Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ

Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ là một trong những loại tác phẩm được đăng ký quyền tác giả theo tinh thần của Luật Sở hữu trí tuệ. Việc chủ sở hữu, tác giả của những bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ thực hiện đăng ký bản quyền tác giả là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có sự xâm phạm và là cơ sở chứng minh thời điểm phát sinh quyền. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ những trình tự, thủ tục khi đăng ký bản quyền đối với loại tác phẩm này.

1. Điều kiện đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ

Chủ sở hữu, tác giả tác phẩm khi muốn đăng ký bản quyền đối với những bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ cần đáp ứng điều kiện sau:

Thứ nhất, tác phẩm đăng ký phải có đủ các đặc tính dưới đây:

  • Tác phẩm cần phải có tính sáng tạo: Phải được sáng tạo trực tiếp bởi tác giả, không được sao chép các tác phẩm khác dưới bất cứ hình thức nào;
  • Tác phẩm phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Ví dụ như: Bản họa đồ, sơ đồ phải được thể hiện qua một bản vẽ, phác họa trên giấy…

Thứ hai, về chủ thể là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần có đầy đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo Điều 12a, Điều 13, Điều 36 đến Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

  • Tác giả phải là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản đối với tác phẩm và quyền công bố công bố tác phẩm.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức thuộc một trong các trường hợp sau:
    • giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả;
    • được thừa kế quyền tác giả;
    • được chuyển giao quyền tác giả;
    • là Nhà nước đối với tác phẩm khuyết danh không có người quản lý tác phẩm, tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản, tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.
  • Là cá nhân và tổ chức Việt Nam, nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu ở nước khác.
  • Là cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa công bố ở bất kỳ nước nào.
  • Là cá nhân và tổ chức nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ

Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả được ủy quyền sẽ chuẩn bị hồ sơ đăng ký. Hồ sơ sẽ bao gồm những tài liệu sau:

  • Tờ khai (đơn) đăng ký bản quyền tác giả theo mẫu của Cục bản quyền tác giả;
  • 02 bản tác phẩm đăng ký: 02 bản vẽ hoặc bản in trên giấy;
  • Giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng ủy quyền (Trong trường hợp tác giả, chủ sở hữu ủy quyền);
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền;
  • Văn bản thỏa thuận giữa các đồng tác giả trong trường hợp tác phẩm có nhiều tác giả;
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung;
  • Chứng minh thư nhân dân/thẻ căn cước/hộ chiếu của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm (bản sao) hoặc tài liệu chứng minh tư cách hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, tổ chức là chủ sở hữu tác phẩm (bản sao).

3. Thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ

Thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, sơ đồ, bản vẽ được quy định như sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại  trụ sở Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng.

Bước 2: Trả kết quả

Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp hồ sơ. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ.

Trên đây là bài viết “Thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Điện ảnh là loại hình nghệ thuật trẻ, bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX nhưng có tốc độ phát triển vô cùng nhanh chóng, đáp ứng thị hiếu nghệ thuật của con người. Sau hơn 1 thế kỷ phát triển, điện ảnh không chỉ đem lại những giá trị văn hóa, nghệ thuật cho con người mà còn trở thành nền công nghiệp lớn mạnh, có giá trị kinh tế cao. Mỗi tác phẩm điện ảnh đều phản ánh sự sáng tạo của những người làm nên nó, thể hiện ở các yếu tố như nội dung kịch bản, diễn xuất của các diễn viên, sự sắp đặt của đạo diễn, âm nhạc, khung cảnh, kỹ xảo,…Mỗi tác phẩm điện ảnh đều là thành quả sau khoảng thời gian lao động, sáng tạo tâm huyết của một tập thể. Vậy, thành quả sáng tạo đó được bảo vệ như thế nào? Bản quyền Việt Nam xin được làm rõ vấn đề trên thông qua bài viết Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh dưới đây.

1. Tác phẩm điện ảnh

Điện ảnh, môn nghệ thuật thứ bảy, là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, đặc trưng bởi việc kết hợp giữa kịch bản văn học, diễn xuất của diễn viên và việc sử dụng kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh, ánh sáng để tạo thành tác phẩm, gọi là nghệ thuật quay phim, dụng phim.  

Nhắc đến tác phẩm điện ảnh, mọi người đều đã quen thuộc với tên gọi “phim”. Về định nghĩa của phim, theo quy định tại Điều 3 Khoản 2 của Luật Điện ảnh:

“Phim là tác phẩm điện ảnh, có nội dung, được biểu hiện bằng hình ảnh động liên tiếp hoặc hình ảnh do các thiết bị kỹ thuật, công nghệ tạo ra; có hoặc không có âm thanh và các hiệu ứng khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh; được ghi trên các chất liệu, bằng kỹ thuật số hoặc phương tiện kỹ thuật khác và được phổ biến đến người xem, bao gồm các loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và phim kết hợp nhiều loại hình.

Phim không bao gồm sản phẩm ghi hình nhằm mục đích phổ biến tin tức trên dịch vụ phát thanh, truyền hình, không gian mạng; chương trình biểu diễn nghệ thuật, trò chơi điện tử; sản phẩm ghi hình về hoạt động của một hoặc nhiều người, mô tả các sự kiện, tình huống hoặc chương trình thực tế.”

Bên cạnh đó, Điều 12 Khoản 1 Nghị định 22/2018/NĐ – CP quy định: “Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kết hợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.”

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Theo Điều 21 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 12 Nghị định 22/2018/NĐ – CP:

  • Biên kịch, đạo diễn được hưởng một số quyền nhân thân, đó là quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc cho phép người nhận chuyển giao quyền tài sản đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, kỹ xảo, diễn viên điện ảnh và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
  • Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh là chủ sở hữu các quyền: quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác, phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
  • Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh có thể thỏa thuận với biên kịch, đạo diễn về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm.
  • Trường hợp kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của kịch bản, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với kịch bản, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Phân biệt đồng tác giả với tập thể tác giả

Những khái niệm liên quan đến tác giả, đồng tác giả hay tập thể tác giả luôn gây ra những sự nhầm lẫn trong việc nhận diện và xác định các quyền lợi hợp pháp liên quan. Trong số những khái niệm đó thì đồng tác giả và tập thể tác giả được xem là khá khó khăn trong việc phân biệt. Bài viết “Phân biệt đồng tác giả với tập thể tác giả” của VCD sẽ làm rõ hơn khái niệm đồng tác giả và tập thể tác giả để giúp bạn đọc có thể phân biệt hai khái niệm này.

1. Đồng tác giả

Theo Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ quy định về khái niệm đồng tác giả như sau:

Đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”.

Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả”.

Vậy, với định nghĩa trên, đồng tác giả phải là người trực tiếp lao động sáng tạo để tạo nên tác phẩm, có đóng góp công sức thực tế vào việc định hình tác phẩm. Những người chỉ đưa ra ý tưởng, đóng góp ý kiến, hỗ trợ hoặc cung cấp tư liệu cho tác giả mà không trực tiếp tham gia vào quá trình định hình tác phẩm thì không được coi là đồng tác giả.

Người là đồng tác giả cũng có những quyền như tác giả thông thường. Tuy nhiên, cần chú ý có sự khác nhau về quyền của các đồng tác giả trong hai trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm và tác giả không đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm.

Cụ thể, các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm thì các đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, được hưởng toàn bộ những quyền nhân thân và các quyền tài sản được quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm do họ cùng sáng tạo ra.

2. Tập thể tác giả

Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể về tập thể tác giả. Tuy nhiên trên thực tế, có một số loại hình tác phẩm mang những đặc trưng riêng, được tạo thành hoàn chỉnh từ loại hình nghệ thuật khác nhau, tách biệt tuy nhiên ghép lại thành tổng thể tác phẩm. Cụ thể, hai loại hình có thể thấy rõ nhất chính là tác phẩm sân khấu và tác phẩm điện ảnh.

Nghị định 22/2018/NĐ-CP cũng quy định tại Điều 11 và Điều 12 về tác giả sáng tác tác phẩm sân khấu điện ảnh là các tác giả quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ.

Cụ thể, đối với tác phẩm điện ảnh, biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền nhân thân bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc cho phép người nhận chuyển giao quyền tài sản đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Những người quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, kỹ xảo, diễn viên điện ảnh và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.

Đối với tác phẩm sân khấu, tác giả kịch bản sân khấu được hưởng quyền nhân thân là quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc cho phép người nhận chuyển giao quyền tài sản đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Những người là tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.

Ta có thể hiểu tập thể tác giả là những người cùng trực tiếp sáng tạo nên tác phẩm. Tuy nhiên khác với đồng tác giả thì tập thể tác giả chỉ có thể được áp dụng đối với tác phẩm sân khấu và điện ảnh. Dù là tập thể nhưng mỗi chủ thể có thể làm một phần tác phẩm tách biệt nhau và tổng hợp các phần tạo nên một chỉnh thể tác phẩm thống nhất và hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, đối với tập thể tác giả, có thể thấy rằng những người có vai trò chủ chốt, quyết định, chi phối tổng thể tác phẩm trong việc định hình tác phẩm từ nội dung tới hình thức thể hiện sẽ nắm giữ nhiều quyền hơn so với những người đóng vai trò thực hiện từng phần trong việc định hình tác phẩm dưới một hình thức thể hiện nhất định mà không chi phối, quyết định nội dung tác phẩm.

Trong tập thể tác giả thì các tác giả sẽ là chủ thể được hưởng các quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) và được nhận tiền thù lao từ chủ sở hữu. Còn quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm sẽ thuộc về tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính; cơ sở vật chất, kỹ thuật để sản xuất tác phẩm.

Trên đây là bài viết “Phân biệt đồng tác giả với tập thể tác giả”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu

Nghệ thuật sân khấu là một loại hình nghệ thuật biểu diễn có lịch sử lâu đời. Nghệ thuật sân khấu đến nay đã được xây dựng và phát triển vô cùng phong phú từ số lượng loại hình đến số lượng tác phẩm, chỉ tính riêng tại Việt Nam đã có đến hơn 30 loại hình sân khấu truyền thống. Mỗi tác phẩm sân khấu đều thể hiện sự sáng tạo độc đáo của những người tạo ra nó, là kết quả của quá trình lao động tập thể trong một thời gian dài, từ xây dựng kịch bản, thiết kế sân khấu tới quá trình luyện tập và biểu diễn trước công chúng. Do đó, nhằm bảo hộ thành quả lao động của những người sáng tạo, việc chú trọng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu là cần thiết. Để tìm hiểu rõ ràng về quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu, Bản quyền Việt Nam đưa ra cho Quý độc giả nội dung cơ bản về vấn đề này trong bài viết.

1. Nghệ thuật sân khấu và tác phẩm sân khấu

Cùng với điện ảnh, nghệ thuật sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp. Có nghĩa là, sân khấu tổng hòa trong nghệ thuật của mình nhiều loại hình nghệ thuật khác, bao gồm nhưng không đồng thời bao gồm tất cả các loại hình văn học, âm nhạc, múa, mỹ thuật, kiến trúc,…Ba chủ thể sáng tạo cơ bản tạo nên một tác phẩm sân khấu là nhà viết kịch, nhà đạo diễn và những người biểu diễn. Sân khấu truyền tải những nội dung, tư tưởng của tác phẩm tới người đọc bằng những hành động (hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động ngôn ngữ) thông qua sự biểu đạt (diễn xuất) của người biểu diễn. Trong hành trình phát triển, nghệ thuật sân khấu được làm phong phú và hoàn thiện hơn qua việc sử dụng những yếu tố như kỹ xảo, âm thanh, ánh sáng hiện đại, đem đến khả năng diễn đạt ấn tượng tác phẩm tới công chúng.

Dưới góc độ sở hữu trí tuệ, tác phẩm sân khấu là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 11 Khoản 1 Nghị định 22/2018/NĐ – CP: “Tác phẩm sân khấu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.”

Những chủ thể được coi là các tác giả của tác phẩm sân khấu bao gồm tác giả kịch bản sân khấu, tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu. Riêng đối với người biểu diễn, quyền của người biểu diễn đối với tác phẩm được gọi là quyền liên quan mà không gọi là quyền tác giả.

2. Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu

Theo Điều 21 Khoản 2, Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 11, Điều 29 Nghị định 22/2018/NĐ – CP:

Trường hợp 1: Trong trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn thì tác giả, người biểu diễn có đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm. Nội dung các quyền được quy định cụ thể tại Điều 19, 20 và 29 Luật Sở hữu trí tuệ và được nêu rõ trong trường hợp dưới đây.  

Trường hợp 2: Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn thì tác giả, người biểu diễn có các quyền như sau:

  • Tác giả kịch bản sân khấu được hưởng các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả, đó là quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc cho phép người nhận chuyển giao quyền tài sản đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Các tác giả khác của tác phẩm sân khấu, bao gồm tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
  • Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác, phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản. Các tổ chức, cá nhân nêu trên có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) theo hợp đồng với các tác giả kịch bản sân khấu và các tác giả khác của tác phẩm sân khấu.
  • Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu có thể thỏa thuận với các tác giả của tác phẩm sân khấu về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm.
  • Trường hợp tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm sân khấu được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc đó được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
  • Người biểu diễn được hưởng các quyền nhân thân thuộc quyền liên quan, bao gồm quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
  • Chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn được hưởng các quyền tài sản thuộc quyền liên quan, bao gồm quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình; sao chép cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào; phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, nghĩa là được quyền thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng; phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình; cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn; phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh

Nhiếp ảnh là một loại hình nghệ thuật được ưa chuộng hiện này, ta có thể bắt gặp những tác phẩm nhiếp ảnh hàng ngày, ở trên mạng xã hội, ở các triển lãm ảnh hoặc ngay cả trên đường phố. Những tác phẩm này có thể được tạo ra bởi các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp hoặc những người nghiệp dư có đam mê. Vậy những tác phẩm nhiếp ảnh có được bảo hộ quyền tác giả hay không, mời quý bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây của VCD để tìm hiểu thêm về vấn đề này.

1. Tác phẩm nhiếp ảnh là gì?

Mặc dù từ thế kỷ 11, con người đã khám phá ra cách sử dụng “buồng tối” như một chiếc máy ảnh đầu tiên, nhưng đến tận thế kỷ 19 thì các máy ảnh và kỹ thuật chụp ảnh mới phát triển hoàn thiện.  Năm 1839, Viện Khoa học và Viện Mỹ thuật của Học viện học thuật Pháp đã công nhận phương pháp nhiếp ảnh tấm bạc của họa sĩ người Pháp Louis-Jacques-Mandé Daguerre (1787 – 1851), là khởi nguồn của nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại. Nghệ thuật nhiếp ảnh đến nay có lịch sử phát triển 183 năm, các kỹ thuật và công nghệ cũng không ngừng được áp dụng trong nhiếp ảnh, từ việc sử dụng những chiếc máy ảnh cơ học cho tới những chiếc máy ảnh kỹ thuật số hiện đại. Các tác phẩm nhiếp ảnh dưới dạng ảnh phim hoặc ảnh kỹ thuật số đều được coi là các tác phẩm nghệ thuật và được bảo hộ quyền tác giả.

Để tìm hiểu định nghĩa chính xác của tác phẩm nhiếp ảnh, Điều 14 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 2 năm 2018 quy định cụ thể như sau:

Tác phẩm nhiếp ảnh quy định tại là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích”.

Có thể hiểu rằng, tác phẩm nhiếp ảnh được hiểu là kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật, tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra hay có thể được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kỹ thuật nào.Tác phẩm nhiếp ảnh là một trong những đối tượng được bảo hộ bản quyền theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Tác phẩm nhiếp ảnh có được bảo hộ quyền tác giả không?

Căn cứ vào Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh;
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, đối tượng bảo hộ của quyền tác giả là những tác phẩm được tổ chức, cá nhân sáng tạo ra hoặc sở hữu. Các tác phẩm nhiếp ảnh thuộc một trong số những loại hình được liệt kê tại Điều 14 của Luật SHTT, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã quy định cứng về những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Theo Công ước Berne, Điều 2.1, các tác phẩm nghệ thuật có thể được biểu hiện theo bất kỳ phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác… ; các tác phẩm nhiếp ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự như nhiếp ảnh cũng như vậy. Như đã phân tích, để một tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ, trước hết, nó phải được định hình và tồn tại dưới dạng một loại hình nhất định, pháp luật không bảo hộ quyền tác giả tác phẩm nghệ thuật khi nó mới chỉ là ý tưởng sáng tạo.

3. Điều kiện đăng kí bảo hộ đối với tác phẩm nhiếp ảnh

Một tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ khi có đủ điều kiện sau đây:

–          Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

Khoản 3 Điều 14 Luật SHTT quy định, tác phẩm nhiếp ảnh phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Do đó, tác phẩm nhiếp ảnh phải do chính tác giả sáng tạo ra, không phải là sự sao chép từ tác phẩm khác.

Cá nhân, pháp nhân nước ngoài là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại trụ sở Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả hoặc Sở VHTTDL nơi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cư trú hoặc có trụ sở.

Sau khi đăng ký chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh theo quy định tại Điều 49 Luật SHTT, tác giả sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh. Đây không phải là thủ tục bắt buộc để hưởng quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh, chủ sở hữu có quyền đăng ký hoặc không đăng ký mà quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhiếp ảnh vẫn được bảo hộ theo nguyên tắc bảo hộ tự động. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh có ý nghĩa rất lớn đối với chủ sở hữu – người có giấy chứng nhận được pháp luật thừa nhận là chủ sở hữu tác phẩm nhiếp ảnh. Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh, tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký không có nghĩa vụ chứng minh tác phẩm nhiếp ảnh đó thuộc về mình.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Thời hạn bảo hộ quyền liên quan

Mặc dù việc bảo hộ quyền liên quan luôn gắn liền với việc bảo hộ quyền tác giả, tuy nhiên thời hạn bảo hộ quyền liên quan và quyền tác giả lại có sự khác biệt. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan không được phân tách thành thời hạn bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản riêng như thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Vậy, thời hạn bảo hộ quyền liên quan được quy định như thế nào, chúng tôi xin được làm rõ trong bài viết này.

1. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan theo một số điều ước quốc tế

Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng là những vấn đề quan trọng trong thế giới hiện đại ngày nay. Trong suốt thế kỷ 20 và 21, các quốc gia đã dần dần hình thành nên những nhận thức chung, thỏa thuận chung về việc bảo hộ này bằng cách ký kết các công ước, hiệp định và thành lập tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO. Riêng với vấn đề bảo hộ quyền liên quan, sự tồn tại của các công ước, hiệp định như Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ; Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) năm 1996 đã trở thành những khuôn mẫu quan trọng cho các quốc gia xây dựng pháp luật về bảo hộ quyền liên quan, trong đó có Việt Nam.

Chế định thời hạn bảo hộ quyền liên quan đã được nêu rõ trong những công ước, hiệp định nêu trên. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan được quy định trong các điều ước không giống nhau và theo thời gian, thời hạn bảo hộ quyền tác giả quy định trong các điều ước trên có sự thay đổi.

Theo Điều 14 của Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng, thời hạn bảo hộ quyền liên quan phải kéo dài ít nhất cho đến khi hết thời hạn là 20 năm kể từ khi kết thúc của năm mà:

  • Việc định hình bản ghi âm được thực hiện – đối với các bản ghi âm và đối với các buổi biểu diễn được định hình trong đó.
  •  Buổi biểu diễn được tiến hành – đối với các buổi biểu diễn không được định hình trong các bản ghi âm.
  • Buổi phát sóng được thực hiện- đối với các buổi phát sóng.

Bên cạnh đó, theo Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ ký kết năm 1971 quy định về thời hạn bảo hộ tại Điều 4, cụ thể như sau: “Thời hạn bảo hộ sẽ tuỳ thuộc vào pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết. Tuy nhiên, nếu luật pháp quốc gia quy định một thời hạn cụ thể cho sự bảo hộ này, thì thời hạn đó sẽ không ít hơn hai mươi năm kể từ khi kết thúc của năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc của năm mà bản ghi âm được công bố lần đầu.

Mặt khác, Khoản 5 Điều 14 Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ quy định về thời hạn bảo hộ đối với những người biểu diễn và sản xuất bản ghi âm phải kéo dài ít nhất là đến hết thời hạn 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà việc ghi âm hoặc buổi biểu diễn được tiến hành; thời hạn bảo hộ đối với tổ chức phát thanh, truyền hình phải kéo dài ít nhất là 20 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà chương trình phát thanh truyền hình được thực hiện.

Ngoài ra, Điều 17 của Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) năm 1996 cũng ghi nhận:

  • Thời hạn bảo hộ dành cho người biểu diễn phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 50 năm, tính từ khi kết thúc năm mà buổi biểu diễn đã được định hình trong bản ghi âm;
  • Thời hạn bảo hộ dành cho nhà sản xuất bản ghi âm phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 50 năm, tính từ khi kết thúc năm mà bản ghi âm đã được công bố, hoặc nếu không có việc công bố này trong vòng 50 năm kể từ khi định hình bản ghi âm thì thời hạn 50 năm được tính từ khi kết thúc năm mà việc định hình được thực hiện.

Qua những điều khoản trên, có thể thấy rõ sự thay đổi theo hướng tăng thời hạn bảo hộ quyền liên quan theo thời gian với mức tối thiểu là 50 năm đối với Hiệp định TRIPS năm 1994 và Hiệp định WPPT năm 1996. Sự thay đổi này gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, khi mà con người tìm ra cách để định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng trên những vật chất có độ bền chắc, tuổi thọ cao, không dễ hỏng hóc như trước và đi liền với sự phát triển của không gian mạng, nơi con người có thể lưu trữ thông tin một cách không giới hạn.

Hiện nay, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng đều quy định thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở mức 50 năm. Việt Nam hiện đang là thành viên của cả bốn điều ước quốc tế được phân tích nêu trên, do đó pháp luật Việt Nam quy định về thời hạn bảo hộ quyền liên quan không được mâu thuẫn với quy định của bốn điều ước đó.

2. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền liên quan được quy định tại Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

1. Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình.

2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố.

3. Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện.

4. Thời hạn bảo hộ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan.”

Theo quy định trên, có thể thấy rằng thời hạn bảo hộ của quyền liên quan được quy định không phân biệt giữa quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể nắm giữ quyền liên quan. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan cũng không kéo dài như quyền tác giả mà được giới hạn trong vòng 50 năm tính từ năm tiếp theo của năm buổi biểu diễn được định hình, bản ghi âm, ghi hình được định hình/công bố hoặc năm chương trình phát sóng được thực hiện. Thời gian kết thúc thời hạn bảo hộ đã được quy định  Quy định nêu trên hoàn toàn phù hợp, thống nhất với quy định tại các Điều ước quốc tế như Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp định TRIPS và Hiệp ước WPPT mà Việt Nam đã tham gia.

Trên đây là bài viết Thời hạn bảo hộ quyền liên quan”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng.

Những nội dung cơ bản của quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền liên quan được xây dựng dựa vào từng loại chủ thể quyền, bao gồm quyền của quyền của người biểu diễn đối với chương trình biểu diễn của họ, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với bản ghi âm, ghi hình của họ, quyền của tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng của họ. Nội dung của quyền liên quan cũng giống như quyền tác giả, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Để làm rõ hơn những nội dung cơ bản của quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam, chúng tôi xin được mang đến cho quý bạn đọc bài viết dưới đây.

1. Quyền của người biểu diễn

Quyền của người biểu diễn được quy định tại Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm:

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 5 Điều này;
  • Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn;
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.

Ngoài ra, Chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:

  • Sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
  • Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.

2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được ghi nhận tại Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:

  • Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình dưới dạng hữu hình.
  • Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của nhà sản xuất;
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.

Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:

  • Sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
  • Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.

3. Quyền của tổ chức phát sóng

Quyền của tổ chức phát sóng được ghi nhận tại Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:

  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng của mình dưới dạng hữu hình.

Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:

  • Sao chép chương trình phát sóng chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp chương trình phát sóng, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
  • Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản định hình chương trình phát sóng đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.

Trên đây là bài viết “Những nội dung cơ bản của quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, quyền tác giả, quyền liên quan nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ những người sáng tạo. Cùng với đó, một trong những băn khoăn lớn nhất của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là thủ tục, trình tự đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ những quy định pháp luật liên quan đến thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam.

1. Thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định pháp luật Việt Nam

Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, năm 2019 và năm 2022 (“Luật SHTT”) và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan sẽ được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Xác định loại hình tác phẩm sẽ được đăng ký bảo hộ quyền tác giả, đối tượng sẽ được đăng ký bảo hộ quyền liên quan

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan

Lưu ý: Hồ sơ phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng ngôn ngữ khác thì phải được dịch ra tiếng Việt (ngoại trừ tờ khai đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan phải được làm bằng tiếng Việt).

Sau khi hoàn thành bước 1, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người đại diện theo ủy quyền sẽ chuẩn bị hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan. Hồ sơ sẽ bao gồm những tài liệu sau:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả theo mẫu số 01, tờ khai đăng ký quyền liên quan theo mẫu số 02. Mẫu số 01 và mẫu số 02 được ban hành theo Thông tư số 08/2016/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 7 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt có đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; thời gian hoàn thành; tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; thông tin về cấp lại, cấp đổi (nếu có), cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong tờ khai. Tờ khai do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ.

  • Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan.
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.
  • Bản sao căn cước công dân/hộ chiếu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, người đại diện theo ủy quyền, người nộp hồ sơ.
  • Giấy cam đoan của tác giả.
  • Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định thành lập,… (trong trường hợp chủ thể đăng ký là pháp nhân, tổ chức).
  • Giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là người được ủy quyền.

Lưu ý: Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, hồ sơ nêu trên có thể được thay đổi, bổ sung đề phù hợp.

Bước 3: Nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng (gọi chung là “Cục Bản quyền tác giả”).

Bước 4: Theo dõi hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan đã được nộp

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp hồ sơ.

Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì Cục Bản quyền tác giả phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ.  

Bước 5: Sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Cục bản quyền

Trong trường hợp bị từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, người nộp hồ sơ cần sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo ý kiến của chuyên viên và nộp hồ sơ đã được sửa đổi, bổ sung

Bước 6: Nhận Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

Tổ chức, cá nhân phải nộp phí khi được nhận Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan. Mức phí được quy định tại Điều 4 Thông tư 211/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả.

2. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

          Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng xử lý những vụ việc liên quan đến bảo vệ quyền tác giả. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của chúng tôi.

Trên đây là bài viết Thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn. Trân trọng,

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Trên thực tế, việc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan diễn ra rất phổ biến và gây ra nhiều hậu quả cả về tài chính và uy tín của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan. Do vậy, việc tăng cường sự giám sát và trừng phạt những hành vi xâm phạm quyền tác giả trở thành một yêu cầu cấp thiết, giúp bảo vệ tài sản của chủ thể quyền và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Theo quy định tại Điều 225 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (“BLHS”), cá nhân, pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung phân tích Điều 225 BLHS quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

1. Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân

  • Khung hình phạt cơ bản: Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam i) với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng ii) hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng iii) hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
    • Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
    • Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
  • Khung hình phạt tăng nặng: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    • Có tổ chức;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
    • Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
    • Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

  • Khung hình phạt cơ bản: Pháp nhân thương mại nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam i) với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng ii) hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng iii) hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; iv) thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi được quy định tại điều này hoặc đã bị kết án về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.
    • Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
    • Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
  • Khung hình phạt tăng nặng: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm:
    • Có tổ chức;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
    • Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
    • Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
  • Hình phạt bổ sung: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng xử lý những vụ việc liên quan đến bảo vệ quyền tác giả. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả (phần 2)

Trong phần 1, chúng tôi đã trình bày về mức xử phạt vi phạm hành chính đối với một số hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định trong Nghị định 131. Trong phần 2, chúng tôi tiếp tục trình bày quy định về khung phạt tiền, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả.

2. Khung phạt tiền

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 131, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả đối với cá nhân là 250.000.000 đồng, đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.

3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

  • Hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện và hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc về quyền tác giả:
    • Hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả đang thực hiện là hành vi có tính chất kéo dài, đã và đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm và hành vi đó vẫn đang trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước (“Hành vi vi phạm đang thực hiện”).
    • Hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả đã kết thúc là hành vi được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và có căn cứ, thông tin chứng minh hành vi đã thực hiện xong trước thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm hành chính (“Hành vi vi phạm đã kết thúc”).
  • Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả là 02 năm.
  • Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả:
    • Đối với hành vi vi phạm đang thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
    • Đối với hành vi vi phạm đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
    • Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân do người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính chuyển đến thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Thời hiệu được bắt đầu tính tương tự như hành vi vi phạm đang thực hiện hoặc hành vi vi phạm đã kết thúc, được tính đến thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • Trong thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt của cơ quan có thẩm quyền thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể, chi tiết từ Điều 36 đến Điều 40d của Nghị định 131.

Để xác định người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cần xác định những tiêu chí sau: i) Điều khoản quy định về hành vi vi phạm; ii) Mức tối đa của khung tiền phạt; iii) Biện pháp khắc phục hậu quả. Sau đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xác định người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là người có quyền xử phạt loại hành vi vi phạm và có quyền phạt tiền lớn hơn hoặc bằng mức tối đa của khung tiền phạt và có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Ví dụ: Đối với hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau: Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

Đầu tiên, cần xác định ba tiêu chí: i) Hành vi này được quy định tại Điều 11 của Nghị định số 131; ii) Mức phạt tiền tối đa với cá nhân là 10.000.000 đồng và với tổ chức là 20.000.000 đồng; iii) Biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định số 131.

Như vậy, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là người có quyền xử phạt hành vi vi phạm quy định tại Điều 11, có quyền phạt tiền với cá nhân là 10.000.000 đồng và với tổ chức là 20.000.000 đồng và có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Những người có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp này bao gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chánh Thanh tra sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, Chánh Thanh tra bộ thuộc Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chánh Thanh tra sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở,  Chánh Thanh tra bộ thuộc Thanh tra Thông tin và Truyền thông, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, Cục trưởng Cục Tần số vô tuyến điện, Cục trưởng Cục Viễn thông, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Cục trưởng Cục Báo chí, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành.

5. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng xử lý những vụ việc liên quan đến bảo vệ quyền tác giả. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ bảo vệ quyền tác giả của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả (phần 2)”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,