Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Tác phẩm phái sinh là gì? Điều kiện để tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả?

Không thể phủ nhận rằng những tác phẩm văn học, thơ ca, âm nhạc, điện ảnh,…kinh điển cũng là một nguồn cảm hứng cho các tác giả sáng tác, thực hiện những tác phẩm phái sinh. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích khái niệm tác phẩm phái sinh và điều kiện để tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả.

1. Tác phẩm phái sinh là gì?

Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tác phẩm phái sinh được quy định là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác.

Căn cứ theo quy định nêu trên, các tác phẩm phái sinh từ một tác phẩm gốc bao gồm:

  • Tác phẩm dịch ra ngôn ngữ khác của tác phẩm gốc: là tác phẩm được dịch sang ngôn ngữ khác một cách sát nghĩa, không diễn đạt sai nội dung dựa trên nội dung của tác phẩm gốc.
  • Tác phẩm phóng tác: là tác phẩm phỏng theo tác phẩm gốc, nhưng có sự sáng tạo về nội dung, tư tưởng… Tác phẩm phóng tác thường mang sắc thái mới, khác biệt so với tác phẩm gốc.
  • Tác phẩm biên soạn: là việc tổng hợp thông tin, thu thập và chọn lọc các tài liệu tham khảo để viết lại thành một tác phẩm mới có sự trích dẫn những nguồn thông tin đã tham khảo.
  • Bản chú giải: là tác phẩm thể hiện quan điểm, lời bình của người soạn bản chú giải đó, giải thích ý nghĩa để làm rõ hơn nội dung trong tác phẩm gốc.
  • Tác phẩm tuyển chọn: được hiểu là một tập hợp các tác phẩm được lựa chọn bởi người biên soạn.
  • Tác phẩm cải biên: là tác phẩm được sáng tạo ra trên cơ sở tác phẩm gốc bằng cách thay đổi hình thức diễn đạt.
  • Tác phẩm chuyển thể: có thể hiểu là tác phẩm dựa trên tác phẩm gốc nhưng không làm thay đổi nội dung của tác phẩm gốc. Hiện nay, hình thức chuyển thể phổ biến là việc chuyển thể một tác phẩm văn học, câu chuyện… thành tác phẩm điện ảnh, phim truyền hình…

2. Điều kiện để tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả?

Tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả khi đáp ứng 04 điều kiện sau:

  • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc:
    • Theo khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
    • Các tác phẩm dùng để làm tác phẩm phái sinh bao gồm các phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Phải do tác giả làm tác phẩm phái sinh trực tiếp sáng tạo: Khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định tác phẩm phái sinh được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc: Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc. Trong trường hợp không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả (Trừ khi tác phẩm phái sinh thuộc các trường hợp tại Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Phải có dấu ấn riêng của tác giả tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là những tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc. Nên để tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì phải có tính sách tạo, mới mẻ và mang dấu ấn của tác giả sáng tạo ra tác phẩm phái sinh đó.

 3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Tác phẩm phái sinh là gì? Điều kiện để tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?

Nghệ thuật là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Các tác phẩm nghệ thuật âm nhạc và sân khấu thường được công chúng biết tới thông qua sự truyền tải của những người biểu diễn. Tuy nhiên, người biểu diễn không phải là người viết nên nội dung của tác phẩm mà chỉ là người thể hiện tác phẩm bằng những loại hình sân khấu khác nhau, bằng kỹ thuật, sự sáng tạo của cá nhân người biểu diễn đó. Nội dung của những buổi biểu diễn đó từ đâu mà có, không thể không nhắc đến công lao của các tác giả, người đã dành thời gian, công sức để sáng tạo nên những tác phẩm. Vậy, mối liên quan giữa người biểu diễn và tác giả như thế nào, trước khi biểu diễn một tác phẩm, người biểu diễn có cần phải xin phép tác giả hay không? Bài viết sau đây chúng tôi xin trình bày chi tiết về nội dung này.

1. Khái niệm về biểu diễn nghệ thuật và người biểu diễn

Các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ những loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương,…cho tới hiện đại như liveshow âm nhạc, các chương trình tạp kỹ,…đều không xa lạ với chúng ta hiện nay. Dưới góc độ luật pháp, theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Nghị định 79/2012/NĐ -CP, biểu diễn nghệ thuật được hiểu như sau:

Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn;” và

Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.”

Về người biểu diễn, người biểu diễn là tên gọi chung của những diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (Theo Khoản 1 Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ). Người biểu diễn là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền liên quan theo quy định của pháp luật.

2. Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?

Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một trong những quyền tài sản của tác giả, được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là người nắm giữ quyền “biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm”.

Do tác giả là người nắm giữ quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, những cá nhân, tổ chức muốn thực hiện biểu diễn tác phẩm phải xin phép tác giả và trả tiền bản quyền cho tác giả để được sử dụng quyền biểu diễn. Việc biểu diễn tác phẩm mà không xin phép tác giả, không trả tiền bản quyền cho tác giả là hành xâm vi phạm quyền tác giả theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ mà người biểu diễn không cần phải xin phép cũng như không phải trả tiền bản quyền cho tác giả. Tại Điểm g Khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả quy định “Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại” đối với tác phẩm đã công bố thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xử của tác phẩm. Ví dụ, việc biểu diễn tác phẩm tại buổi sinh hoạt tập thể tại trường học, khu dân cư, công ty không nhằm mục đích thương mại thì được phép biểu diễn mà không cần phải xin phép nhưng phải thông tin rõ ràng về tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm.

Đối với hành vi xâm phạm quyền cho phép biểu diễn tác phẩm trước công chúng, Điều 13 Nghị định 131/2013/NĐ-CP đã quy định chế tài xử phạt hành chính như sau:

Điều 13. Hành vi xâm phạm quyền cho phép biểu diễn tác phẩm trước công chúng

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn trực tiếp tác phẩm trước công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi biểu diễn tác phẩm thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này.”

Trên đây là mức phạt hành chính đối với cá nhân, nếu tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi cá nhân.

Trên đây là bài viết “Để biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật, người biểu diễn có phải xin phép tác giả không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Âm nhạc phát triển theo cùng với chiều dài lịch sử của xã hội, đây là công cụ thể hiện chính xác những mong muốn, nhu cầu, tình cảm của con người. Theo pháp luật quy định thì tác phẩm âm nhạc cũng được bảo hộ quyền tác giả, nhưng các quy định về bảo hộ cụ thể như nào mời bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây của VCD.

1. Hiểu tác phẩm âm nhạc là gì?

Tác phẩm âm nhạc là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và được quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Định nghĩa tác phẩm âm nhạc được quy định tại Điều 10 Nghị định số 22/2018 ngày 23 tháng 2 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật SHTT 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Cụ thể: “Tác phẩm âm nhạc quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn”.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả sẽ được bảo hộ kể từ khi mà tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Nghĩa là khi nào tác phẩm được tạo ra và con người có thể xác định được sự tồn tại của nó thì lúc này tác phẩm đó sẽ được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả. Do đó, đối với tác phẩm âm nhạc cũng vậy, khi nhạc sĩ chỉ mới sáng tạo ra giai điệu trong suy nghĩ của nhạc sĩ lúc này tác phẩm âm nhạc này chưa được bảo hộ. Chỉ khi nào, người nhạc sĩ tiến hành việc thể hiện tác phẩm đó dưới dạng hình thức vật chất nhất định (viết giai điệu, nốt nhạc vào giấy, thể hiện trên máy tính,…) thì quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc đó sẽ được phát sinh.

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có thể hiểu là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm âm nhạc do họ sáng tạo ra.

Trong đó, bao gồm các nội dung về xác lập, công nhân quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, quản lý, sử dụng, khai thác quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc chống lại các hành vi xâm phạm.

3. Điều kiện để tác phẩm âm nhạc được bảo hộ quyền tác giả

3.1. Điều kiện về tác phẩm âm nhạc để được bảo hộ quyền tác giả

  • Phải là loại hình tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định

Nếu giai điệu chỉ hình thành trong tâm trí người nhạc sĩ thì đó chưa phải là tác phẩm âm nhạc được bảo hộ, chỉ khi bài hát đó được thể hiện dưới dạng nốt nhạc, chữ viết trên giấy, hoặc trên máy tính, khi đó tác phẩm âm nhạc mới có điều kiện được bảo hộ quyền tác giả.

  • Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không gây hại cho quốc phòng, an ninh

Trong nội dung chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”.

3.2. Điều kiện của tác giả có tác phẩm âm nhạc được bảo hộ tại Việt Nam

  • Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam;
  • Tác phẩm thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam;
  • Tác phẩm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Vậy, khi đáp ứng được các điều kiện trên, thì tại thời điểm tác phẩm âm nhạc được thể hiện dưới dạng hình thức vật chất nhất định thì khi đó quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc được phát sinh.

Trên thực tế, có không hiếm những trường hợp đạo nhạc hoặc sao chép lời bài hát nhưng chính tác giả cũng không xử lý được vì họ không chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tác phẩm âm nhạc này. Vì lý do đó, đăng ký bảo hộ quyền tác giả là một trong những cách tốt nhất để bảo vệ tác phẩm, là bằng chứng vững chắc để xử lý các hành vi xâm phạm, đồng thời tạo lợi thế cho chủ sở hữu trong việc truy thu tiền bản quyền đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng trái phép tác phẩm âm nhạc của tác giả.

Trên đây là bài viết Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Tác phẩm có tên trùng với tác phẩm khác có được bảo hộ không ?

Trong thực tế, không khó để bắt gặp những sự trùng hợp trong tên gọi của các tác phẩm khác nhau, ví dụ như hai bài thơ cùng tên là “Đất nước” của tác giả Nguyễn Khoa Điềm và tác giả Nguyễn Đình Thi; bài hát “Chưa bao giờ” do ca sĩ Thu Phương biểu diễn và một bài hát khác cũng lấy tên “Chưa bao giờ” do ca sĩ Trung Quân biểu diễn; hay vụ việc trùng tên của các cuộc thi sắc đẹp như Hoa hậu Hòa bình Việt Nam giữa công ty Sen Vàng và công ty Minh Khang Việt Nam…Việc đặt trùng tên tác phẩm, dù vô tình hay hữu ý, đều mang lại những ảnh hưởng nhất định tới danh tiếng của tác giả và tác phẩm. Đặt dưới góc độ pháp luật về Sở hữu trí tuệ, liệu những tác phẩm có tên trùng với tác phẩm khác có được bảo hộ quyền tác giả không, hay nói cách khác, việc trùng tên có được coi là xâm phạm quyền tác giả hay không, chúng tôi xin được giải thích trong bài viết này.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam dưới góc độ quyền tác giả về bảo hộ tên tác phẩm

Theo Điều 19 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả có quyền đặt tên cho tác phẩm và có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản. Quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (Điều 20 Khoản 1 Nghị định 22/2018/NĐ-CP), nghĩa là đối với tác phẩm dịch, tên tác phẩm phải là tên gọi được dịch trực tiếp từ tên tác phẩm tiếng nước ngoài. 

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  •  Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

Bên cạnh đó, dựa vào nguồn gốc hình thành tác phẩm, tác phẩm gốc và tác phẩm phái sinh đều được bảo hộ quyền tác giả, với điều kiện việc tạo ra tác phẩm phái sinh không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Như vậy, theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ nêu trên, tên tác phẩm không phải một loại hình riêng biệt được bảo hộ quyền tác giả một cách độc lập. Pháp luật chỉ bảo hộ tổng thể đối với toàn bộ tác phẩm mà không bảo hộ tên tác phẩm riêng. Quyền tác giả không bảo hộ độc quyền đối với toàn bộ hoặc một phần tên gọi của tác phẩm, có nghĩa là khi một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì tên tác phẩm đó không phải chỉ duy nhất tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được sử dụng. Tên tác phẩm không phải được tác giả, người sở hữu quyền tác giả độc quyền sử dụng mà người khác có thể lấy tên tác phẩm của mình trùng hoặc có những từ ngữ, thành phần tương tự với tên đó.

Về bản chất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm mà không bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo được truyền tải trong tác phẩm. Có những trường hợp nhiều tác phẩm có ý tưởng, nội dung tương tự nhau nhưng có cách thể hiện khác nhau thì vẫn được coi là những tác phẩm riêng biệt và được bảo hộ. Trong trường hợp các tác giả tự sáng tác, triển khai các ý tưởng của mình trong cùng một chủ đề thì việc đặt tên trùng nhau là việc hoàn toàn có thể xảy ra và việc này không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

2. Giải pháp cho việc trùng tên tác phẩm

Dưới góc độ bảo hộ quyền tác giả, việc trùng tên tác phẩm là tình huống không hiếm gặp và không được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, trên thực tế, việc trùng tên tác phẩm trong một số trường hợp cũng tạo ra ảnh hưởng nhất định tới công chúng. Trong những trường hợp mà tên gọi tác phẩm trùng nhau gây ra những ảnh hưởng về lợi ích kinh tế cũng như danh tiếng của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và tác phẩm, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cần có những biện pháp thích hợp hơn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Việc trùng lặp tên tiếng Việt giữa hai cuộc thi sắc đẹp “Hoa hậu Hòa bình Việt Nam” giữa công ty Sen Vàng (chủ đầu tư của cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Việt Nam 2022 -Miss Grand Vietnam 2022) và công ty Minh Khang (chủ đầu tư của cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Việt Nam 2022- Miss Peace Vietnam) là một ví dụ cho thấy mặc dù việc trùng tên không phải là xâm phạm quyền tác giả nhưng vẫn dễ gây nhầm lẫn cho công chúng, ảnh hưởng tới danh tiếng và lợi ích kinh tế của chủ sở hữu quyền tác giả. Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, bên cạnh việc đăng ký quyền tác giả, các đơn vị tổ chức có thể suy xét thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với tên gọi của cuộc thi để nắm giữ quyền độc quyền khai thác, sử dụng tên gọi và ngăn cấm cá nhân, tổ chức khác sử dụng các tên gọi trùng với tên gọi của mình.

Vì vậy, để tránh sự trùng lặp tên gọi gây những phiền toái về sau này, trước khi đăng ký bản quyền, tác giả và chủ sở hữu nên kiểm tra, cân nhắc kỹ về tên gọi của tác phẩm. Trong trường hợp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả muốn độc quyền sử dụng tên gọi, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với tên gọi đó đồng thời với việc đăng ký quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Tác phẩm có tên trùng với tác phẩm khác có được bảo hộ không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Hiểu như nào là đúng về công bố tác phẩm?

Tác phẩm được xem như những đứa con tinh thần của tác giả, được tác giả bỏ thời gian, công sức trau chuốt để có thể hoàn thiện một cách hoàn mỹ nhất. Chính vì lẽ đó, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm đóng một vai trò rất quan trọng trong việc công nhận sự sáng tạo của người làm. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều đối tượng xấu, bất chấp hành vi phi đạo đức mà ăn cắp tác phẩm của người khác một cách tráo trở khi tác phẩm đó chưa được công bố. Vậy,Hiểu như nào là đúng về công bố tác phẩm, mời bạn đọc cùng VCD theo dõi bài viết dưới đây.

I. Công bố tác phẩm là gì? Thế nào là quyền công bố tác phẩm?

1. Công bố tác phẩm

Những tác phẩm chưa được công bố là những đối tượng dễ bị đánh cắp nhất vì chưa có ai tuyên bố quyền sở hữu của mình đối với các tác phẩm đó. Để dễ dàng chứng mình quyền sở hữu tác phẩm khi có tranh chấp, các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả nên công bố tác phẩm của mình tới công chúng sớm nhất có thể.

Hiểu theo cách thông thường, công bố tác phẩm là việc đưa ra công khai tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để cho mọi người biết dưới các hình thức như: xuất bản, trưng bày, biểu diễn, thuyết trình… hoặc đăng kí tác phẩm đó tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

2. Quyền công bố tác phẩm

Công bố tác phẩm là một trong những nội dung quan trọng của quyền tác giả. Tác giả trong trường hợp đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có toàn quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình. Khi công bố tác phẩm, tác giả còn có quyền lựa chọn hình thức, loại hình nghệ thuật thích hợp với tác phẩm đó.

Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là một trong những quyền nhân thân của quyền tác giả được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ.

Theo Khoản 2 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan quy định:

“Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.”

Có thể thấy rằng, dưới góc độ pháp luật về quyền tác giả, thuật ngữ “công bố tác phẩm” được diễn giải khác biệt so với cách hiểu thông thường. Theo đó, công bố tác phẩm được hiểu là việc phát hành bản sao tác phẩm đến công chúng, với số lượng hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả. Việc công bố tác phẩm phụ thuộc vào ý chí chủ quan của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, không phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện hay số lần tác phẩm được giới thiệu trước công chúng và có được công chúng biết tới hay chưa.

Như vậy, thời điểm công bố tác phẩm là thời điểm mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phát hành tới công chúng bản sao tác phẩm với số lượng hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng.

II. Ý nghĩa của việc công bố tác phẩm

Việc xác định một tác phẩm đã được công bố hay chưa có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả bởi những lý do dưới đây:

Thứ nhất, việc xác định một tác phẩm đã được công bố có nghĩa xác định thời điểm công bố tác phẩm đó. Thời điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm căn cứ tính thời hạn bảo hộ của tác phẩm.

Thứ hai, việc xác định tác phẩm đã được công bố xác định giới hạn lãnh thổ mà tác phẩm được bảo hộ bởi lẽ phạm vi bảo hộ quyền tác giả mang tính lãnh thổ.

Thứ ba, việc xác định tác phẩm đã được công bố xác định giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan. Giới hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan chính là các trường hợp sử dụng tác phẩm không cần xin phép, không cần trả tiền nhuận bút, thù lao được quy định tại Điều 25 và Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ 2022. Chỉ những tác phẩm “đã được công bố” mới có thể được áp dụng hai điều luật này.

Lao động nghiên cứu, sáng tạo là công cụ và sản phẩm của một môi trường văn hóa mà bất cứ hành vi phản văn hóa nào xảy ra trong môi trường văn hóa ấy đều bị phản đối. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả tốt nhất, những người sáng tạo nên đăng ký bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan cho tác phẩm của mình.

Trên đây là bài viết “Hiểu như nào là đúng về công bố tác phẩm”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Một số lưu ý về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Chương trình máy tính là một đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền tác giả như một tác phẩm văn học đối với chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam còn tồn tại những hạn chế, thách thức nhất định, không đạt được hiệu quả bảo hộ tối ưu. Để hiểu hơn về những điểm hạn chế về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính, bài viết xin đưa ra một số lưu ý về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính dưới góc độ thực tiễn sau đây.

1. Tính toàn vẹn của chương trình máy tính

Khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Đề giải thích rõ hơn về quy định trên, Khoản 3 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP đã nêu rõ: “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả”. Mặc dù quy định nêu trên giúp đảm bảo quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm nói chung, tuy nhiên đối với chương trình máy tính, việc áp dụng quy định này không đạt được hiệu quả như mong muốn bởi những lí do dưới đây.

Thứ nhất, chương trình máy tính có thể được thường xuyên cập nhật. Khác với các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả khác, chương trình máy tính được ứng dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất, làm việc của con người nên thường xuyên được cải tiến, nâng cấp với chu kỳ ngắn, trong vòng vài tháng hoặc một năm một lần. Bên cạnh đó, chương trình máy tính thường được tạo ra bởi nhóm lập trình viên, số lượng có thể từ vài người cho đến cả trăm người. Trong quá trình xây dựng, sáng tạo nên chương trình máy tính lẫn quá trình cập nhật phiên bản mới của chương trình máy tính, những người trực tiếp sửa chữa, thay đổi, sáng tạo những chức năng của chương trình máy tính có thể có sự thay đổi, không phải là những người ban đầu. Khi đó, nếu muốn thay đổi, nâng cấp chương trình, chủ sở hữu quyền tác giả phải có được sự đồng ý của tất cả đồng tác giả, gây nên sự phiền phức và rắc rối không nhỏ.

Thứ hai, có thể thấy rằng trong trường hợp tác giả (lập trình viên) không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả (nhà sản xuất chương trình máy tính), thì chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị hạn chế sự tự do thay đổi, cải tiến, nâng cấp chương trình máy tính để đưa ra thị trường. Các tác giả có thể sử dụng quyền bảo vệ toàn vẹn tác phẩm để ngăn cản chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện nâng cấp chương trình máy tính, ngăn cản những lập trình viên khác gia nhập thực hiện công việc chỉnh sửa, cải tiến chương trình máy tính. Trong khi đó, thông thường các lập trình viên làm việc theo hợp đồng lao động với nhà sản xuất chương trình máy tính, việc thay đổi người để chỉnh sửa, nâng cấp chương trình là sự thay đổi tất nhiên. Trên thực tế, trong thời đại công nghệ thay đổi nhanh chóng hiện nay, quy định này đã làm mất đi tính chủ động cũng như ưu thế tiên phong trên thị trường của chủ sở hữu quyền tác giả.

Quyền bảo vệ toàn vẹn tác phẩm là quyền nhân thân và không thể chuyển giao, tuy nhiên đối với đặc điểm kỹ thuật của chương trình máy tính, quy định của pháp luật Việt Nam như trên vẫn chưa đạt được sự hợp lý và hiệu quả thực tiễn.

2. Nội dung và dữ liệu đi kèm chương trình máy tính không được bảo hộ cùng với chương trình máy tính

Nội dung và dữ liệu của chương trình máy tính sẽ không được tự động bảo hộ đồng thời với việc bảo hộ chương trình máy tính. Trong trường hợp chương trình máy tính có bảo gồm dữ liệu, ví dụ như các nền tảng chỉnh sửa hình ảnh có sẵn những hình minh họa hoặc các họa tiết, hình họa để thêm vào hình ảnh của người sử dụng, hoặc các nền tảng đọc sách có chứa văn bản sách viết hoặc băn ghi sách nói,…thì chỉ bản thân chương trình máy tính đó được bảo hộ (mã nguồn hoặc mã máy) mà không bao gồm những dữ liệu đi kèm.

Như vậy, trường hợp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có nhu cầu bảo hộ chương trình máy tính kèm theo nội dung dữ liệu thì ngoài việc đăng ký bảo hộ chương trình máy tính, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần phải đăng ký quyền tác giả đối với nội dung và dữ liệu đi kèm dưới hình thức phù hợp.

3. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Thời hạn bảo hộ của chương trình máy tính không được quy định riêng mà nằm trong quy định chung tại Điểm b Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, chương trình máy tính có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Xét thấy tình hình thực tiễn thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin, việc quy định thời hạn bảo hộ như trên đối với chương trình máy tính là quá dài, không thực tế so với vòng đời sản phẩm chương trình máy tính. Quy định này có thể là rào cản cho sự sáng tạo, hạn chế sự cạnh tranh của những sản phẩm công nghệ.

4. Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định bảo hộ chương trình máy tính dưới dạng mã nguồn và mã máy. Việc quy định này mang tính khái quát cao song lại chưa có những quy định chi tiết, cụ thể hơn về việc bảo hộ các yếu tố bên trong một chương trình máy tính, cụ thể là cấu trúc của chương trình. Mặc dù trong quá trình xây dựng, cấu trúc cũng có thể thay đổi, tuy nhiên có những phần trong chương trình phản ánh cách tư duy sáng tạo cũng như thói quen sử dụng, mang dấu ấn riêng của tác giả, ví dụ như cách tổ chức, trình sự sắp xếp, menu lệnh, giao diện,… Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng chưa có sự phân loại chương trình máy tính thành các loại có chức năng, mục tiêu khác biệt nhau như hệ điều hành, phần mềm lập trình, phần mềm ứng dụng.

Trên đây là nội dung bài viết “Một số lưu ý về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính”. Bản Quyền Việt Nam hy vọng bài viết này có ích với bạn đọc.

Trân trọng.

Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Công nghệ thông tin đang thay đổi đời sống của con người từng ngày, từng giờ. Trong xu hướng phát triển của thế giới về công nghệ, những sản phẩm phần mềm, chương trình máy tính được làm ra ngày càng nhiều để đáp ứng những nhu cầu sản xuất, đời sống. Tuy nhiên, phần mềm máy tính có những đặc thù là dễ tiếp cận, phổ biến, dễ sao chép, vậy việc bảo hộ bản quyền của chương trình máy tính được thực hiện như thế nào? Chúng tôi xin cung cấp thông tin về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam cho bạn đọc thông qua bài viết dưới đây.

1. Chương trình máy tính là gì và được bảo hộ dưới hình thức nào?

Về định nghĩa chương trình máy tính, Khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

“Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.”

Chương trình máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, được ghi nhận tại Điểm g Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ. Tại Việt Nam, chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học mà không được bảo hộ dưới dạng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ ghi nhận chương trình máy tính là một trong những đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế.

Tuy nhiên, chương trình máy tính vẫn có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế trong trường hợp đặc biệt. Trong Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế được đính kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ban hành tại mục 5.8.2.5 hướng dẫn xác định đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế liên quan đến chương trình máy tính đã nêu rõ:

“Sáng chế liên quan đến chương trình máy tính là một dạng “sáng chế được thực hiện bởi máy tính”, cụm từ này nhằm chỉ các đối tượng liên quan đến máy tính, mạng máy tính hoặc các thiết bị lập trình được khác mà thoạt nhìn một hoặc nhiều dấu hiệu của đối tượng yêu cầu bảo hộ được thực hiện bởi (các) chương trình. Mặc dù chương trình máy tính thuộc danh mục các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nhưng nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ có đặc tính kỹ thuật và thực sự là một giải pháp kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật bằng một phương tiện kỹ thuật để tạo ra một hiệu quả kỹ thuật thì nó có thể được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.”

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chương trình máy tính được bảo hộ như là bảo hộ một tác phẩm văn học. Chương trình máy tính muốn được công nhận để được bảo hộ quyền tác giả cần phải thỏa mãn những tiêu chí cụ thể như sau:

Một là, tính nguyên gốc của tác phẩm. Tính nguyên gốc của tác phẩm được hiểu là tác phẩm được hình thành do chính sự lao động sáng tạo của tác giả, không sao chép của người khác. Tính nguyên gốc không đồng nhất với tính mới của tác phẩm. Hai chương trình máy tính của hai tác giả khác nhau mặc dù giống nhau nhưng vẫn được bảo hộ quyền tác giả nếu như tác giả của hai chương trình đó đã sáng tạo ra chúng một cách hoàn toàn độc lập, không sao chép của nhau.

Hai là, chương trình máy tính phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định. Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị định 22/2018/NĐ – CP, định hình là sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt. Bên cạnh đó, hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử cũng là được coi một dạng biểu hiện của tác phẩm1. Chương trình máy tính được viết bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau, cấu thành bởi các chữ viết và ký tự thường dùng trong văn bản viết và phần lớn được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Chương trình máy tính được bảo hộ dù ở dạng mã nguồn hay mã máy.

Ba là, tiêu chí về chủ thể của quyền tác giả. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của chương trình máy tính phải là một trong những đối tượng sau:

  • Tổ chức, cá nhân có quốc tịch Việt Nam; 
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; 
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Khi đáp ứng đủ ba điều kiện trên, chương trình máy tính được bảo hộ quyền tác giả tự động mà không phải tiến hành bất kì thủ tục nào. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không chủ động thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả sẽ gặp phải nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho việc chứng minh quyền sở hữu đối với chương trình máy tính. Bên cạnh đó, chương trình máy tính là đối tượng có giá trị kinh tế cao, để thuận lợi cho hoạt động chuyển nhượng, li-xăng quyền tác giả thì việc đăng ký quyền tác giả là điều kiện cơ bản nhất, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện giao dịch. Do đó các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả sớm nhất có thể.

Trên đây là nội dung bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính”. Bản Quyền Việt Nam hy vọng bài viết này có ích với bạn đọc.

Trân trọng.

 1Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 về Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Trong những năm gần đây, vấn đề sử dụng các tác phẩm có sẵn làm chất liệu để tạo ra các sản phẩm nghệ thuật mới đang gây ra nhiều tranh cãi và trăn trở cho các tác giả và cả những người sáng tạo nghệ thuật. Vậy trong những trường hợp nào, người sử dụng tác phẩm phải xin phép hay trả tiền cho tác giả và trường hợp nào thì không? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố của người khác không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.

1. Định nghĩa tác phẩm đã công bố theo Luật sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP về “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan”, tác phẩm đã công bố được hiểu là tác phẩm đã được phát hành đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả; việc công bố tác phẩm nêu trên không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố của người khác không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Theo quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2022 (“Luật SHTT”) các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

  • Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;
  • Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
  • Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này;
  • Sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu;
  • Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại;
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép bằng cách đăng tải lại trên báo, ấn phẩm định kỳ, phát sóng hoặc các hình thức truyền thông khác tới công chúng bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được trình bày trước công chúng trong phạm vi phù hợp với mục đích thông tin thời sự, trừ trường hợp tác giả tuyên bố giữ bản quyền;
  • Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phát sóng sự kiện nhằm mục đích đưa tin thời sự, trong đó có sử dụng tác phẩm được nghe thấy, nhìn thấy trong sự kiện đó;
  • Người khuyết tật nhìn, người khuyết tật không có khả năng đọc chữ in và người khuyết tật khác không có khả năng tiếp cận tác phẩm để đọc theo cách thông thường (sau đây gọi là người khuyết tật), người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật, tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ sử dụng tác phẩm theo quy định của Luật SHTT.

3. Những lưu ý khi sử dụng tác phẩm đã công bố của người khác không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Người sử dụng cần lưu ý những nội dung sau:

  • Việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm;
  • Việc sử dụng không được gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
  • Việc sao chép tác phẩm không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.

Trên đây là bài viết Sử dụng tác phẩm đã công bố của người khác không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm biên dịch

Đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay là sự giao thoa các nền văn hóa giữa các quốc gia, và vì thế, con người có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về tiếng nói, chữ viết, con người, các tác phẩm… của các nước khác ngày càng nhiều. Để việc nghiên cứu được dễ dàng hơn, các tác phẩm biên dịch dần dần được ra đời. Vậy, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm biên dịch như thế nào, hãy cùng VCD tìm hiểu về vấn đề này qua bài viết dưới đây.

1. Hiểu như thế nào là tác phẩm biên dịch?

Biên dịch là quá trình dịch văn bản viết bằng một ngôn ngữ nguồn sang một ngôn ngữ khác mà không làm mất đi ý nghĩa gốc ban đầu. Người biên dịch sẽ chuyển tải trung thực nội dung của một tác phẩm gốc từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác trong tác phẩm dịch. Việc biên dịch không phải là một công việc chuyển ngữ máy móc mà còn đòi hỏi người thực hiện phải biết cách vận dụng ngôn ngữ linh hoạt, am hiểu văn hoá của quốc gia sử dụng loại ngôn ngữ đó và có kỹ năng viết tốt để chuyển ngữ mượt mà, thu hút. Quá trình biên dịch mặc dù phải đảm bảo trung thực nhưng không hạn chế thể hiện tính sáng tạo của người biên dịch trong quá trình tư duy, vận dụng ngôn ngữ và đảm bảo trong khuôn khổ nội dung tác phẩm.

Tác phẩm biên dịch là tác phẩm được dịch từ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học từ các nền văn hóa khác nhau và được hình thành từ quá trình làm việc, tư duy, sáng tạo của người biên dịch.

2. Tác phẩm biên dịch có phải là tác phẩm phái sinh?

Tác phẩm biên dịch được coi là tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc. Theo Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh“là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”.

Một tác phẩm biên dịch là tác phẩm “phái sinh” từ tác phẩm gốc nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau:

  • Được hình thành dựa trên sự kế thừa từ một tác phẩm đã có;
  • Tác phẩm phái sinh không phải bản sao của tác phẩm gốc

Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng, vậy nên, trong nhiều trường hợp, hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc;

  • Có sự sáng tạo

Sự sáng tạo của tác phẩm biên dịch thể hiện ở việc lựa chọn, sắp xếp, sử dụng ngôn ngữ để thể hiện được nội dung cũng như tư tưởng, tình cảm của tác giả trong tác phẩm gốc; tác phẩm do dịch giả trực tiếp sáng tạo bằng sự lao động trí tuệ của mình mà không sao chép của người khác;

  • Dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh:

Cho dù tác phẩm phái sinh được sáng tạo nguyên gốc nhưng vẫn phải đảm bảo có dấu ấn của tác phẩm gốc. Có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung, cốt truyện, tuyến nhân vật… của tác phẩm gốc.

Tác giả tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ những nội dung có tính nguyên gốc do họ sáng tạo và tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để phái sinh. Việc tạo ra, khái thác, sử dụng tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc.

Vậy, với câu hỏi tác phẩm biên dịch có phải tác phẩm phái sinh không, thì câu trả lời ở đây là có thể, với điều kiện đáp ứng các dấu hiệu của tác phẩm phái sinh như đã trình bày ở bên trên.

3. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm biên dịch

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, tác phẩm biên dịch được bảo hộ với điều kiện như sau:  

  • Tác phẩm biên dịch phải do dịch giả (được coi là tác giả của tác phẩm phái sinh) trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
  • Chỉ chủ sở hữu quyền tác giả mới có quyền làm tác phẩm phái sinh, trong đó bao gồm tác phẩm dịch. Quyền làm tác phẩm phái sinh là một trong những quyền tài sản thuộc quyền tác giả, được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ). Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn làm tác phẩm biên dịch phải được sự đồng ý của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm ban đầu được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Quyền đặt tên cho tác phẩm không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (theo Khoản 1 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP). Do vậy, dịch giả không được phép tự đặt tên cho tác phẩm biên dịch mà phải sử dụng tên của tác phẩm gốc dịch sang ngôn ngữ của tác phẩm dịch và lấy đó làm tên của tác phẩm dịch.
  • Tác phẩm phái sinh không được gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Tại Khoản 2 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung 2009 quy định Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.   

4. Dịch vụ hỗ trợ bản quyền của VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của VCD.

Trên đây là bài viết “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm biên dịch”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền tác giả là gì? Những đối tượng nào được coi là chủ sở hữu quyền tác giả?

Trong đời sống xã hội, về nguyên tắc chủ thể nào tạo ra một vật thì sẽ có quyền sở hữu đối với vật đó, tuy nhiên từ thực tiễn cho thấy việc hình thành lên quyền sở hữu đối với một đối tượng nào đó thì sẽ có đa dạng các cách thức khác nhau với đa dạng các chủ thể có quyền sở hữu. Nhất là trong quyền tác giả, với đặc thù của mình, quyền tác giả có thể được xác lập quyền sở hữu đối với nhiều đối tượng khác nhau, vấn đề đặt ra là những đối tượng nào được coi là chủ sở hữu quyền tác giả? Bạn đọc hãy cùng Bản Quyền Việt Nam theo dõi bài viết “Quyền tác giả là gì? Những đối tượng nào được coi là chủ sở hữu quyền tác giả?” dưới đây.

1.Khái niệm quyền tác giả

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

  • Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
  •  Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Bên cạnh quyền nhân thân, quyền tác giả còn bao gồm quyền tài sản được pháp luật quy định, cụ thể:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 20 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ 2022;
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.

2. Đối tượng chủ sở hữu quyền tác giả

Căn cứ nội dung sửa đổi bởi khoản 11 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023 được sửa đổi, bổ sung Điều 36 Chủ sở hữu quyền tác giả như sau “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.” Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm toàn bộ quyền tài sản quy định tại khoản 1 điều 20 luật sở hữu trí tuệ 2005.

Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm những đối tượng cụ thể dưới đây:

  • Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
    • Trong trường hợp này, toàn bộ quyền nhân thân và quyền tài sản có được từ tác phẩm sẽ thuộc về tác giả.
    • Tác giả của một tác phẩm đồng thời được thừa nhận là chủ sở hữu của tác phẩm đó nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm mà không phải thực hiện theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng giao việc hoặc văn bản giao kết khác có giá trị tương đương.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
    • Đồng tác giả là những tác giả cùng tham gia sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả. Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và được hưởng các quyền của tác giả (bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản). Các đồng tác giả cũng có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm như tác giả thông thường. Trong trường hợp việc sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng từ cơ quan, tổ chức thì quyền tài sản thuộc về cơ quan, tổ chức giao việc, còn quyền nhân thân thuộc về các đồng tác giả.
    • Các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả tạo ra tác phẩm
    • Đây là trường hợp tác giả sáng tạo ra tác phẩm theo nhiệm vụ chuyên môn do cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc giao. Tác giả là thành viên thuộc cơ quan, tổ chức đó và nhận nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức nhưng không là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm. Trong trường hợp này, tác giả chỉ nắm giữ những quyền nhân thân thuộc quyền tác giả đối với tác phẩm.
    • Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm, nắm giữ, một, một số hoặc toàn bộ các quyền bao gồm các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, quyền cho phép người khác công bố tác phẩm.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng
    • Các cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả để tác giả tạo ra tác phẩm theo hợp đồng đã giao kết là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm đó.
    • Nếu chỉ một cơ quan, tổ chức hoặc một cá nhân giao kết hợp đồng đó thì chỉ riêng tổ chức hoặc cá nhân hoặc cơ quan đó là chủ sở hữu quyền tài sản đối với tác phẩm. Ngược lại, nếu có nhiều tổ chức hay nhiều cá nhân cùng giao kết một hợp đồng sáng tạo ra tác phẩm với tác giả thì sẽ là đồng chủ sở hữu đối với các quyền tài sản.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là người được thừa kế quyền tác giả
    • Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu tác phẩm đó. Trong đó, chỉ người nào được thừa kế quyền tác giả của người để lại thừa kế là chủ sở hữu mới là chủ sở hữu đối với tác phẩm được thừa kế.
    • Nếu có nhiều người thừa kế là chủ sở hữu đối với tác phẩm mà người để lại thừa kế không phân định phần quyền của mỗi người thì họ được xác định là đồng chủ sở hữu chung hợp nhất. Nếu người để lại thừa kế đã xác định cụ thể về phần quyền mà mỗi người thừa kế được hưởng thì mỗi người là chủ sở hữu đối với riêng phần quyền đó.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền
    • Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm theo thoả thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả là nhà nước

    Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm sau đây:
    • Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.
    • Tác phẩm được sáng tạo do cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu.
    • Tác phẩm được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Trên đây là nội dung bài viết Quyền tác giả là gì? Những đối tượng nào được coi là chủ sở hữu quyền tác giả”. Bản Quyền Việt Nam hy vọng bài viết này có ích với bạn đọc.

Trân trọng,