Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Đăng ký bảo hộ quyền tác giả cho các ứng dụng (App) như thế nào?

Trong thời đại công nghệ số ngày nay, các ứng dụng (App) đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người, từ việc mua sắm, thanh toán, cho đến giải trí và giáo dục. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành ứng dụng, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của những tác giả sáng tạo ra các phần mềm này cũng ngày càng trở nên quan trọng. Đăng ký bảo hộ quyền tác giả cho các ứng dụng không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức sản xuất và phát triển App, mà còn khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo trong ngành công nghệ. Vậy đăng ký bản quyền cho App như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Bản quyền App là gì?

App viết tắt của từ application dịch ra tiếng Việt là ứng dụng. Đây là một loại chương trình giúp các thiết bị như máy tính, điện thoại di động hoạt động và trực tiếp thực hiện một công việc theo mục đích của người sử dụng. Ví dụ các App như mua sắm, thanh toán, giải trí, game,…

Bản quyền hay còn gọi là quyền tác giả là một thuật ngữ của lĩnh vực Sở hữu trí tuệ. Bản quyền là quyền của tổ chức cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Các cá nhân, tổ chức nắm giữ bản quyền được quyền sở dụng cũng như khai thác các lợi ích liên quan đến tác phẩm. Do đó, pháp luật bảo hộ các quyền cơ bản của họ đối với tác phẩm.

Bản quyền ứng dụng (App) được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sáng tạo ra hoặc sở hữu hợp pháp đăng ký bản quyền để pháp luật bảo hộ các quyền của họ đối với App đó.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 1-anh-lien-quan-den-chu-de-359_Dang-ky-bao-ho-quyen-tac-gia-cho-cac-ung-dung-App-nhu-the-nao__.png

2. Đăng ký bản quyền cho các ứng dụng (App) như thế nào.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Như vậy, theo quy định của pháp luật việc đăng ký bản quyền cho App không phải tuân thủ bắt buộc. Ứng dụng này sẽ được tự động bảo hộ khi nó được sáng tạo ra và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Tuy nhiên để chủ động bảo vệ tài sản của mình trong trường hợp có tranh chấp xảy ra các tác giả, chủ sở hữu của App nên tiến hành đăng ký bản quyền cho App là căn cứ chứng minh hợp pháp.

Đăng ký bản quyền App bằng cách đăng ký quyền tác giả với mục đích nhằm xác nhận quyền sở hữu đối với tác phẩm được đăng ký nhằm tạo ra cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu của App.

Theo Điều 22 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành phần mềm máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả đối với phần mềm bao gồm quyền nhân thân (đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn của phần mềm) và quyền tài sản (sao chép, phân phối, chuyển nhượng, cho thuê). App chính là một loại hình tác phẩm trong đó phần mềm ứng dụng nằm trong các chương trình máy tính. Vậy neenm đăng ký bản quyền cho App cũng sẽ tượng tự như việc chuẩn bị hồ sơ đăng ký bản quyền phần mềm náy tính.

Hồ sơ đăng ký bản quyền cho App bao gồm:

  • CCCD của tác giả sáng tạo ra tác phẩm.
  • Đăng ký kinh doanh của công ty nếu chủ sở hữu thuộc về công ty..
  • 02 bản in mã code App.
  • 02 đĩa CD ghi tên tác phẩm.
  • Giấy ủy quyền nếu người nộp là người được ủy quyền.
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp hồ sơ nếu người nộp hồ sơ thụ hưởng quyền đó của người khác do được thừa kế, chuyển giao, kế thừa.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu nếu quyền tác giả liên quan đến thuộc sở hữu chung.
  • Ngoài ra còn có các tài liệu khác nhưu: Hợp đồng thuê thiết kế, quyết định giao việc, bản tuyên bố,… (nếu có).

Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ đăng ký bản quyền phần mềm tại Cục Bản quyền tác giả theo địa chỉ:

  • Phòng Thông tin Quyền tác giả –  Số 33 ngõ 294 Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội;
  • Văn phòng đại diện Cục Bản quyền tác giả – số 170 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, TP. HCM;
  • Văn phòng Đại diện Cục Bản quyền tác giả – Số 58 Phan Chu Trinh, Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng.

Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Cục Bản quyền tác giả hoặc qua đường bưu điện. Cục Bản quyền sẽ thẩm định hồ sơ để đảm bảo mã nguồn và các tài liệu kèm theo đáp ứng các yêu cầu về bảo hộ.

Sau khi hồ sơ được chấp thuận, Cục Bản quyền tác giả sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho phần mềm ứng dụng, giúp khẳng định quyền sở hữu hợp pháp của tác giả.

Trên đây là bài viết “Đăng ký bảo hộ quyền tác giả cho các ứng dụng (App) như thế nào? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Đăng ký bản quyền tác giả online như thế nào?

Tại Việt Nam, số lượng tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ngày càng tăng và đa dạng về thể loại cũng như hình thức. Mặc dù các tác giả ngày càng chú trọng đến việc bảo vệ tác phẩm của mình, nhưng nhiều người vẫn chưa nắm rõ các quy định pháp luật liên quan, dẫn đến việc không thể bảo vệ tác phẩm một cách toàn diện.Hiện nay, việc đăng ký bản quyền tác giả online mới chính thức được triển khai qua cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và đây là thủ tục bắt buộc trước khi nộp hồ sơ trực tiếp như thông thường. Vậy, đăng ký bản quyền tác giả online như thế nào? Hãy theo dõi bài viết của VCD dưới đây.

1. Đăng ký bản quyền tác giả là gì?

Đăng ký bản quyền tác giả là hoạt động nhằm đánh dấu quyền sở hữu của mình đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định không phân biệt nội dung, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã được công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm sẽ đồng nghĩa với việc tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với tác phẩm đó.

2. Chủ thể có quyền được đăng ký quyền tác giả.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: Đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.

Như vậy, những chủ thể được phép đăng ký quyền tác giả bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là những người hoặc tổ chức có liên quan đến việc sáng tạo tác phẩm, cụ thể gồm:

  • Tác giả chính là chủ sở hữu quyền tác giả;
  • Các đồng tác giả cũng có quyền sở hữu quyền tác giả;
  • Tổ chức hoặc cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc ký hợp đồng với tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả;
  • Người thừa kế quyền tác giả;
  • Người được chuyển nhượng quyền tác giả;
  • Nhà nước cũng có thể là chủ sở hữu quyền tác giả.

Theo các quy định trên, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tổ chức hoặc cá nhân Việt Nam, cũng như tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tại Việt Nam mà chưa từng được công bố ở quốc gia nào khác hoặc được công bố đồng thời trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu ở nước ngoài. Ngoài ra, tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo vệ tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cũng được bao gồm (Khoản 2 Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ).

Đăng ký bản quyền tác giả online

3. Đăng ký bản quyền tác giả online như thế nào?

Hiện nay theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ khi nộp hồ sơ đăng ký bản quyền bắt buộc phải nộp hồ sơ onilne trên Cổng dịch vụ công Quốc gia để lấy mã hồ sơ sau đó nộp offline bản cứng.

Khi tiến hành nộp hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả trực tuyến các cá nhân, tổ chức cần phải chuậ bị những tài liệu sau:

  • Bản tờ khai đăng ký đã được điền đầy đủ thông tin về tác giả, chủ sở hữu, và thông tin liên quan đến đối tượng đăng ký bản quyền tác giả (01 bản).
  • Bản sao tác phẩm dự kiến đăng ký bản quyền tác giả trực tuyến (02 bản).
  • Văn bản chứng minh quyền nộp đơn của tác giả (có thể là giấy cam đoan) hoặc của chủ sở hữu quyền tác giả (có thể là bản tuyên bố).
  • Văn bản đồng ý của các tác giả hoặc các chủ sở hữu trong trường hợp tác phẩm có hơn một tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Giấy ủy quyền (hoặc hợp đồng ủy quyền) nếu nộp hồ sơ đăng ký bản quyền trực tuyến thông qua đại diện.

Các bước để đăng ký bản quyền tác giả trực tuyến bao gồm:

Bước 1: Tạo tài khoản trên cổng dịch vụ công trực tuyến.

Bước 2: Đăng nhập vào tài khoản đã được cấp, truy cập vào trang của Cục bản quyền và chọn mục “Cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả”.

Bước 3: Nhập thông tin liên hệ cùng với thông tin cá nhân hoặc tổ chức nộp hồ sơ.

Bước 4: Nhập nội dung đăng ký và đính kèm các tài liệu hồ sơ cần thiết.

Bước 5: Chọn phương thức gửi và nhận hồ sơ đăng ký quyền tác giả.

Bước 6: Gửi hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả trực tuyến.

Trong trường hợp nộp hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả trực tuyến, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả không chỉ cần có chuyên môn và kinh nghiệm để tránh lãng phí thời gian và công sức trong quá trình kê khai, bổ sung và hoàn thiện hồ sơ. Sau khi nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, bạn vẫn cần phải gửi một bản hồ sơ giấy thông qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại Cục bản quyền. Quá trình này có thể tốn nhiều thời gian và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cấp Giấy chứng nhận.

Nhận thấy những khó khăn và vướng mắc mà người đăng ký thường gặp phải, VCD – tổ chức đại diện quyền tác giả được cấp phép và ghi nhận bởi Cục Bản quyền tác giả, hoạt động theo các quy định của Luật sở hữu trí tuệ, luôn sẵn sàng hỗ trợ và cung cấp dịch vụ đăng ký bản quyền tác giả cho tất cả các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước.

Trên đây là bài viết “Đăng ký bản quyền tác giả online như thế nào?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký quyền tác giả?

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, cơ hội để các tác phẩm được đến tay công chúng ngày càng nhiều, nhưng đi kèm với đó là những thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi và danh dự của tác giả. Liệu việc công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký quyền tác giả sẽ mang lại lợi ích lớn hơn? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1.Ý nghĩa của công bố tác phẩm

Theo khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đưa ra khái niệm: Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Trong đó tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm 17 loại được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 14 Luật này.

Việc công bố tác phẩm là việc đưa ra công khai tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để cho mọi người biết. Việc này có ý nghĩa đối với tác giả:

  • Khi công bố tác phẩm tác giả có thể bảo vệ toàn vẹn tác phẩm của nình, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Thể hiện sự tôn trọng và ghi nhận đóng góp của tác giả đối với sự phát triển của xã hội.
  • Tác phẩm được công bố sẽ trở thành nguồn tin, cảm hứng và giáo dục đến mọi người góp phần tạo điều kiện cho việc trao đổi, lan tỏa và phát triển kiến thức văn học và nghệ thuật.
  • Khuyến khích sự sáng tạo và nâng cao chất lượng của các tác phẩm. Việc công bố sẽ tạo ra sự cạnh tranh và hợp tác giữa các tác giả cũng như sự phản hồi và đánh giá từ công chúng. Điều này sẽ kích thích các tác giả không ngừng nghiên cứu, học hỏi, cải tiến và đổi mới để cho ra đời những tác phẩm hay và có giá trị hơn.
Công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký quyền tác giả

2. Công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký quyền tác giả?

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả đối với tác phẩm phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định không phân biệt đã công bố hay chưa công bố. Do đó, việc công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký không ảnh hưởng đến việc đăng ký quyền tác giả.

Trong đó tác phẩm đã công bố là tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả để phổ biến đến công chúng bản sao dưới bất kỳ hình thức với số lượng hợp lý. Và tác phẩm chưa công bố là tác phẩm chưa được phát hành hoặc được phát hành nhưng chỉ một số lượng người hạn chế biết.

Theo quy định của pháp luật quyền công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, đọc trước ciing chúng một tác phẩm văn học, phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật trưng bày các tác phẩm tạo hình, xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.

Quyền công bố là quyền nhân thân của tác giả là quyền gắn liền với cá nhân tác giả thuộc về riêng tác giả không thể tác rời, không thể chuyển giao cho người khác. Quyền nhân thân có liên quan mật thiết tới uy tín, danh dự, nhân phẩm,.. của tác giả.

Song, căn cứ theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành như sau:

Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm:

1. Đặt tên cho tác phẩm.

Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Theo quy định trên và theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm được xác dịnh là quyền nhân thân có thể chuyển nhượng được cho người khác – đối tượng sở hữu quyền công bố có thể trao đổi, giao dịch quyền này.

Dù được coi là quyền nhân thân, quyền công bố tác phẩm và cho phép người khác công bố tác phẩm lại chủ yếu liên quan đến khía cạnh “kinh tế, tài sản” hơn là các yếu tố về nhân thân, danh dự và uy tín cá nhân. Các tổ chức hoặc cá nhân khi khai thác và sử dụng quyền này đều phải xin phép và chi trả nhuận bút, thù lao cùng các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, quyền công bố tác phẩm có thể xem là quyền nhân thân duy nhất có mối liên hệ chặt chẽ với tài sản.

Như vậy, việc công bố tác phẩm liên quan rất nhiều đến lợi ích kinh tế và có ý nghĩa đối với tác giả và chủ sở hữu. Khi nào nên công bố tác phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có thể cân nhắc để lựa chọn thời gian công bố phù hợp với định hướng của mình.

Trên đây là bài viết “Công bố tác phẩm trước hay sau khi đăng ký quyền tác giả?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút – Ai là người có quyền đăng ký bản quyền?

Trong thời đại mà ý tưởng sáng tạo trở thành tài sản quý giá, việc phân định quyền tác giả giữa người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút đang thu hút sự quan tâm đáng kể. Mặc dù họ đều đóng góp quan trọng cho quá trình sáng tạo, nhưng quyền đăng ký bản quyền có thể không thuộc về cả hai. Điều này dẫn đến một câu hỏi lớn: Ai thật sự có quyền đăng ký bản quyền cho các tác phẩm sáng tạo? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái niệm người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút.

Người có ý tưởng sáng tạo là người có khả năng phát triển và đề xuất những ý tưởng mới độc đáo và có giá trị. Họ thường có khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, kết hợp các yếu tố và thông tin khác nhau.

Người chấp bút trong tiếng Anh được gọi là “ghostwriter” và được định nghĩa là “a person who write a book for another person, under whose name it is then published” có nghĩa là “người viết cuốn sách cho một người khác và sẽ xuất bản theo tên của người đã thuê họ viết ra cuốn sách đó. Có thể hiểu chấp bút có ý nghĩa là phụ trách viết. Trên thực tế hầu hết các tác phẩm ký tạo ra sẽ có người chắp bút. Người chắp bút này có nhiệm vụ là ghi lại lời kể ai đó để tạo ra cuốn sách.

Người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút - Ai là người có quyền đăng ký bản quyền

2. Người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút – Ai là người có quyền đăng ký bản quyền?

Chủ thể của mọi quyền lợi có hai đối tượng đó là thể nhân và pháp nhân. Trong đó chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân tuy nhiên khi nói đến tác giả thì không thể là pháp nhân mà chỉ có thể là thể nhân bởi thể nhân mới là người trực tiếp sáng tạo nên tác phẩm.

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một hoặc toàn bộ tác phẩm văn học nghệ thuật. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành quy định quyền tác giả chỉ phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một vật chất nhất định. Điều này có nghĩa nếu một người nghĩ ra ý tưởng nhưng ý tưởng đó chưa được thể hiện bằng một hình thức vật chất như bài viết, bản ghi âm, ghi hình,… thì tác phẩm chưa được hình thành vì thế chưa được pháp luật bảo hộ. Nói cách khác luật bản quyền không baro hộ tác phẩm khi chỉ là một sự sáng tạo trong ý tưởng mà pháp luật chỉ bảo hộ khi sự sáng tạo trong ý tưởng được thể hiện bằng một hình thức nhất định.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định các trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác và và tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. Theo đó cá nhân sử dụng vốn thời gian, tài chính và các điều kiện vật chất khác của mình trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm thì cá nhân đó vừa là tác giả vừa là chủ sở hữu quyền tác giả.

Pháp luật Sở hữu trí tuệ chưa có quy định về khái niệm của người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút. Nhưng có thể hiểu Người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút là những người hỗ trợ cho tác giả thực sự.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định: Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.

Như vậy dưới nhãn quan pháp lý, nếu người có ý tưởng sáng tạo và người chắp bút chỉ thực hiện cộng việc hỗ trợ cho tác giả trong việc tạo ra tác phẩm sẽ không được xem là tác giả hay đồng tác giả. Một cách rõ ràng hơn người chắp bút chỉ là người thực hiện ý tưởng của tác giả sáng tạo ra tác phẩm bởi một hình thức vật chất nhất định. Do đó, người có ý tưởng sáng tạo và người chắp bút không phải là người sáng tạo ra tác phẩm nên không được xem là tác giả.

Trong nhiều trường hợp, người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút không nhất thiết phải là tác giả của tác phẩm, nhưng nếu có thỏa thuận giữa các bên, họ vẫn có thể đứng tên là tác giả. Pháp luật không cấm việc người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút đăng ký quyền tác giả, tuy nhiên, họ sẽ không tự động được công nhận là tác giả trừ khi có thỏa thuận rõ ràng hoặc nếu họ là chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này có nghĩa là, nếu tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền cho người có ý tưởng sáng tạo hoặc người chấp bút thực hiện việc nộp hồ sơ đăng ký bản quyền, họ hoàn toàn có thể làm điều đó như bình thường. Tuy nhiên, việc đứng tên tác giả trong hồ sơ đăng ký bản quyền sẽ phải dựa trên sự đồng thuận và các điều khoản đã thỏa thuận giữa các bên liên quan. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các thỏa thuận pháp lý trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của từng cá nhân có liên quan đến tác phẩm.

Trên đây là bài viết “Người có ý tưởng sáng tạo và người chấp bút – Ai là người có quyền đăng ký bản quyền?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về việc xâm phạm sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng. Quyền tác giả không chỉ đảm bảo lợi ích cho tác giả mà còn thúc đẩy sáng tạo và phát triển văn hóa nghệ thuật trong xã hội. Tuy nhiên, việc xâm phạm quyền tác giả đặc biệt là hành vi chiếm đoạt đang diễn ra một cách tinh vi và phổ biến. Vậy, chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Khái niệm chiếm đoạt quyền tác giả.

Hành vi chiếm đoạt là việc xâm phạm quyền sở hữu bằng cách lấy trộm tài sản của người khác để sử dụng cho lợi ích cá nhân.

Quyền tác giả theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành là quyền của tổ chức cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Chiếm đoạt quyền tác giả được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn như dùng vũ lực, gian dối, trộm cắp, lạm dụng, tín nhiệm để làm cho quyền tác giả của một tác phẩm văn học, nghệ thuật,.. thuộc về sở hữu của mình một cách trái pháp luật.

Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

2. Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 quy định rõ những hành vi xâm phạm và chiếm đoạt quyền tác giả, nhằm bảo vệ quyền lợi của các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Dưới đây là những hành vi đó:

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
  • Xâm phạm quyền nhân thân, theo quy định tại Điều 19 của Luật.
  • Xâm phạm quyền tài sản, theo quy định tại Điều 20 của Luật.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật.
  • Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả.
  • Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ các thiết bị hoặc sản phẩm nhằm mục đích thương mại, khi biết hoặc có cơ sở để biết rằng chúng được sử dụng để vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả.
  • Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nếu biết hoặc có cơ sở để biết rằng điều đó gây xúi giục hoặc tạo điều kiện cho hành vi xâm phạm quyền tác giả.
  • Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, theo quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật.

Như vậy, chiếm đoạt quyền tác giả là hành vi xâm phạm bản quyền theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ.

Theo quy định của luật sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh tự động khi tác phẩm được sáng tạo ra, không phụ thuộc vào việc đăng ký. Điều này có nghĩa là tác giả có quyền bảo vệ tác phẩm của mình từ thời điểm nó được tạo ra, dù cho tác phẩm đó có được đăng ký hay không. Do đó, chiếm đoạt quyền tác giả vẫn được coi là hành vi vi phạm bản quyền, ngay cả khi tác phẩm chưa được đăng ký quyền tác giả.

Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả có vai trò quan trọng giúp củng cố bằng chứng về quyền sở hữu và giúp tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ quyền lợi của tác giả trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Nếu một người hoặc tổ chức khác chiếm đoạt tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả, hành động này vẫn là xâm phạm quyền tác giả và vi phạm bản quyền, bất kể có đăng ký hay không.

Theo Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả nói chung như sau: Trong vi phạm nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Như vậy, thẩm quyền xử lý đối với người chiếm đoạt quyền tác giả của người khác do cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp tùy theo tính chất của vụ việc để xử lý.

Trên đây là bài viết “Chiếm đoạt quyền tác giả có vi phạm bản quyền không khi chưa đăng ký quyền tác giả?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sáng tạo, quyền tác giả đã trở thành một chủ đề được quan tâm hàng đầu không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Việc bảo vệ quyền tác giả không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các tác giả trong nước mà còn tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường sáng tạo tại Việt Nam. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: Liệu cá nhân nước ngoài có thể đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài.

Bảo bộ quyền tác giả là những cách thức, biện pháp được cách thức, biện pháp được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, xác lập quyền đối với đối tượng và quyền tác giả tương ứng trước sự xâm phạm.

Theo nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài được chia làm hai trường hợp:

Tác phẩm bảo hộ theo quy định của Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, trường hợp này sẽ áp dụng quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để điều chỉnh việc bảo hộ quyền tác giả.

Hiện nay Việt Nam đang là thành viên của các Điều ước quốc tế: Công ước Bern, Hiệp định giữa Việt Nam và Hoa Kỳ,…

Trường hợp không có Điều ước quốc tế điều chỉnh. Việc bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được tiến hành trong các trường hợp sau:

  • Tác phẩm được công bố lần đầu tại Việt Nam.
  • Tác phẩm được công bố tại Việt Nam sau thời hạn 30 ngày kể từ khi tác phẩm được công bố ở các quốc gia khác.
Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

2. Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không?

Căn cứ theo khoản 1 và 2 Điều 38 Nghị định 17/2023 quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài không có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan trực tiếp qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 hoặc thông qua ủy quyền cho tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam.

Đồng thời căn cứ theo Điều 18 Nghị định 17/2023 quy định về Chủ sở hữu quyền tác giả như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại Điều 36 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam.

4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Từ những căn cứ trên thì cá nhân nước ngoài được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam. Ngoài ra chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt nam có thể nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

Theo khoản 3 Điều 38 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan như sau:

Nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan

3. Đại diện hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Trường hợp cá nhân đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: Người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo ủy quyền của cá nhân;

b) Trường hợp tổ chức đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: Người đại diện theo pháp luật của tổ chức hoặc người thuộc tổ chức được người đại diện theo pháp luật của tổ chức ủy quyền; tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo ủy quyền của tổ chức; người đứng đầu trụ sở, văn phòng đại diện hoặc đứng đầu chi nhánh tại Việt Nam nếu là tổ chức nước ngoài.

Do đó, người đại diện hợp pháp của cá nhân đăng ký quyền tác giả là:

  • Người đại diện hợp pháp của cá nhân.
  • Người đại diện theo ủy quyền của cá nhân.
  • Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả theo ủy quyền của cá nhân.

Hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả bao gồm:

  • Tờ khai đăng ký quyền tác giả.
  • Bản sao tác phẩm cần đăng ký.
  • Văn bản ủy quyền nếu người nộp hồ sơ là người được ủy quyền.
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Trường hợp trong tác phẩm có sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó theo quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết “Cá nhân nước ngoài có được đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam không? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

Chương trình truyền hình thực tế đã trở thành một hiện tượng văn hóa không thể thiếu trong đời sống giải trí hiện đại. Với những câu chuyện chân thực, tình huống bất ngờ và sự tham gia của các nhân vật thực tế, thể loại này thu hút hàng triệu khán giả mỗi ngày. Tuy nhiên, bên cạnh sự hấp dẫn đó, một vấn đề quan trọng lại ít được nhắc đến: quyền sở hữu trí tuệ và khả năng bảo hộ bản quyền cho các chương trình truyền hình thực tế. Vậy, Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Chương trình truyền hình thực tế là gì?

Truyền hình thực tế là thể loại chương trình truyền hình chú trọng vào việc phô bày các tình huống xảy ra không theo kịch bản diễn xuất với nội dung mang chất liệu thực tế mà không hư cấu.

Một chương trình thực tế thường được xây dựng dựa trên các yếu tố cấu thành sau:

  • Ý tưởng: Mỗi chương trình thực tế bắt nguồn từ một ý tưởng cơ bản có thể là một thử thách, một cuộc thi hoặc một khía cạnh sống hàng ngày mà nhàn sản xuất muốn khám phá.
  • Các tình huống và kịch bản: Dựa trên ý tưởng nhà sản xuất phát triển kịch bản và các tình huốn mà người tham gia sẽ phải đối mặt.
  • Thí sinh hoặc người tham gia: Đây là những người tham gia vào chương trình có thể là cá nhân, nhóm hoặc đôi. Họ được chọn dựa trên tiêu chí như kỹ năng, cá nhân tích cực hoặc khả năng tạo ra sự cạnh tranh.
  • Ban giám khảo hoặc đội ngũ hướng dẫn: Các cá nhân hoặc nhóm chuyên gia được chọn để đánh giá hoặc hướng vẫn các thí sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.
  • Quy tắc và luật lệ: Mỗi chương trình đều có các quy tắc và luật lệ cụ thể mà các thí sinh phải tuân thủ đảm bảo tính công bằng và an toàn cho mọi người tham gia.
  • Thử thách hoặc nhiệm vụ: các thí sinh phải đối mặt với các thử thách hoặc nhiệm vụ khác nhau để tiến xa hơn trong chương trình.
  • Quy trình sản xuất: Các yếu tố trên được tổ chức và quản lý thông qua một quy trình sản xuất chặt chẽ bao gồm việc lên kế hoạc, quay phim chỉ đạo và chỉnh sửa.

Ngoài ra căn cứ theo khoản 10 Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định: Chương trình phát thanh, chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc.

Do đó, chương trình truyền hình thực tế là tập hợp các tin, báo trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc.

Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

2. Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?

Bản quyền chương trình truyền hình thực tế được hiểu kịch bản lên kế hoạch ghi lại mọi chi tiết những yếu tố làm nên một chương trình gồm nhiều các khâu từ lúc lên kịch bản đến tiến hành tổ chức.

Đồng thời căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 6 nghị định 17/2023 quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm như sau:

Điều 6. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

6. Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung, được biểu hiện bằng hình ảnh động liên tiếp hoặc hình ảnh do các thiết bị kỹ thuật, công nghệ tạo ra; có hoặc không có âm thanh và các hiệu ứng khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.

Tác phẩm điện ảnh không bao gồm bản ghi hình nhằm mục đích phổ biến tin tức trên dịch vụ phát thanh, truyền hình, không gian mạng; chương trình biểu diễn nghệ thuật, trò chơi điện tử; bản ghi hình về hoạt động của một hoặc nhiều người, mô tả các sự kiện, tình huống hoặc chương trình thực tế.

Như vậy, chương trình thự tế là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định nêu trên. Việc đăng ký bản quyền chương trình truyền hình thực tế có nghĩa là thực hiện tuyên bố quyền sở hữu hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu đối với chương trình đó.

Hồ sơ đăng ký bản quyền đối với chương trình truyền hình thực tế bao gồm:

  • Bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc bản sao định hình đối tượng đăng ký quyền tác giả.
  • Căn cước công dân của tác giả.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức nếu chủ sở hữu thuộc về công ty.
  • Giấy ủy quyền nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là người được ủy quyền.
  • Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng thuê sáng tạo, được thừa kế hoặc được chuyển giao quyền.
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả nếu tác phẩm có đồng tác giả.
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.

Trên đây là bài viết “Chương trình truyền hình thực tế có được đăng ký bảo hộ bản quyền không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không?

Vấn đề bảo vệ quyền tác giả đang thu hút được nhiều sự chú ý hiện nay. Nhiều tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thường đặt ra câu hỏi liệu họ có quyền khởi kiện khi chưa đăng ký bản quyền cho tác phẩm của mình hay không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

Căn cứ theo Điều 56 Nghị định 17/2023/NĐ-CP và thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan. Theo đó, chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm:

Thứ nhất: Tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; người thừa kế hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm theo hợp đồng; người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát sóng;

Thứ hai: Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền.

Thứ ba: Cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.

Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không?

2. Không đăng ký quyền tác giả có đươc khởi kiện không?

Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ quy đinh về quyền tác giả, quyền liên quan thì quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được tạo ra  và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Do đó, khi bị xâm phạm quyền tác giả, tác giả hoặc chủ sở hữu có quyền khởi kiện khi chưa đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm. Tuy nhiên việc chứng minh mình là chủ sở hữu sẽ gặp khó khăn.

Bởi khi người khởi kiện khởi kiện một vụ án tranh chấp bản quyền thì người khởi kiện/ nguyên đơn đầu tiên phải chứng munh mình là chủ thể quyền sở hữu đối với tác phẩm. Nếu không chứng minh được hoặc các chứng cứ không được Tòa án chấp nhận thì xem như nguyên đơn đã thất bại trong vụ án bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan này.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì các chứng cứ để nguyên đơn chứng minh là chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm:

  • Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
  • Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.

Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật sở hữu trí tuệ quy định: Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình trừ khi có tranh chấp trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Hơn nữa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nhũng tình tiết, sự kiện đã được xác định trong Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh là thông tin về chủ sở hữu tác phẩm, tác giả của tác phẩm,…

Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, thì theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 6, Điều 12a, Điều 13, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 198a Luật SHTT hiện hành; Điều 59, Khoản 3 Điều 65 Nghị định 17/2023 các chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan có thể là:

  • Bản gốc hoặc bản sao tác phẩm với tên chủ thể quyền.
  • Tài liệu chứng minh bạn là người trực tiếp tạo ra tác phẩm.
  • Các tài liệu từ cơ sở dữ liệu máy tính ghi nhận quá trình tạo tác phẩm.
  • Văn bản giao việc cho tác giả hoặc hợp đồng thuê tác giả.
  • Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, hoặc các tài liệu liên quan đến việc công bố, phân phối tác phẩm.

Tuy nhiên theo quy định của Điều 94 và Điều 108 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì các tài liệu như nêu trên chỉ được xem là nguồn của chứng cứ và phải được Tòa án đánh giá tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng tài liệu này khi giải quyết tranh chấp; và do vậy các tài liệu này có thể được chấp nhận là chứng cứ để chứng minh rằng nguyên đơn là chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan trong vụ tranh chấp.

Từ những căn cứ trên cho thấy Giấy chứng nhận quyền tác giả không phải là tài liệu bắt buộc để khởi kiện tuy nhiên, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên đăng ký bản quyền để bảo vệ quyền tác giả đặc biệt là trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.

Trên đây là bài viết “Không đăng ký quyền tác giả có được khởi kiện không? ” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?

Trong lĩnh vực điện ảnh, sự sáng tạo và tâm huyết của các nhà sản xuất, đạo diễn và diễn viên là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt trong thời địa số hóa hiện nay nơi thông tin và nội dung dễ dàng được chia sẻ và tiếp cận, việc bảo vệ bản quyền trở thành một thách thức lớn đối với ngành công nghiệp điện ảnh. Tình trạng quay lén, chụp ảnh trong các rạp chiếu phim sau đó đăng lên các trạng mạng xã hội ngày càng phổ biến. Vậyquay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không? Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn.

1. Quay lén có phải là hành vi sao chép hay không?

Quay lén phim trong rạp là hành vi sử dụng các thiết bị ghi hình, ghi âm (như camera, microphone) để ghi lại hình ảnh, âm thanh của tác phẩm điện ảnh mà không có sự đồng ý và thông báo trước.

Căn cứ theo khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đưa ra khái niêm về sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Ngoài ra theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hành vi sao chép tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trừ trường hợp để nghiên cứu cá nhân thì được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Đồng thời căn cứ theo Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình cho thấy hành vi này được xem xét là một hình thức sao chép tác phẩm ghi hình vì nó tạo ra một bản sao khi chưa được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, việc livestream hoặc quay lén phim tại rạp chiếu không chỉ vi phạm quyền tác giả mà còn gây thiệt hại cho nhà sản xuất. Các hành vi này thường bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và có thể bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật hiện hànhtùy vào mức độ và thiệt hại mà nhà sản xuất phải đối mặt.

Do đó hành vi quay lén phim trong rạp được xem là hành vi xâm phạm bản quyền.

Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?

2. Mức xử phạt đối với hành vi quay lén phim trong rạp.

  • Theo Điều 27 Nghị định 131/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP) quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

“1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép bản ghi âm, ghi hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định về khung phạt tiền với cá nhân và tổ chức như sau:

Khung phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là khung phạt tiền áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 5; Khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều 7 Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm, khung phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần khung phạt tiền đối với cá nhân.

Như vậy, việc quay lén phim chiếu rạp thì có thể bị phạt lên tới 35.000.000 đồng với cá nhân và 70.000.000 đồng với trường hợp là tổ chức. Đồng thời phải bị buộc dỡ các bản quay lén hoặc tiêu hủy toàn bộ tang vật tùy vào từng trường hợp

  • Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm a khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) người có hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

“1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.”

Do đó, hành vi quay lén phim chiếu rạp có thể bị phạt tiền lên đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Như vậy, quay lén phim chiếu rạp lên mạng xã hội thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là bài viết “Quay lén phim trong rạp có vi phạm bản quyền không?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?

Ngày nay, quyền tác giả đã trở thành một vấn đề thiết yếu trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không chỉ là một tài liệu pháp lý mà còn là công cụ giúp các tác giả khẳng định quyền sở hữu đối với tác phẩm của mình. Tuy nhiên, quá trình xin cấp Giấy chứng nhận này không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhiều đơn xin cấp Giấy chứng nhận đã bị từ chối cấp. Bài viết của VCD dưới đây sẽ giúp bạn hiểu “Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?”.

1. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả hay còn gọi là bản quyền là độc quyền của tác giả đối với tác phẩm của chính họ. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm đó được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ mà không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Quyền tác giả là sự xác nhận của cơ quan chức năng đối với các sản phẩm trí óc do con người bỏ chất xám và kỹ năng của mình để tạo ra. Sự xác nhận này bảm đảm rằng người tạo ra sản phẩm đó được toàn quyền sử dụng tác phẩm của mình cho mục đích kinh tế và bất kỳ ai muốn sử dụng tác phẩm với mục đích thương mại phải được sự cho phép của họ. Nếu không có sự đồng ý mà sử dụng tác phẩm không phải so mình sáng tạo ra sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Do đó, Giấy chứng nhận quyền tác giả được hiểu là văn bản do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả. Trên Giấy chứng nhận quyền tác giả sẽ bao gồm các nội dung sau:

  • Tên tác phẩm.
  • Loại hình tác phẩm.
  • Tên, địa chỉ, quốc tịch, số chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ( Số giấy đăng ký kinh doanh nếu chủ sở hữu là tổ chức).
  • Sổ và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?

2. Các trường hợp bị từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 39 Nghị định 17/2023/ND-CP cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Không đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 38 Nghị định này về chủ thể và đối tượng đăng ký.

Trường hợp 2: Hồ sơ đăng ký không hợp lệ

Trong vòng 01 tháng kể từ ngày tiếp nhận Hồ sơ, Cục bản quyền tác giả sẽ xem xét hình thức đơn có hợp lệ không và sẽ có thông báo bằng văn bản thông qua thông tin liên lạc người nộp hồ sơ lưu lại nếu có sai sót về hồ sơ:

  • Chưa đăng ký lấy mã hồ sơ trên cổng dịch vụ công quốc gia.
  • Hồ sơ không đúng mẫu, sai chính tả, tẩy xóa,…
  • Tài liệu đính kèm thiếu hoặc không phù hợp.
  • Đơn không mô tả tác phẩm, thiếu thông tin, không ghi rõ đối tượng đăng ký,….

Trường hợp 3: Phát hiện tác phẩm có hình thức và nội dung vi phạm các quy định của Hiến pháp, Pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước.

Trường hợp 4: Phát hiện tác phẩm đang có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và chưa có quyết ffinhj có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trường hợp 5: Hết thời hạn quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền không nhận được hồ sơ hợp lệ hoặc hồ sơ đã nộp vẫn không hợp lệ. Do đó theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 38 Nghị định này quy định trong thời hạn tối đa 01 tháng tổ chức, cá nhân kể từ ngày nhận được thông báo để sửa đổi, bổ sung trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật phải bổ sung đầy đủ hồ sơ.

Vì vậy, khi nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, các tổ chức và cá nhân cần lưu ý các điều kiện cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận. Đồng thời, họ cũng phải tuân thủ các quy định về thời hạn bổ sung hồ sơ để tránh việc bị từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.

3. Dịch vụ tư vấn liên quan đến hồ sơ và thủ tục dăng ký bản quyền tác giả của VCD.

Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam (VCD) tư vấn các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

  • Tư vấn hồ sơ, thủ tục, soạn thảo các văn bản, giấy tờ gửi tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Tư vấn giải quyết tranh chấp bản quyền.
  • Tư vấn chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Đại diện tham gia tố tụng các vấn đề về bản quyền.
  • Hợp tác khai thác quyền tác giả, quyền liên quan.

Bản quyền Việt Nam với sứ mệnh thực hiện việc bảo vệ bản quyền tác giả, đem lại những tác động tích cực cho môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bản quyền, trở thành hình mẫu doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong việc chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông tin trong việc bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Vì sao đơn xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị từ chối?” mà VCD gửi đến bạn. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,