứng.

Mỗi tác phẩm báo chí đều mang trong mình những ngữ cảnh và văn hóa khác nhau, đòi hỏi người dịch phải có trình độ chuyên môn sâu và có kiến thức về ngôn ngữ cũng như có kiến thức chung về báo chí, nhất là đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, phong cách báo chí. Sự linh hoạt và nhạy bén của người làm công tác dịch sẽ giúp cho thông tin đến được với công chúng một cách chuẩn xác, cụ thể và hiệu quả.

Mục đích chính của quá trình dịch thuật là cầu nối giữa các ngôn ngữ khác nhau. Vì vậy, dịch các tác phẩm báo chí từ ngôn ngữ khác sang tiếng Việt để có thể tiếp cận được lượng người đọc lớn hơn, đưa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn.

2. Tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài có được đăng ký bản quyền hay không?

Tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài là bản được dịch ra một ngôn ngữ khác dựa trên ngôn ngữ gốc của văn bản đó. Theo đó tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài được coi là một loại tác phẩm phái sinh.

Căn cứ theo Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn”.

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh”.

Tác phẩm báo chí biên dịch được bảo hộ quyền tác giả khi đáp ứng 04 điều kiện sau:

  • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc: Theo khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Các tác phẩm dùng để làm tác phẩm phái sinh bao gồm các phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Phải do tác giả làm tác phẩm phái sinh trực tiếp sáng tạo: Khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc: Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc. Trong trường hợp không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả (Trừ khi tác phẩm phái sinh thuộc các trường hợp tại Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Phải có dấu ấn riêng của tác giả tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là những tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc. Nên để tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì phải có tính sách tạo, mới mẻ và mang dấu ấn của tác giả sáng tạo ra tác phẩm phái sinh đó.

Như vậy, tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài muốn được bảo hộ quyền tác giả thì không được gây phương hại đến quyền nhân thân và quyền tài sản của văn bản gốc.

Trên đây là bài viết “Tác phẩm báo chí dịch từ tiếng nước ngoài có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Văn bản hành chính có được bảo hộ quyền tác giả không?

Hàng ngày, chúng ta tiếp xúc với rất nhiều văn bản như quyết định của cơ quan nhà nước như quyết định nâng lương, quyết định xử lý luật lao động, thông báo cuộc họp, thư mời cuộc họp… Căn cứ vào nội dung và hình thức của các văn bản đó, ta có thể phân loại nó thành văn bản hành chính. Vậy để tìm hiểu Văn bản hành chính có được bảo hộ quyền tác giả không?, mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD.

1. Văn bản hành chính là gì?

Văn bản pháp luật (VBPL) do những chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức theo pháp luật quy định, có nội dung là ý chí của nhà nước, mang tính bắt buộc và được đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước. Văn bản pháp luật bao gồm ba nhóm văn bản là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính. Mỗi nhóm trong hệ thống VBPL còn có một số nét đặc thù về nội dung, tính chất và vai trò trong quản lý nhà nước.

Văn bản hành chính có thể có nhiều loại, thường được chia thành những loại sau:

  • Văn bản thường dùng để truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết.
  • Văn bản mang tính thông tin quy phạm Nhà nước, cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý.
  • Văn bản mang tính quy phạm hành chính nhà nước. Văn bản hành chính có nhiều vài trò khác nhau, có thể là thông báo, truyền đạt thông tin từ tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước này đến một hay nhiều tổ chức, cá nhân khác.
  • Văn bản hành chính cũng có thể dùng để cụ thể hóa những văn bản pháp quy, giải quyết những công việc cụ thể trong quá trình quan lý, điều hành một cơ quan, tổ chức.

2. Văn bản hành chính có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo Điều 15 Luật SHTT quy định văn bản hành chính là một trong các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả, cụ thể:

“Điều 15. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

1. Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

2. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

3. Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.”

Đối với từng đối tượng trong nhóm này sẽ được cụ thể hóa tại các văn bản có liên quan để có thể dễ dàng áp dụng. Một trong số đó là những văn bản hành chính được quy định chi tiết tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Theo đó văn bản hành chính này bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều này có thể hiểu bởi những văn bản hành chính chứa đựng những quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc và được áp dụng trong những tổ chức mang tính quyền lực và  một số đối tượng vi phạm về pháp luật hành chính… Bởi vậy, các văn bản hành chính sẽ không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Quyền của người biểu diễn theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Việc truyền tải, đưa tác phẩm đến với công chúng có thể thực hiện bằng nhiều cách nhưng phổ biến nhất là thông qua người biểu diễn. Chủ thể biểu diễn tác phẩm là một chủ thể được pháp luật sở hữu trí tuệ quan tâm và bảo hộ các quyền của họ. Vậy người biểu diễn là ai, họ có những quyền gì? Mời bạn đọc theo dõi bài viết của VCD để biết thêm chi tiết.

1. Người biểu diễn là ai?

Những ai được coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3a Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Công ước Rome): “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học, nghệ thuật”.

Trên cơ sở khái niệm người biểu diễn của Công ước Rome, Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam liệt kê các tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam, trong đó quy định trực tiếp người biểu diễn gồm: “Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật”.

2. Quyền của người biểu diễn

Khi thỏa mãn các điều kiện theo luật định thì người biểu diễn được hưởng các quyền đối với với cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, quyền của người biểu diễn gồm có quyền nhân thân và quyền tài sản.

Quyền nhân thân là những quyền người biểu diễn không thể chuyển giao và được bảo hộ vô thời hạn. Theo quy định của Khoản 2 Điều 29 Luật sở hữu trí tuệ quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Nếu người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì còn được hưởng các quyền tài sản là độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền quy định tại Khoản 3 Điều 29 như:

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
  • Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

Đồng thời tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định ở Điều 19 về Quyền của người biểu diễn như sau:

“1. Quyền sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác từ bản ghi âm, ghi hình đó.

2. Quyền sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác không từ bản ghi âm, ghi hình đó như việc sao chép từ chương trình phát sóng, mạng thông tin điện tử, mạng viễn thông, mạng Internet và các hình thức tương tự khác.

3. Quyền truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng.”

Người biểu diễn thông qua việc thực hiện hoặc cho phép thực hiện hay chuyển giao các quyền tài sản để thu các lợi ích kinh tế. Pháp luật quy định tổ chức, cá nhân muốn sử dụng khai thác các quyền này thì phải xin phép và trả thù lao cho chủ sở hữu quyền là hoàn toàn hợp lý

Trên đây là bài viết “Quyền của người biểu diễn theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,