Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm tranh dân gian

Tranh dân gian là những tác phẩm được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được lưu truyền qua từng thế hệ. Tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân nghèo khó mà trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi cả quan lại quý tộc. Ngày nay những làng nghề tranh dân gian không còn được phát triển như trước đây. Tuy nhiên những tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao và được coi là đặc trưng nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn. Vậy những tác phẩm tranh dân gian là gì và được bảo hộ như thế nào?

1. Tác phẩm tranh dân gian là những tác phẩm như thế nào?

Tranh dân gian là những tác phẩm nghệ thuật bình dân được tạo nên bởi những người nghệ sĩ chỉ quen thuộc với những công việc đồng áng mỗi ngày. Tuy nhiên những tác phẩm của họ lại đầy những tính sáng tạo độc đáo miêu tả về cuộc sống hàng ngày và những cảm nhận về thế giới xung quanh. Nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam với bề dày lịch sử phát triển đã trở thành một phần không thể thiếu với người yêu thích hội họa nước nhà.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm tranh dân gian là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điểm a Khoản 7 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về tác phẩm tranh dân gian như sau:

“Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:

a) Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;”

Như vậy, các tác phẩm tranh dân gian là các tác phẩm hội hoạ được thể hiện bằng các chất liệu như sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước… mà pháp luật đề cập nêu trên.

2. Thời gian bảo hộ đối với tác phẩm tranh dân gian

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm tranh dân gian

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm tranh dân gian có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không bảo hộ.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm tranh dân gian mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm tranh dân gian”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan

Thông thường, các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình… đều có tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân hoặc tổ chức xác định. Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ không thể xác định được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm… là ai, trong trường hợp đó, Nhà nước sẽ đứng ra đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Hãy tham khảo bài viết “Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan” dưới đây:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 42 Luật sở hữu trí tuệ, Nhà nước đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan trong các trường hợp dưới đây:

1. Không thể tìm hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan

Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thì Nhà nước sẽ đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan.

Đây là những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được công bố nhưng không có thông tin về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc có thông tin về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không liên hệ được;

2. Tác phẩm khuyết danh

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 17/2023/NĐ-CP ghi nhận, tác phẩm khuyết danh có thể được hiểu là tác phẩm không hoặc chưa có tên tác giả (tên khai sinh hoặc bút danh) trên tác phẩm khi công bố. Ví dụ về tác phẩm khuyết danh có thể kể đến tác phẩm văn học dân gian “Tấm Cám”, truyện có nguồn gốc xa xưa được phát triển trong xã hội có giai cấp cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư sản, chế độ gia đình phụ quyền thời cổ, tuy nhiên, tác giả truyện Tấm Cám là ai hiện vẫn là một ẩn số.

Cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả được xác định thì người quản lý quyền tác giả, quyền liên quan sẽ là Nhà nước, trừ trường hợp:

  • Tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định.
  • Khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền tác giả của tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng được xác định theo quy định của Luật SHTT và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Vậy, có hai trường hợp các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình… mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan được quy định trong pháp luật. Đó là, tác phẩm khuyết danh và các tác phẩm không tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu.

Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan thì phải nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau khi đã nỗ lực tìm kiếm chủ thể quyền mà không thể tìm được hoặc không liên hệ được.

Trên đây là bài viết “Những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?

Khi nhắc đến biểu diễn, mọi người quen thuộc và nghĩ ngay đến các loại hình nghệ thuật biểu diễn như kịch, múa, hay là việc ca sĩ trình bày một ca khúc trên sân khấu. Tuy nhiên, dưới góc độ Luật Sở hữu trí tuệ, “biểu diễn tác phẩm trước công chúng” không được hiểu theo cách thông thường như trên và cũng không chỉ giới hạn với những loại hình nghệ thuật đó, mà được hiểu theo một cách rộng hơn. Vậy, cụ thể, theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, việc biểu diễn và  quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?

1. Quyền biểu diễn tác phẩm là gì và thuộc về ai?

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền biểu diễn được hiểu là quyền được “Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.”

Từ đó, có thể thấy rằng phạm vi của quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng được quy định khá rộng rãi, bảo gồm cả hình thức trực tiếp và trực tuyến, và không bị giới hạn chỉ trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn thông thường như kịch, nhạc kịch, múa, trình bày bài hát trên sân khấu,…

Quyền biểu diễn tác phẩm là một trong những quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được phép độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện. Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ đã ghi nhận quyền biểu diễn tác phẩm tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Do đó, nếu tổ chức, cá nhân muốn thực hiện biểu diễn tác phẩm phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Nội dung quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng với từng loại hình tác phẩm

Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ hơn nội dung về quyền biểu diễn đối với từng loại hình tác phẩm cụ thể như sau:  

  • Đối với tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ, tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc thuyết trình, trình bày làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm bằng thính giác nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm, bao gồm cả việc cảm nhận từ bên ngoài không gian nơi đang diễn ra việc thuyết trình, trình bày qua màn hình, loa hoặc thiết bị kỹ thuật tương tự.
  • Đối với tác phẩm âm nhạc: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc biểu diễn làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm bằng thính giác hoặc trình bày tác phẩm trên sân khấu cho công chúng nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm, bao gồm cả việc cảm nhận từ bên ngoài không gian nơi đang diễn ra việc biểu diễn qua màn hình, loa hoặc thiết bị kỹ thuật tương tự.
  • Đối với tác phẩm điện ảnh: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc trình chiếu làm cho công chúng tiếp cận, cảm nhận được tác phẩm điện ảnh thông qua các phương tiện kỹ thuật nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.
  • Đối với tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh: Là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc triển lãm, trưng bày, trình chiếu để công chúng xem bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm.

Trên đây là bài viết “Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là gì?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng

Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng đều hiện diện trong những sản phẩm, tình huống hết sức gần gũi, đời thường, ví dụ như là bao bì, đồ gốm, quần áo,…Vậy, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là gì và được bảo hộ như thế nào?

1. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là những tác phẩm như thế nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điều 6 Khoản 8 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về tác phẩm mỹ thuật ứng dụng như sau:
“Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.”

Như vậy, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là những tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp thuộc một trong những trường hợp mà pháp luật đề cập nêu trên.

2. Thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật

3.1. Điều kiện đối với tác phẩm

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm mỹ thuật có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không

3.2. Điều kiện đối với tác giả

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật

Mỹ thuật là một loại hình nghệ thuật thị giác, tiêu biểu cho loại hình mỹ thuật là các tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khắc. Các tác phẩm mỹ thuật hiện diện trong đời sống hằng ngày, mang lại những giá trị tinh thần khác nhau cho con người, đồng thời cũng mang tới những giá trị kinh tế đáng kể. Tác phẩm mỹ thuật là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả. Vậy, tại Việt Nam, các tác phẩm mỹ thuật đang được bảo hộ quyền tác giả như thế nào? 

1. Tác phẩm mỹ thuật là những tác phẩm như thế nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm mỹ thuật là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, Điều 6 Khoản 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã làm rõ về khái niệm và các loại hình tác phẩm mỹ thuật như sau:

“Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:

a) Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;

b) Đồ họa: Tranh khắc gỗ, khắc kim loại, khắc cao su, khắc thạch cao, in độc bản, in đá, in lưới, tranh cổ động, thiết kế đồ họa và các chất liệu khác;

c) Điêu khắc: Tượng, tượng đài, phù điêu, đài, khối biểu tượng;

d) Nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.

Tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức nghệ thuật đương đại khác tồn tại dưới dạng độc bản. Tác phẩm đồ họa có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.”

Như vậy, có thể hiểu rằng tác phẩm mỹ thuật được bảo hộ là những tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khác, nghệ thuật sắp đặt và những hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.

2. Thời hạn bảo hộ tác phẩm mỹ thuật

Các quyền nhân thân như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc và không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được bảo hộ vô thời hạn.

Quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

3. Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm mỹ thuật

3.1. Điều kiện đối với tác phẩm

  • Tác phẩm phải do chính tác giả tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định:

Theo Điều 6 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chỉ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nếu tác giả chỉ nghĩ ra ý tưởng mà chưa thực hiện định hình tác phẩm, thì ý tưởng đó không được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh:

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Như vậy, nếu như các tác phẩm mỹ thuật có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh, Nhà nước sẽ không

3.2. Điều kiện đối với tác giả

  • Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam;
  • Tác phẩm thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, tác phẩm mỹ thuật mới được bảo hộ quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?

Đối với các trường hợp xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên mạng internet, các chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy nhập vào thông tin đang xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đó. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, khi đưa ra yêu cầu, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan đồng thời cũng phải đưa ra những tài liệu, chứng cứ chứng minh sở hữu quyền cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Vậy, Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?

Theo Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan khi gửi yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, sẽ cần gửi kèm theo những tài liệu, chứng cứ chứng minh chủ thể có quyền đối với tài sản bị xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Những tài liệu, chứng cứ chứng minh cần chuẩn bị được quy định tại Khoản 4 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, cụ thể như sau:

1. Thông tin của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu: Tên; địa chỉ hiện tại; địa chỉ thư điện tử; số điện thoại liên hệ; số giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu đối với cá nhân; số đăng ký doanh nghiệp, quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với tổ chức;

2. Chứng cứ chứng minh chủ thể quyền, trong đó chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan phải cam kết chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hồ sơ;

  • Đối với quyền tác giả, quyền liên quan đã được đăng ký:
    • Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định;
    • Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan hoặc chứng thực bản quyền do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
  • Đối với quyền tác giả, quyền liên quan chưa được đăng ký:
    • Bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa có nêu tên chủ thể quyền theo quy định tại Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ[1] và Điều 59 của Nghị định 17/2023/NĐ-CP[2];
    • Các tài liệu khác chứng minh việc tạo ra, công bố, biểu diễn, phân phối, phát sóng, truyền đạt các đối tượng nêu trên và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);

3. Văn bản được ký số của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu cam kết chịu mọi trách nhiệm pháp lý với yêu cầu gỡ bỏ, ngăn chặn hoặc phản đối của mình, kể cả trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bên liên quan nếu có thiệt hại xảy ra;

4. Chứng cứ chứng minh xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và thiệt hại xảy ra:

  • Bản gốc hoặc bản sao hợp pháp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan);
  • Tài liệu, hiện vật có liên quan, ảnh chụp, bản ghi âm, ghi hình đối tượng bị xem xét;
  • Bản giải trình, so sánh giữa đối tượng bị xem xét với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Biên bản, lời khai, vi bằng, tài liệu khác nhằm chứng minh xâm phạm.

Tài liệu, hiện vật nêu trên phải lập thành danh mục, có chữ ký xác nhận của người yêu cầu xử lý xâm phạm.

5. Bên yêu cầu phải cung cấp thông tin về vị trí, đường link dẫn đến nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và mô tả nội dung xâm phạm. Bên bị yêu cầu phải cung cấp thông tin về vị trí, đường link dẫn đến nội dung thông tin số đang bị tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn;

6. Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu là bên được ủy quyền.

Trên đây là nội dung bài viết “Khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh gì?” . Hy vọng bài viết này có ích đối với các bạn.

Trân trọng,


[1] Điều 198a. Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan

Trong các thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, hình sự về quyền tác giả và quyền liên quan, nếu không có chứng cứ ngược lại thì quyền tác giả, quyền liên quan được giả định như sau:

1. Cá nhân, tổ chức được nêu tên theo cách thông thường là tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, nhà sản xuất tác phẩm điện ảnh, nhà xuất bản được coi là chủ thể quyền đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó;

2. Nêu tên theo cách thông thường quy định tại khoản 1 Điều này được hiểu là được nêu tên trên bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan (nếu có) hoặc trên các bản sao tương ứng được công bố hợp pháp trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan không còn tồn tại;

3. Cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng quyền tác giả hoặc quyền liên quan tương ứng.

[2] Điều 59. Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan

1. Bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 2 Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng lần đầu tiên.

2. Cá nhân đứng tên là tác giả (tên thật hoặc bút danh) trên bản sao tác phẩm đã xuất bản hoặc trên bản gốc tác phẩm mỹ thuật theo cách thông thường được coi là tác giả cho đến khi có chứng cứ ngược lại.

3. Đối với tác phẩm đã được xuất bản, trường hợp tác giả không đứng tên theo quy định tại khoản 2 Điều này thì nhà xuất bản đứng tên trên bản sao tác phẩm được coi là chủ thể quyền.

4. Chủ thể quyền đối với tác phẩm quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này có quyền thực hiện các yêu cầu quy định tại Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ. Quy định tại khoản này không ảnh hưởng đến thỏa thuận đã có giữa các bên có liên quan.

5. Trường hợp bản gốc, bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng không còn tồn tại, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại khoản 2 Điều 198a của Luật Sở hữu trí tuệ cũng được xác định trên bản gốc, bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khác có liên quan, trong đó có nêu tên tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng trong chừng mực hợp lý để khẳng định chủ thể quyền.

Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được pháp luật quy định có trách nhiệm ngăn chặn truy nhập hoặc gỡ bỏ đối với những thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?

1. Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Theo Điều 113 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với các bước cụ thể như sau:

  • Phải xử lý trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, bao gồm  Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc Cục Bản quyền tác giả;
  • Có trách nhiệm thông báo cho bên có nội dung thông tin số bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập; và
  • Phải báo cáo kết quả thực hiện cho cơ quan đã gửi yêu cầu chậm nhất là 24 giờ sau khi xử lý yêu cầu.

Việc thông báo, báo cáo quy định tại khoản này được thực hiện bằng hình thức gửi văn bản, gửi thư điện tử hoặc hình thức tương tự khác.

2. Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi nhận được yêu cầu của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, quy trình xử lý khi nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn là quy trình xoay quanh ba bên, bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu”, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan có yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy cập thông tin (sau đây gọi là “bên yêu cầu”) và bên có nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn (sau đây gọi là “bên bị yêu cầu”).

Doanh nghiệp trung gian khi nhận được yêu cầu từ chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan (sau đây gọi là “bên yêu cầu”) kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh thông qua công cụ tiếp nhận yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của doanh nghiệp đó thì doanh nghiệp trung gian phải thực hiện những công việc sau:

Bước 1: Trong vòng 72 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn và phải thông báo cho bên yêu cầu và bên có nội dung thông tin số bị yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn (sau đây gọi là “bên bị yêu cầu”) về việc đã tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên yêu cầu cung cấp.

Bước 2: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số và thông báo cho bên yêu cầu và bên bị yêu cầu, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian:

  • Trường hợp 1: Phải gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó nếu không nhận được thông báo yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp;
  • Trường hợp 2:  Nếu nhận được thông báo yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp, trong vòng 72 giờ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khôi phục lại nội dung thông tin số đã bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn,  đồng thời chuyển tiếp cho bên yêu cầu văn bản yêu cầu phản đối kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên bị yêu cầu cung cấp.

Bước 3: Khi trường hợp 2 nêu trên xảy ra, kể từ khi chuyển tiếp tài liệu, chứng cứ cho bên yêu cầu mà bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu không tiến hành khởi kiện dân sự hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền không quyết định thụ lý đơn theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian duy trì khôi phục nội dung thông tin số đã bị gỡ bỏ hoặc ngăn chặn. Trường hợp Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thụ lý đơn của bên yêu cầu hoặc bên bị yêu cầu thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, đối với nội dung thông tin số được phát trực tiếp theo thời gian thực, trường hợp chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan chủ động cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh tới doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trước khi phát trực tiếp tối thiểu 24 giờ nhằm ngăn chặn, phòng ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian thực hiện như sau:

  • Ngay lập tức tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi nhận được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số được yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn và phải thông báo cho bên yêu cầu và bên bị yêu cầu về việc đã tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số đó kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh do bên yêu cầu đã cung cấp;
  • Tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật đã được nêu trong Bước 2 và Bước 3 ở trên.

Trong khi thực hiện việc gỡ bỏ, ngăn chặn thông tin số theo quy trình nêu trên, việc thông báo, gửi, chuyển tiếp tài liệu chứng cứ, chứng minh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, bên yêu cầu và bên bị yêu cầu được thực hiện bằng hình thức gửi thư điện tử hoặc hình thức tương tự khác.

Trên đây là bài viết “Quy trình gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập thông tin của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi có yêu cầu của bên khác?”. Mong bài viết này có ích đối với quý bạn đọc.

Trân trọng.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?

Pháp luật đã quy định doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet. Cụ thể hơn, Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?

Theo Điều 111 và 112 Nghị định 17/2023/NĐ – CP, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những việc sau để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng: 

Thứ nhất, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phair xây dựng công cụ tiếp nhận yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Công cụ tiếp nhận yêu cầu là một trong các công cụ sau:

  • Chương trình máy tính để tiếp nhận yêu cầu;
  • Trang thông tin điện tử để tiếp nhận yêu cầu;
  • Các hòm thư điện tử để tiếp nhận yêu cầu;
  • Cổng điện tử tiếp nhận yêu cầu;
  • Công cụ tiếp nhận yêu cầu khác có chức năng tương tự.

Xác nhận gửi thành công yêu cầu qua công cụ tiếp nhận được coi là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đã nhận được yêu cầu.

Thứ hai, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thông báo đầu mối liên lạc về vấn đề quyền tác giả, quyền liên quan tới cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và công khai trên trang thông tin điện tử của mình. Đầu mối liên lạc bao gồm ít nhất các thông tin sau: địa chỉ thư điện tử, số điện thoại liên hệ.

Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải cảnh báo cho người sử dụng dịch vụ về trách nhiệm pháp lý của họ nếu họ thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng khi nhận được yêu cầu bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để phục vụ xác minh, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ tư, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian cung cấp dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” (hosting) phải thực hiện gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi biết nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc yêu cầu của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm công bố quy trình nội bộ xử lý yêu cầu gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan hoặc yêu cầu phản đối việc tạm gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số trên hệ thống dịch vụ của mình.

Thứ năm, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải chấp hành công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ sáu, trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khai thác, sử dụng nội dung thông tin số được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan do người sử dụng dịch vụ của mình đăng tải trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet vì mục đích thương mại thì phải thực hiện nghĩa vụ xin phép và trả tiền bản quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 20, khoản 4 Điều 29, khoản 2 Điều 30 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Thứ bảy, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý (theo quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ) và không tuân thủ quy định về việc gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới nội dung thông tin số khi có yêu cầu phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của người sử dụng dịch vụ gây ra. Mặt khác, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại các điều 28 và 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thì phải chịu các trách nhiệm pháp lý tương ứng theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung của bài viết “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện những công việc gì để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng?”. Mong bài viết có thể giúp ích cho quý vị.

Trân trọng.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là những doanh nghiệp như thế nào?

Theo Khoản 1 Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet. Cụ thể hơn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là bao gồm những doanh nghiệp như thế nào?

Điều 110 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã quy định rõ hơn các nội dung về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, cụ thể như sau:

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ là các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ sau:

  • Dịch vụ “chỉ truyền dẫn” là dịch vụ truyền dẫn trên mạng viễn thông và mạng Internet nội dung thông tin số do người sử dụng dịch vụ cung cấp hoặc dịch vụ cung cấp khả năng truy nhập vào mạng viễn thông và mạng Internet;
  • Dịch vụ “lưu trữ đệm” là dịch vụ truyền dẫn trên mạng viễn thông và mạng Internet nội dung thông tin số do người sử dụng dịch vụ cung cấp mà có hoạt động lưu trữ tự động, trung chuyển và tạm thời nội dung thông tin số đó. Hoạt động lưu trữ tự động, trung chuyển và tạm thời này được thực hiện với mục đích duy nhất là làm cho việc chuyển tiếp nội dung thông tin số đó một cách hiệu quả hơn đến người sử dụng dịch vụ khác theo yêu cầu của họ;
  • Dịch vụ “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” là dịch vụ cho người sử dụng lưu trữ nội dung thông tin số do người sử dụng cung cấp theo yêu cầu của họ.

Bên cạnh đó, Điều 110 Nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng đã liệt kê một số dạng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, bao gồm:

  • Doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet;
  • Doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ kênh thuê riêng trong trường hợp kênh thuê riêng không được sử dụng để cung cấp các dịch vụ sau:
    • Cho thuê chỗ đặt máy chủ, cho thuê máy chủ dùng riêng trong trường hợp máy chủ không được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu, và
    • Cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cho thuê chỗ đặt máy chủ, cho thuê máy chủ dùng riêng trong trường hợp máy chủ không được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu;
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến;
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tìm kiếm nội dung thông tin số;
  • Doanh nghiệp khác cung cấp một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ có chức năng tương tự quy định tại khoản 1 Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ và các dịch vụ “chỉ truyền dẫn”, “lưu trữ đệm” và “lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu” nêu trên.

Trên đây là nội dung bài viết “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là những doanh nghiệp như thế nào?”. Hy vọng bài viết có ích đối với quý bạn đọc.

Trân trọng.

Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (còn được gọi là Công ước Berne) được ký tại Berne (Thụy Sĩ) năm 1886 và là công ước đầu tiên trên thế giới thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Công ước hiện nay có trên 180 quốc gia là thành viên trong đó có Việt Nam. Là thành viên của Công ước, Việt Nam đã từng bước nghiên cứu và ban hành các quy định về Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu về nội dung mà Công ước này đặt ra cho các Quốc gia thành viên. Trong bài viết “Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật” này, chúng tôi sẽ một số điểm tương thích trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam với nội dung Công ước Berne.

1. Nội dung cơ bản của Công ước Berne

Thứ nhất, Công ước đã quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ tương đối đầy đủ và toàn diện, mang tính chất bao quát. Theo đó, các tác phẩm được chia thành 3 nhóm sau đây:

–    Các tác phẩm gốc trong lĩnh vực văn học, khoa học, nghệ thuật không phân biệt hình thức hay phương thức biểu hiện, ví dụ như các sách, tập in nhỏ và các bài viết khác, các bài giảng, tác phẩm kịch, bản nhạc, đồ họa, kiến trúc…

–    Các tác phẩm phái sinh miễn là tác phẩm này không làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc: VD như tác phẩm dịch, mô phỏng…

–    Các tuyển tập các tác phẩm văn học và nghệ thuật (các hợp tuyển, bộ bách khoa từ điển) nếu được chọn lọc và sắp xếp theo một nội dung nào đó để tạo nên một tác phẩm sáng tạo.

Công ước cũng cho phép các quốc gia có quyền quy định bảo hộ hoặc không bảo hộ khi tác phẩm chưa được ấn định trên một hình thái vật chất và cách thức bảo hộ riêng với các văn bản lập pháp, hành pháp, tư pháp. Công ước không bảo hộ những tin tức hàng ngày, số liệu vụn vặt mang tính chất thông tin báo chí vì không phải là kết quả hoạt động sáng tạo.

Thứ hai, Công ước cũng đã quy định về điều kiện được bảo hộ. Theo đó các tác phẩm được bảo hộ thông thường sẽ phải thỏa mãn ít nhất một trong hai tiêu chí sau :

–    Tiêu chí quốc tịch tác giả: Tác giả phải mang quốc tịch của một trong những nước thành viên của liên hiệp Berne hoặc có nơi cư trú thường xuyên tại một trong những nước thành viên của Liên hiệp Berne.

–    Tiêu chí nơi công bố tác phẩm lần đầu tiên: Tác phẩm phải được công bố lần đầu tiên tại một trong những quốc gia thành viên của Liên hiệp hoặc đồng thời tại một quốc gia trong và ngoài Liên hiệp.

Thứ ba, Công ước quy định những quyền được bảo hộ bao gồm quyền tài sản (economic right) và quyền nhân thân (moral rights). Các quyền tài sản bao gồm quyền dịch, sao chép, phóng tác, trình diễn công cộng, trần thuật công cộng và truyền thông công cộng. Quyền nhân thân bao gồm quyền đứng tên tác giả và quyền phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi những vi phạm khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và tiếng tăm của tác giả.

Thứ tư, Công ước quy định thời hạn chung bảo hộ quyền tác giả là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Trong trường hợp là đồng tác giả, thời hạn bảo hộ sẽ được tính đến 50 năm sau khi đồng tác giả cuối cùng qua đời. Đối với các quốc gia thành viên Liên hiệp bị ràng buộc bởi Đạo luật Rome của Công ước Berne mà vào thời điểm tham gia ký kết đạo luật này, quy định trong quốc gia hiện hành, thời hạn bảo hộ ngắn hơn quy định tại Công ước Berne thì nước đó có thể giữ thời hạn ngắn hơn khi tham gia hoặc phê chuẩn Đạo luật này. Công ước cũng dành quyền cho mỗi quốc gia thành viên trong việc quy định thời hạn bảo hộ cho tác phẩm văn học, nghệ thuật có thể dài hơn so với thời hạn nêu trong Công ước nhưng không vượt quá thời hạn bảo hộ tại quốc gia gốc của tác phẩm, nếu quốc gia không có quy định khác. Mốc thời hạn được tính từ ngày mồng 1 tháng giêng năm tiếp theo sau cái chết của tác giả hay sự kiện được quy định trong Công ước Berne.

2.       Một số điểm tương thích giữa Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne

Việt Nam đã gia nhập công ước Berne ngày 26/10/2004. Ngay sau đó, Việt Nam đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ vào năm 2005, luật bắt đầu có hiệu lực vào năm 2006. Việt Nam đã xây dựng một cơ chế chặt chẽ để bảo vệ quyền tác giả cả ở trong nước và ngoài nước. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có một số điểm tương thích với Công ước Berne như sau:           

  • Về tiêu chuẩn bảo hộ

Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đều cùng quy định bảo hộ các tác phẩm được sáng tạo và phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không bảo hộ ở dạng ý tưởng. Các tác phẩm được bảo hộ với bất kể nội dung, chất lượng, hình thức thể hiện, phương tiện truyền tải và ngôn ngữ nào.

  • Về đối tượng được bảo hộ

Tất cả các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học đều là đối tượng bảo hộ được quy định trong Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Các đối tượng được bảo hộ có thể là: Sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, tác phẩm văn học, tác phẩm kiến trúc, sơ đồ, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu…Tuy nhiên, khác với Công ước Bern không quy định về các đối tượng không được bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có quy định tại Điều 15 về các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, bao gồm: tin tức thời sự thuần túy đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

  • Về thời điểm phát sinh quyền tác giả

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam tuân theo nguyên tắc bảo hộ tự động (hay còn gọi là bảo hộ đương nhiên) đã được ghi nhận trong Công ước Bern. Theo đó, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký quyền tác giả và việc đã công bố tác phẩm hay chưa.

  • Về giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan

Các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam tại Điều 25, Điều 25a, Điều 26, Điều 32 và Điều 2 hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 10 và Điều 10 (bis) của Công ước Bern.

Công ước Bern cho phép trích dẫn tác phẩm từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn; cho phép sử dụng tác phẩm để minh họa phục vụ giảng dạy; cho phép in lại trên báo chí, phát trên sóng hoặc thông tin đường dây những bài báo có tính chất thời sự về kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên báo chí hoặc tập san, hoặc các tác phẩm đã phát sóng có tính chất tương tự đối với những tác phẩm mà tác giả không đích danh giữ bản quyền, với điều kiện phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả.

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã cụ thể hóa những quy định về giới hạn quyền tác giả trong Công ước Bern trong Điều 25, Điều 25a và Điều 26 bằng cách liệt kê các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm; các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật; các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Đối với quyền liên quan, tại Điều 32 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật đã liệt kê rõ ràng các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình. Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã tiếp thu tinh thần được ghi nhận tại công ước, phát triển thêm những quy định rất chi tiết về giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan mà hoàn toàn không vượt ra ngoài khuôn khổ của Công ước Bern.

  • Về việc thực thi các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan

Pháp luật Việt Nam hiện đang áp dụng ba phương thức là dân sự, chế tài hành chính và chế tài hình sự để bảo đảm thực thi pháp luật, được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật hình sự. Các biện pháp cụ thể bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tịch thu và tiêu huỷ tang vật, kiểm soát hàng giả tại biên giới, phạt tiền, hình phạt tù.

Trong khi đó, theo quy định của Công ước Bern, (i) quốc gia thành viên của công ước có thể tịch thu bản sao nhập khẩu của tác phẩm âm nhạc không được tác giả cho phép (Điều 13);  (ii) Chính phủ của quốc gia thành viên có quyền kiểm soát sự lưu thông, trình bày và triển lãm tác phẩm bằng các biện pháp thuộc lập pháp hay hành pháp của quốc gia đó mà quy định của công ước này không được phép vi phạm quyền nêu trên dưới bất kỳ hình thức nào(Điều 17); và (iii) Công ước Bern cũng cho phép quốc gia thành viên thiết lập sự bảo hộ lớn hơn so với sự bảo hộ của Công ước (Điều 19). Bởi vậy, những quy định về việc thực thi quyền tác giả và quyền liên quan của pháp luật Việt Nam không mâu thuẫn với nội dung của Công ước Bern.

Nhìn chung, các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam có sự thống nhất với các quy định của Công ước Berne. Điều này thể hiện sự kế thừa và tiếp thu các quy định của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của pháp luật Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Một số điểm tương thích của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam với Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng.