Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Quyền tác giả có phải được bảo hộ không giới hạn về không gian và thời gian hay không?

Mỗi một tác phẩm từ khi được định hình là đã được bảo hộ tự động quyền tác giả, tuy nhiên, tác phẩm đó liệu có được bảo hộ ở mọi nơi trên thế giới hay không, và thời gian bảo hộ có phải là vĩnh viễn hay không? Để trả lời cho câu hỏi này, mời các bạn đón đọc bài viết của chúng tôi.

1. Bảo hộ quyền tác giả về không gian

Việc bảo hộ quyền tác giả không giống nhau trên toàn thế giới mà phạm vi bảo vệ dành cho các tác giả, chủ sở hữu phụ thuộc và luật pháp của các quốc gia quy định và chỉ được tính trong lãnh thổ của quốc gia đó. Mỗi quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền tác giả riêng biệt. Tác phẩm sáng tạo chỉ được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý được quy định bởi pháp luật về quyền tác giả của một quốc gia nhất định.

Quyền tác giả không đương nhiên có giá trị tại quốc gia khác, trừ khi các quốc gia cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền đó. Điều này có thể hiểu là, một tác phẩm được bảo hộ ở quốc gia A không đồng nghĩa với việc nó được bảo hộ ở quốc gia B, trừ trường hợp hai quốc gia A và B có hiệp định thỏa thuận chung về vấn đề bảo hộ tác phẩm ở cả hai nước này. Khi đó, phạm vi không gian mà quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó được bảo hộ sẽ được mở rộng ra tất cả các quốc gia thành viên, ví dụ như tác phẩm sinh ra tại một quốc gia thành viên tham gia Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật thì đều được bảo hộ tại các quốc gia thành viên khác.

Mặt khác, mặc dù có hiệp định hay thỏa thuận chung, việc bảo hộ quyền tác giả ở các nước tham gia hiệp định cũng không hoàn toàn tương tự nhau, ví dụ có sự khác biệt về thời hạn bảo hộ, hay quy định về mức phạt các hành vi vi phạm,…

2. Bảo hộ quyền tác giả về thời gian

Về thời hạn bảo hộ quyền tác giả, có hai hình thức bảo hộ là vô thời hạn và có thời hạn, được phân chia theo quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền tác giả.

Trong đó, các quyền nhân thân gắn liền với tác giả là các quyền được bảo hộ vô thời hạn, bao gồm: Đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Quyền tác giả là quyền tài sản chỉ được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định mà không được bảo hộ vĩnh viễn, ví dụ như quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm,…Bên cạnh đó, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm tuy là quyền nhân thân nhưng lại gắn với lợi ích kinh tế nên cũng được bảo hộ có thời hạn. Trong thời gian đó, các tác giả được hưởng các độc quyền đối với tác phẩm của mình.

Với mỗi tác phẩm khác nhau thì sẽ có những quy định thời hạn khác nhau. Quyền tác giả chỉ có hiệu lực trong thời gian bảo hộ, sau khi hết thời hạn thì tác phẩm thuộc về công cộng và được sử dụng tự do nhưng cần được tôn trọng sự toàn vẹn của tác phẩm cũng như tên tác giả. .

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả có phải được bảo hộ không giới hạn về không gian và thời gian hay không?” . Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?

Tác giả thường là người nắm giữ quyền tác giả đối với tác phẩm, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định như thông qua hợp đồng chuyển giao quyền, hợp đồng sáng tạo,… tác giả chỉ nắm giữ quyền nhân thân mà không còn nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm. Quyền tài sản đó thuộc về một chủ thể khác, được gọi là chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy, tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả còn có những quyền nào đối với tác phẩm? Sau đây, chúng tôi xin được làm rõ thông qua bài viết.

1. Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Theo quy định tại Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả được hiểu là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm, trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.

Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến một tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra sản phẩm đó. Căn cứ vào mối liên quan trong quá trình tạo ra tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả được phân thành hai loại: chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả.

Đối với chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, căn cứ theo quy định tại Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ, khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm thì họ sẽ được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả.

Trên thực tế, có một số trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, cụ thể như sau:

  • Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả tạo ra tác phẩm, trong đó bao gồm tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ và tác phẩm được tạo ra ngoài khuôn khổ nhiệm vụ;
  • Cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả;
  • Người được thừa kế quyền tác giả;
  • Người được chuyển giao quyền;
  • Nhà nước;
  • Công chúng.

2. Quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

2.1. Quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Trong trường hợp tác giả không là chủ sở hữu quyền tác giả thì tác giả chỉ có các quyền nhân thân không thể chuyển dịch, cụ thể như sau:

  • Được hưởng nhuận bút;
  • Được hưởng thù lao tác phẩm được sử dụng;
  • Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ;
  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Đứng tên (thật hoặc bút danh) trên tác phẩm; được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Cụ thể là không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

2.2. Giới hạn quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu có thể có một số hoặc toàn bộ quyền tài sản đối với tác phẩm. Trong trường hợp toàn bộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản đều thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả không được phép/không có quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện:

  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

3. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phải làm gì khi bị xâm phạm quyền tác giả

Khi tác giả chủ không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phát hiện tác phẩm của mình bị xâm phạm quyền tác giả, tác giả có thể thực hiện những việc dưới đây để bảo vệ quyền tác giả:

  • Thông báo tới chủ sở hữu quyền tác giả hiện thời và thống nhất phương án giải quyết phù hợp;
  • Thông báo, yêu cầu bên xâm phạm quyền phải chấm dứt ngay hành vi xâm phạm tới quyền của mình;
  • Khởi kiện lên Tòa án;
  • Liên hệ với cá nhân/tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý để được tư vấn về trình tự, thủ tục và hướng giải quyết khi bị xâm phạm quyền.

5. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm của  Công ty Phát triển Bản quyền Việt Nam VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và các tranh chấp, yêu cầu của khách hàng về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm nói riêng. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ của VCD.

Trên đây là bài viết “Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật ?

Quyền tác giả đối với tác phẩm là một loại tài sản trí tuệ, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quyền tác giả có thể được chuyển giao và trở thành di sản thừa kế, bao gồm quyền tài sản và một phần quyền nhân thân nhất định. Do quyền tác giả gắn với tên tuổi, bản thân tác giả nên không phải quyền nhân thân nào cũng được chuyển giao cho người thừa kế. Vậy Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào? Bài viết sau đây chúng tôi sẽ làm rõ.

1. Quyền tác giả

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2. Người thừa kế quyền tác giả

Người thừa kế quyền tác giả là người được hưởng các quyền tài sản và một phần quyền nhân thân của của tác giả theo quy định của pháp luật theo hàng thừa kế và diện thừa kế, được tác giả cho phép hưởng qua hình thức di chúc một cách hợp pháp được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó đối tượng hưởng quyền thừa kế quyền tác giả được xác định là cá nhân, và tổ chức, tuy nhiên tổ chức chỉ được thừa kế quyền tác giả theo hình thức di chúc.

3. Quyền của người thừa kế quyền tác giả

Căn cứ Điều 40 Luật Sở hữu trí tuệ thì tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ. Với tư cách là chủ sở hữu quyền tác giả, người thừa kế có những quyền như sau:

Quyền nhân thân

Người thừa kế quyền tác giả có quyền công bố tác phẩm và cho phép người khác công bố tác phẩm. Sở dĩ người thừa kế quyền tác giả được hưởng những quyền nhân thân này vì đây là quyền nhân thân nhưng có giá trị kinh tế. Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm còn liên quan trực tiếp đến việc khai thác các lợi ích kinh tế từ tác phẩm, là tiền đề để chủ thể có thể thực hiện được các quyền tài sản như biểu diễn, sao chép, phân phối, truyền đạt… tác phẩm. Nó gắn liền với yếu tố kinh tế, tài sản nhiều hơn so với yếu tố nhân thân, danh dự, uy tín của cá nhân. Khi tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả, ở đây là người thừa kế quyền tác giả.

– Các quyền tài sản

  • Làm tác phẩm phái sinh, theo đó tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng, cụ thể người thừa kế quyền tác giả biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

4. Những cách thức giải quyết khi người thừa kế bị xâm phạm quyền tác giả

Trong trường hợp bị xâm phạm quyền tác giả, người thừa kế là chủ sở hữu quyền tác giả có thể thực hiện một số biện pháp như sau:

  • Khi phát hiện quyền của mình bị xâm phạm, người thừa kế cần thông báo, cảnh báo đối với cá nhân, tổ chức đã xâm phạm, yêu cầu chấm dứt ngay hành vi xâm phạm.
  • Trong trường hợp không giải quyết được bằng cách nêu trên thì người thừa kế có thể khởi kiện cá nhân, tổ chức vi phạm tới Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
  • Liên hệ với cá nhân/tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý để được hỗ trợ, tư vấn đề cách thức giải quyết.

5. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm của  Công ty Phát triển Bản quyền Việt Nam VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và các tranh chấp, yêu cầu của khách hàng về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm nói riêng. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ của VCD.

Trên đây là bài viết Người thừa kế quyền tác giả có những quyền nào theo quy định của pháp luật?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Ngành công nghiệp bản quyền ngày càng phát triển, những tác phẩm được sáng tạo ra không chỉ mang những giá trị tinh thần cho xã hội mà còn đem lại những lợi ích về kinh tế. Những tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cần nắm rõ nội dung cơ bản của pháp luật về quyền tác giả để có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Vậy, nội dung cơ bản về quyền tác giả được quy định thế nào?

I. Quyền tác giả là gì?

1. Khái niệm quyền tác giả

Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Như vậy, quyền tác giả bao gồm những quyền cụ thể mà pháp luật trao cho tác giả hay chủ sở hữu của một tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Sao chép, điều chỉnh hay truyền tải, phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng và việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm.

2. Đặc điểm của quyền tác giả

  • Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả là sản phẩm của hoạt động sáng tạo tinh thần, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
  • Thứ hai, quyền tác giả thiên về bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng sáng tạo.
  • Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động.
  • Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối.

II. Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.” Như vậy, có thể thấy, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

1. Quyền nhân thân

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm: Tên gọi của tác phẩm phần nào thể hiện dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo, hơn hết tác phẩm là sáng tạo tinh thần của tác giả nên quyền đặt tên luôn gắn liền với tác giả và không thể dịch chuyển sang người khác. Tuy nhiên, quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
  • Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm: tác giả, các đồng tác giả là những chủ thể được phép đứng tên trên tác phẩm. Quy định này nhằm đảm bảo hơn cho quyền lợi của các đồng tác giả đối với thành quả lao động trí tuệ của mình.
  • Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm: là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả. Tuy nhiên, những sửa đổi mang tính kỹ thuật khi trình bày tác phẩm mà không làm ảnh hưởng đến nội dung, tư tưởng, hình thức thể hiện của tác phẩm thì không cần phải được sự cho phép của tác giả, không vi phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm.

2. Quyền tài sản

  • Quyền làm tác phẩm phái sinh: Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền làm tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Khoản 3 Điều 20, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung năm 2022. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
  • Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Quyền sao chép tác phẩm: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.
  • Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: là việc  chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
  • Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng: là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng thông qua phương tiện kỹ thuật nhất định.
  • Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính: Để khai thác hiệu năng kinh tế, chủ sở hữu quyền tác giả có thể cho người khác thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm để khai thác, sử dụng có thời hạn

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, Bản quyền Việt Nam cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Nội dung quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm là những tài sản trí tuệ vừa có giá trị tinh thần, vừa có giá trị kinh tế đối với những người sáng tạo. Tuy nhiên, không phải bất kỳ sản phẩm sáng tạo nào được tạo ra cũng được coi là một tác phẩm để được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan là gì? Bài viết dưới đây sẽ trình bày rõ hơn về những điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.

I. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Điều kiện bảo hộ quyền tác giả chung:

Để được đăng ký bản quyền tác giả thì tác phẩm buộc phải đáp ứng những điều kiện bảo hộ quyền tác giả nhất định dưới đây:

  • Tác phẩm cần phải có tính sáng tạo: phải được tác giả trực tiếp sáng tạo, không được sao chép tác phẩm của người khác;
  • Cần được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Ví dụ: tác phẩm truyện, thơ thể hiện dưới dạng những trang viết, tác phẩm điện ảnh thể hiện dưới dạng những thước phim…

Điều kiện về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả:

Được quy định tại Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chủ sở hữu, tác giả có đầy đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả gồm:

  • Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và cũng là chủ sở hữu.
  • Là cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa công bố ở bất kỳ nước nào mới có đủ điều kiện đăng ký quyền tác giả.
  • Là cá nhân và tổ chức Việt Nam, nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu ở nước khác.
  • Là cá nhân và tổ chức nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều kiện bảo hộ về loại hình tác phẩm:

Để có đủ điều kiện đăng ký bảo hộ quyền tác giả, trước hết tác phẩm cần phải là đối tượng thuộc các loại hình quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ gồm có:

  • Bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu;
  • Tác phẩm tạo hình và ứng dụng mỹ thuật;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh, kỹ thuật kiến trúc;
  • Bản họa đồ, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ  có liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, khoa học, giáo trình, sách giáo khoa và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc các ký tự khác;
  • Nghệ thuật dân gian và tác phẩm văn học;
  • Chương trình máy tính và bộ sưu tập dữ liệu;
  • Tác phẩm phái sinh (nếu không có gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm dùng làm tác phẩm phái sinh).

II. Điều kiện bảo hộ quyền liên quan

Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan:

  • Diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật;
  • Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền liên quan quy định tại Điều 44 của Luật Sở hữu trí tuệ;
  • Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu hình ảnh, âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác;
  • Tổ chức khởi xướng, thực hiện việc phát sóng.

Các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ:

Cuộc biểu diễn đủ điều kiện bảo hộ quyền liên quan nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Cuộc biểu diễn được công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài;
  • Cuộc biểu diễn được người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam;
  • Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi hình, ghi âm được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ;
  • Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt Nam;
  • Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả.

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Điều kiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Ngoài việc quy định về cơ chế bảo hộ cho các đối tượng sở hữu trí tuệ thì pháp luật còn cho phép chủ sở hữu có quyền tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy, điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là gì?

I. Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ sở hữu quyền tác giả; chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển giao quyền sở hữu của mình đối với quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, các bên cần đáp ứng điều kiện sau:

  • Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân; trừ quyền công bố tác phẩm.
  • Người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân như quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

II. Đối tượng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền như:

1. Đối với quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền

  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

2. Đối với quyền liên quan, chủ sở hữu quyền liên quan được chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền:

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;
  • Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được; trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
  • Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán; cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

3. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền:

  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
  • Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm; ghi hình của mình thông qua hình thức bán; cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
  • Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền:
  • Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
  • Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
  • Định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

Lưu ý: Trong trường hợp tác phẩm; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu. Trường hợp có đồng chủ sở hữu những tác phẩm; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả; chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

III. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ bản quyền của Công ty CP Phát triển bản quyền Việt Nam

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng trong lĩnh vực bản quyền. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, công ty cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi.

Trên đây là bài viết “Điều kiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Hiện nay, các tác phẩm báo chí đang đứng trước nguy cơ cao bị xâm phạm quyền tác giả do chịu tác động từ hiệu quả lan truyền thông tin nhanh chóng qua không gian mạng và những công nghệ sao chép mới. Khi các tác phẩm báo chí chính thống bị sao chép, bị đánh cắp thì vấn đề không đơn thuần chỉ nằm ở việc xâm phạm quyền tài sản, gây thất thu lớn về mặt kinh tế cho các đơn vị nắm giữ bản quyền mà những tác phẩm báo chí còn bị cắt cúp, sao chép, làm méo mó, sai lệch thông tin được truyền tải ban đầu, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Pháp luật hiện hành đã và đang có những cơ chế quan trọng trong việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí, nội dung cụ thể sẽ được chúng tôi trình ngay sau đây:

1. Quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.

Theo Điều 6 Khoản 3 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác

Căn cứ theo Điều 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí bao gồm các quyền nhân thân, quyền tài sản, cụ thể:

  • Quyền nhân thân: Đặt tên cho tác phẩm báo chí; đứng tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm báo chí được công bố, sử dụng; Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến; Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm báo chí, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình;
  • Quyền tài sản: Được hưởng nhuận bút – khoản tiền do tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí; Được hưởng thù lao khi tác phẩm báo chí được sử dụng; Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày.

2. Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí

Hiện nay, việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí đang gặp nhiều thách thức khi mà tình trạng vi phạm bản quyền vẫn còn rất phổ biến, đa dạng, việc vi phạm ngày càng tinh vi hơn với việc khai thác sự phát triển của công nghệ. Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm trước tiên cần nhận biết được hành vi nào là vi phạm quyền tác giả, đồng thời cần có ý thức tự bảo vệ tác phẩm thuộc sở hữu của mình. Về cơ bản, việc bảo vệ quyền tác giả được thực hiện thông qua những cơ chế như sau:

2.1.Biện pháp dân sự

Biện pháp dân sự là những biện pháp cho phép tác giả tự bảo vệ tác phẩm của mình trước các hành vi xâm phạm quyền tác giả có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng, cũng như xâm phạm danh dự, uy tín, giá trị tri thức sáng tạo của bản thân tác giả, cụ thể:

  • Yêu cầu đối tượng vi phạm tự gỡ bỏ bài vi phạm, có công văn cam kết không tái phạm, nếu tái phạm sẽ thực hiện những biện pháp mạnh hơn; thương lượng, đàm phán giữa hai bên để đem lại kết quả có lợi nhất cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Được tiến hành thủ tục tố tụng dân sự trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Theo đó tác giả của tác phẩm báo chí bị xâm phạm có thể nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi cư trú của cá nhân, và trụ sở của pháp nhân có hành vi xâm phạm hoặc Tòa án nơi hành vi xâm phạm được thực hiện, Khi tiến hành nộp đơn khởi kiện thì tác giả tác phẩm báo chí bị xâm phạm cần chuẩn bị các bằng chứng kèm theo;
  • Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì theo Điều 584 BLDS năm 2015, tác giả có nghĩa vụ chứng minh về: (i) hành vi xâm phạm; (ii) thiệt hại thực tế xảy ra; (iii) mối quan hệ giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra.

2.2.Biện pháp hình sự

Biện pháp hình sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định là tội phạm theo thủ tục tố tụng hình sự, cụ thể:

  • Tác giả của tác phẩm báo chí có thể nộp đơn tố giác tội phạm khi phát hiện cá nhân khác có hành vi xâm phạm mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đơn tố giác tội phạm sẽ được gửi cơ quan có thẩm quyền, cụ thể là Cơ quan điều tra cấp huyện nơi mà xảy ra hành vi phạm tội hoặc nói người phạm tội cư trú.

2.3.Biện pháp hành chính

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân, tổ chức khác bị thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc phát hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm, cụ thể là Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp sẽ có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm tác phẩm báo chí. Các hành vi vi phạm hành chính do xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm báo chí và biện pháp khắc phục hậu quả hiện nay quy định tại Nghị định số 131/2013/NĐ- CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể là từ Điều 8 đến Điều 12, Điều 15 đến Điều 20, Điều 27 đến Điều 35.

Tùy vào từng trường hợp, cũng như mức độ thiện chí của bên xâm phạm và mong muốn của tác giả thì tác giả tác phẩm báo chí bị xâm phạm có thể lựa chọn cho mình các biện pháp phù hợp.

Trên đây là bài viết Cơ chế bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác

Bài giảng, bài phát biểu và các bài nói là những đối tượng thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống, vô cùng quen thuộc với mọi người. Bài giảng, bài phát biểu và các bài nói được thể hiện bằng ngôn ngữ, được truyền đạt bằng phương thức nói và được hình thành qua quá trình tư duy trí tuệ của người nói để truyền tải những nội dung cụ thể cho người tiếp nhận. Vậy bài giảng, bài phát biểu, các bài nói khác có là đối tượng được bảo hộ sở hữu trí tuệ hay không và tác giả có các quyền nào đối với các đối tượng này, sau đây là phần trình bày của chúng tôi.

1. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác là gì?

Theo Điều 6 Khoản 2 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

Bài giảng được hiểu là bài trình bày sử dụng các phương pháp, kĩ năng sư phạm để cung cấp kiến thức về một vấn đề cụ thể được truyền đạt trực tiếp cho người nghe. Bài giảng được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định bằng bất kỳ phương thức định hình nào.

Bài phát biểu được hiểu là các bài diễn thuyết hay bài trình bày chính thức ở trong một hoàn cảnh cụ thể nhân sự kiện đặc biệt nào đó được tổ chức.

Bài nói khác là các tác phẩm nói có bản chất tương tự như các tác phẩm nêu trên, bao gồm cả các bài thuyết giáo.

Các bài giảng, bài phát biểu và các bài nói khác là các tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới hình thức vật chất nhất định, như được ghi âm lại hoặc/và được lưu hành thành văn bản.

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, để bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được bảo hộ quyền tác giả cần đáp ứng những điều kiện sau:

Thứ nhất, là thành quả của hoạt động sáng tạo tinh thần. Theo đó, các tác phẩm này phải là kết quả của quá trình lao động trí tuệ, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, phản ánh tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo.

Thứ hai, có tính sáng tạo (nguyên gốc). Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm được bảo hộ “phải do tác giả trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”. Do vậy, tính sáng tạo ở đây đòi hỏi tác phẩm phải do chính tác giả tạo ra, mang đặc trưng riêng.

Thứ ba, tác phẩm phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Có thể bằng văn bản hoặc các tệp file, băng đĩa, bản ghi âm, ghi hình… Trong trường hợp bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nào thì sẽ không được công nhận và được bảo hộ theo quy định của pháp luật.

3.Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói

Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, cụ thể là quyền nhân thân và quyền tài sản được quy định tại Điều 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ:

  • Quyền nhân thân
    • Đặt tên cho bài giảng, bài phát biểu và bài nói;
    • Đứng tên thật hoặc bút danh khi bài giảng, bài phát biểu và bài nói được công bố, sử dụng;
    • Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến bài giảng, bài phát biểu, bài nói của mình;
    • Bảo vệ sự toàn vẹn của bài giảng, bài phát biểu, bài nói, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình.
  • Quyền tài sản
    • Được hưởng nhuận bút – khoản tiền do tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm trả cho tác giả khi tác phẩm được khai thác, sử dụng;
    • Được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng;
    • Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê và bất kỳ hình thức truyền tải nào khác; được nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả.

Trên đây là bài viết Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả

Khi đưa vào khai thác khía cạnh kinh tế của quyền tác giả, các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể sẽ gặp nhiều khó khăn do chưa hiểu hết về luật sở hữu trí tuệ và ít nguồn lực. Việc quản lý và giám sát các quyền tác giả không phải là dễ dàng và đòi hỏi sự chuyên nghiệp và kinh nghiệm. Trong khi đó, một tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả sẽ giúp tối ưu thời gian, lợi ích để bảo vệ và quản lý các quyền tác giả của các tác giả và chủ sở hữu. Hãy tham khảo “Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả” dưới đây:

Trên thực tế, việc từng cá nhân trực tiếp thực hiện quản lý các quyền tác giả của mình không phải là hình thức thuận tiện, hiệu quả nhất trong thời đại ngành công nghiệp giải trí và công nghiệp bản quyền phát triển mạnh. Cụ thể, sự phức tạp, không thuận tiện được thể hiện ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, về phía các tác giả, các tác giả sẽ không thuận tiện khi đàm phán hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng cho những người có nhu cầu khai thác tác phẩm vì phải tự mình liên lạc, thương lượng với từng cá nhân, tổ chức khai thác về việc sử dụng tác phẩm trong mỗi trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó, tác giả cũng không có đủ khả năng, nguồn lực để kiểm soát việc người khác có sử dụng tác phẩm của mình hay không, hoặc sử dụng vào đúng mục đích không, đặc biệt là việc sử dụng trên môi trường mạng. Thậm chí, khi có tranh chấp xảy ra, các tác giả dễ rơi vào tình thế khó khăn do phải đơn độc tự bảo vệ quyền lợi của mình trước những công ty lớn. Ngoài ra, ví dụ như khi phát sóng, hoặc đăng tải tác phẩm lên mạng internet, không có cách nào để mỗi người dùng có thể trả thù lao cho từng tác giả, từng người sáng tạo hoặc chủ sở hữu quyền mỗi khi một tác phẩm được truy cập hoặc thưởng thức.         

Thứ hai, về phía những người có nhu cầu khai thác tác phẩm, họ sẽ phải bỏ nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm tác giả, thương lượng để tác giả cho phép họ sử dụng tác phẩm, đặc biệt là khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều tác phẩm của các tác giả khác nhau cùng một lúc. Điều này sẽ khiến công việc dễ bị kéo dài, tốn nhiều nhân lực để thực hiện và không đáp ứng được nhu cầu công việc trên thực tế.  

Vì những lý do trên, việc những tổ chức đứng ra làm cầu nối trung gian giữa tác giả và những người có nhu cầu khai thác tác phẩm là vô cùng cần thiết. Một tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả sẽ giúp ích cho cả hai bên tiết kiệm được thời gian, công sức, nhân lực để cùng hợp tác với nhau, hơn nữa đồng thời giúp tác giả dễ dàng kiểm soát tình trạng sử dụng tác phẩm của các bên khai thác, đồng hành cùng tác giả trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả.

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, Công ty Cổ phần Phát triển Bản quyền Việt Nam, với tư cách là một trong những tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả đầu tiên tại Việt Nam, là cầu nối hợp tác giữa các tác giả và những bên khai thác tác phẩm. Chúng tôi tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng các vấn đề trong lĩnh vực bản quyền, luôn đồng hành, giúp đỡ các tác giả trong quá trình quản lý và khai thác tác phẩm. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, chúng tôi cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình công việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ của Bản quyền Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Những lợi ích khi ủy quyền quản lý quyền tác giả”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?

Một bài hát thông thường phải bao gồm cả phần nhạc và phần lời. Tuy nhiên, trên thực tế, phần nhạc và phần lời có thể do hai tác giả khác nhau sáng tác, ví dụ như trường hợp phổ nhạc cho thơ. Vậy, Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?? Liệu phần nhạc và phần lời được bảo hộ tổng thể với tư cách là một tác phẩm âm nhạc hay được bảo hộ độc lập riêng rẽ?

1. Tham khảo pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với lời bài hát

Theo Điều 2 Khoản 1 của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, tác phẩm âm nhạc có lời hoặc không có lời (“musical compositions with or without word”) là một hình thức tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

Tham khảo Đạo luật Bản quyền của Hoa Kỳ, tại Điều 102(a)(2) quy định tác phẩm âm nhạc, bao gồm cả các từ đi kèm (“musical works, including any accompanying words”) là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Khác với Hoa Kỳ, trong Đạo luật Bản quyền, Thiết kế và Bằng sáng chế của Vương quốc Anh, tại Điều 3(1) quy định “tác phẩm âm nhạc” có nghĩa là tác phẩm bao gồm âm nhạc, không bao gồm bất kỳ từ ngữ hoặc hành động nào nhằm mục đích hát, nói hoặc biểu diễn cùng với âm nhạc (“ “musical work” means a work consisting of music, exclusive of any words or action intended to be sung, spoken or performed with the music”). Bên cạnh đó, đạo luật này cũng phân định rất rõ tác giả của một tác phẩm văn học (không bao gồm phần lời được hát hoặc nói bằng âm nhạc), tác giả của phần nhạc và phần lời (“ a literary work consisting of words intended to be sung or spoken with music”) tại Điều 77 Khoản 2, Khoản 3 . Tương tự, Đạo luật Bản quyền của Ấn độ cũng quy định tại Điều 2(p) rằng “tác phẩm âm nhạc” có nghĩa là tác phẩm bao gồm âm nhạc và bao gồm bất kỳ ký hiệu đồ họa nào của tác phẩm đó nhưng không bao gồm bất kỳ từ ngữ hoặc bất kỳ hành động nào nhằm mục đích hát, nói hoặc biểu diễn bằng âm nhạc .

Mặc dù cả Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Ấn Độ đều là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, việc bảo hộ tác phẩm âm nhạc giữa các quốc gia vẫn có sự khác nhau.

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với lời bài hát theo pháp luật Việt Nam

Tác phẩm âm nhạc là một trong những loại hình được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Theo cách hiểu thông thường, có thể nhận thấy rõ một bài hát, bao gồm phần lời và phần nhạc là một tác phẩm âm nhạc. Tuy nhiên, trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam lại chưa quy định rõ ràng về việc một tác phẩm âm nhạc có bao gồm phần lời hay không, và phần lời đó được bảo hộ như thế nào.

Trước đây, tại Điều 10 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc được giải thích là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Sau đó, theo Khoản 4 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP thay thế cho nghị định 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, tác phẩm âm nhạc được định nghĩa là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

Quy định tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP nêu trên có thể hiểu rằng tác phẩm âm nhạc chỉ bao gồm phần âm nhạc, được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác, không bao gồm phần lời và cũng không bao gồm các bản ghi âm, ghi hình tác phẩm âm nhạc đó.

Sự thay đổi trong quy định về tác phẩm âm nhạc như trên cũng giúp tách bạch rõ ràng giữa quyền tác giả của bản nhạc và quyền tác giả của lời bài hát. Bởi phần nhạc và phần lời có thể tách riêng để sử dụng độc lập mà không làm ảnh hưởng tới phần còn lại, do vậy khi xem xét về việc bảo hộ từng phần, phần nhạc sẽ được bảo hộ dưới hình thức tác phẩm âm nhạc, còn phần lời sẽ được bảo hộ dưới hình thức tác phẩm viết. Bên cạnh đó, khi một bài hát được tạo thành bởi một tác giả soạn lời và một tác giả soạn nhạc thì cả hai tác giả sẽ được coi là đồng tác giả của bài hát, tuy nhiên phần lời và phần nhạc của bài hát đều được sáng tác một cách riêng rẽ, không ảnh hưởng đến nhau và có thể tách ra sử dụng độc lập.

Tuy nhiên, việc chỉ quy định như trên vẫn là chưa đầy đủ, pháp luật Việt Nam vẫn cần bổ sung, làm rõ hơn các quy định liên quan đến tác phẩm âm nhạc, cụ thể là nêu rõ hình thức bảo hộ đối với phần lời bài hát và hướng dẫn đăng ký quyền tác giả đối với các bài hát.

Mặt khác, việc bảo hộ lời bài hát như một tác phẩm viết đặt ra vấn đề liệu sao chép một phần lời bài hát có bị coi là xâm phạm quyền tác giả hay không. Ở đây, có hai trường hợp xảy ra, và phải xét đến tính nguyên gốc, nghĩa là sáng tạo trí tuệ riêng của tác giả. Rõ ràng, nếu hai bài hát cùng sử dụng những cụm từ thông dụng như “anh yêu em”, “anh thương em rất nhiều”,…thì không thể được coi là sao chép, xâm phạm quyền tác giả, bởi nó không thể hiện được dấu ấn sáng tạo cá nhân của tác giả. Tuy nhiên, cụm từ “Vì anh thương em, như thương cây bàng non” lại là một so sánh độc đáo, chưa ai từng sử dụng, thể hiện sự sáng tạo và dấu ấn cá nhân của tác giả.

Bên cạnh đó, dưới khía cạnh thương mại, nhiều trang web nghe nhạc và các trang web khác nếu muốn đăng lời bài hát để phục vụ cho mục đích kinh doanh, hay có doanh thu từ việc đăng lời bài hát, cũng cần xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả.

Trên đây là bài viết “Lời bài hát được bảo hộ quyền tác giả như thế nào?”. Mong bài viết này có ích đối với quý vị.

Trân trọng,