Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Trường hợp nào được coi là đồng tác giả? Đồng tác giả có những quyền nào?

Trong trường hợp một tác phẩm do nhiều tác giả sáng tạo nên, những người cùng thực hiện tác phẩm được gọi là đồng tác giả. Cụ thể hơn, Trường hợp nào được coi là đồng tác giả và đồng tác giả có những quyền nào?  Để giải đáp cho những thắc mắc nêu trên, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể qua nội dung bài viết sau đây:

1. Khái niệm về đồng tác giả

Theo Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả và đồng tác giả được quy định như sau:

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.”

“Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo  tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.”

Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP đồng tác giả được giải thích là những người cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả.

Như vậy, đồng tác giả là người cùng với ít nhất một tác giả khác trực tiếp sáng tạo tác phẩm để tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh, không kể đến những người hỗ trợ, đóng góp ý kiến hay những người cung cấp tư liệu khác.  

2. Quyền của đồng tác giả theo quy định của pháp luật

Tùy vào từng trường hợp cụ thể, đồng tác giả có thể có các quyền khác nhau.

Căn cứ vào việc sở hữu chung có thể phân chia hay không, các đồng tác giả có quyền khác nhau trong hai trường hợp sau:   

  • Các đồng tác giả sáng tạo tác phẩm mà phần thực hiện của mỗi người có thể tách ra để sử dụng riêng mà không ảnh hưởng tới phần của các đồng tác giả khác. Trong trường hợp này, quyền tác giả đối với tác phẩm coi là tương tự với tài sản thuộc sở hữu chung từng phần. Khi đó, các đồng tác giả sẽ có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.
  • Các đồng tác giả sáng tạo tác phẩm mà phần thực hiện của mỗi người không thể tách ra để sử dụng riêng. Trong trường hợp này, quyền tác giả đối với tác phẩm được coi là tương tự với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia. Quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm thuộc sở hữu chung của tất cả đồng tác giả, do đó việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm phải được sự đồng ý của tất cả các đồng tác giả.

Mặt khác, căn cứ vào việc phân biệt chủ thể sở hữu quyền tác giả là tác giả hay cá nhân, tổ chức khác đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, các đồng tác giả có quyền khác nhau trong hai trường hợp sau:

  • Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả: Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và được hưởng các quyền của tác giả, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Nếu một người là đồng tác giả sáng tác một phần riêng biệt trong tác phẩm mà có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì tác giả đó có đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.
  • Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả: Trường hợp việc sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao, theo hợp đồng giao việc từ cơ quan, tổ chức thì quyền tài sản thuộc về cơ quan, tổ chức giao việc, còn quyền nhân thân thuộc về các đồng tác giả. Các đồng tác giả có quyền nhận thù lao, nhuận bút do cơ quan, tổ chức giao việc. Chủ sở hữu quyền tác giả là người được tác giả chuyển giao quyền thì các đồng tác giả nắm giữ một hoặc một số quyền nhân thân, quyền tài sản theo thỏa thuận. Bên cạnh đó, đặc biệt đối với quyền đặt tên cho tác phẩm và quyền công bố tác phẩm là quyền nhân thân, các đồng tác giả có thể thỏa thuận với chủ sở hữu quyền tác giả về việc ai nắm giữ quyền nà

Đồng thời, theo Khoản 3 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ, việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.

3. Dịch vụ pháp lý hỗ trợ về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm của  Công ty Phát triển Bản quyền Việt Nam VCD

Với đội ngũ chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm, VCD tự tin trong việc hỗ trợ Khách hàng về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và các tranh chấp, yêu cầu của khách hàng về chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm nói riêng. Với phương châm luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng, VCD  cố gắng và đảm bảo hỗ trợ Khách hàng và triển khai công việc một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất, thường xuyên báo cáo tiến trình vụ việc cũng như đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo để Khách hàng có thể dễ dàng theo dõi và đánh giá kết quả công việc. Khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng và an tâm khi sử dụng dịch vụ pháp lý hỗ trợ của VCD.

Trên đây là bài viết Trường hợp nào được coi là đồng tác giả? Đồng tác giả có những quyền nào?. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Phân biệt giữa tác giả – chủ sở hữu quyền tác giả

Dưới góc độ của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, những người nắm giữ quyền tác giả bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Vậy, hai đối tượng này có điểm gì khác biệt và tại sao lại phải phân chia như vậy? Bài viết này sẽ phân tích và làm rõ cho quý độc giả hiểu rõ hơn về hai chủ thể này.

1. Thế nào là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả?

Về tác giả, Điều 12a Luật sở hữu trí tuệ đã nêu ra khái niệm như sau:

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.

Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.”

Về khái niệm chủ sở hữu quyền tác giả, Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.”

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả có thể là:

  • Tác giả;
  • Các đồng tác giả;
  • Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả;
  • Người thừa kế quyền tác giả;
  • Người được chuyển giao quyền;
  • Nhà nước.

2. Phân biệt tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Tùy thuộc vào từng trường hợp, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể là một chủ thể hoặc là hai chủ thể riêng biệt.

  • Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả: Đây là trường hợp tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và vừa sử dụng tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình trong quá trình thực hiện tác phẩm, do đó chủ thể vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm. Khi đó, tác giả sẽ có đầy đủ cả quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm. Nếu tác phẩm được tạo nên bởi nhiều tác giả thì các đồng tác giả là chủ sở hữu và có chung các quyền của chủ sở hữu đối với tác phẩm. Bên cạnh đó, trong trường hợp có nhiều đồng tác giả mà mỗi phần riêng biệt trong tác phẩm của một tác giả có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì tác giả đó là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả một trong những trường hợp sau:
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng hoặc giao nhiệm vụ cho tác giả tác phẩm. Khi tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho người thuộc tổ chức mình, thì người được giao nhiệm vụ đó là tác giả và tổ chức là chủ sở hữu quyền tác giả. Cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng với tác giả để tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì cá nhân, tổ chức đó là chủ sở hữu quyền tác giả. Trên cơ sở sự đầu tư về tài chính, các điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật khác cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, các chủ thể này nắm giữ các quyền khai thác sử dụng về mặt tài sản đối với tác phẩm sau khi tác phẩm được hoàn thành. Các quyền nhân thân của tác giả vẫn thuộc về tác giả đã sáng tạo ra tác phẩm.
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được thừa kế về tài sản theo pháp luật về thừa kế. Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền nhân thân được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.
    • Chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền tác giả. Căn cứ để phát sinh quyền sở hữu quyền tác giả của người được chuyển giao quyền được xác định là thời gian có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền tác giả.
    • Chủ sở hữu là Nhà nước. Nhà nước sẽ là chủ thể được hưởng quyền sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khi tác phẩm được sáng tạo do cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu; tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.

Trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, tác giả sẽ nắm giữ quyền nhân thân bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; chủ sở hữu sẽ nắm giữ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Tuy nhiên, đối với và quyền đặt tên cho tác phẩm (là một trong những quyền nhân thân của tác giả), tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản. Do đó, chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền tác giả có thể nắm giữ cả quyền đặt tên tác phẩm ngoài những quyền tài sản khác.

Trên đây là bài viết Phân biệt giữa tác giả – chủ sở hữu quyền tác giả”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng!

Làm ảnh meme có được coi là xâm phạm bản quyền không?

Nhắn tin vào thời đại số hiện nay đôi khi còn phổ biến hơn gọi điện thoại, ngoài nhắn tin thông thường, người nhắn thường gửi kèm thêm các biểu tượng cảm xúc (emoji) hoặc các nhãn dán (sticker) khi nhắn tin với người thân hoặc bạn bè. Đôi khi ngôn từ và các nhãn dán không thể lột tả được hết nội tâm mà người nhắn muốn gửi gắm, thì “meme” được ra đời. Meme có thể được người sử dụng tạo ra từ chính hình ảnh tự chụp hoặc sử dụng hình ảnh trên mạng hoặc ảnh của người khác, vậy trường hợp sử dụng ảnh lấy từ nguồn khác để làm meme có bị coi là xâm phạm bản quyền không, mời bạn đọc theo dõi bài viết sau của VCD để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Meme – Thuật ngữ mới của giới trẻ

“Meme” là một thuật ngữ rộng, bao gồm bất kỳ hình ảnh, video, văn bản hoặc nội dung trực tuyến nào, chúng thường hài hước và nhẹ nhàng nên thường được chia sẻ rất nhiều trên các trang mạng xã hội. Meme còn là những câu đùa được xây dựng dựa trên sự châm biếm, trào phúng hoặc chế nhạo và thường sử dụng các hình ảnh hoặc đoạn video khác nhau (như GIF) từ nhiều phương tiện có sẵn trên internet.

Mặc dù ở trạng thái nào đi nữa thì những meme này vẫn được thể hiện dưới những hình ảnh đáng yêu, dễ thương và không phải là những hình ảnh mang tính chất phản cảm. Do những hình ảnh dễ thương mà những meme này vừa thể hiện được cảm xúc của người gửi vừa thể hiện được tính vui vẻ đặc sắc hơn trong cuộc trò chuyện trao đổi.

Phần lớn các meme trên Internet được lan truyền bởi trẻ vị thành niên và thanh niên. Điều này là do 2 nhóm tuổi này thích truyền đi các thông điệp, đồng thời cũng rất thích thú với tính nghịch ngợm của meme. Tuy vậy, tuổi trung bình của những người tham gia lan truyền meme cũng đã tăng lên, đặc biệt là khi những người dùng độ tuổi U40 phát hiện ra tính hài hước của việc gửi những mẩu meme phổ biến tới bạn bè mình.

2. Quyền sở hữu trí tuệ và meme

Văn hóa meme vẫn còn nằm ngoài vùng phủ sóng trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Mặc dù vậy, gần giống với tất cả các loại tác phẩm khác, bản quyền sẽ tự động phát sinh khi tạo một meme mới được tạo ra khi nội dung meme là tác phẩm gốc có quyền tác giả, có mức độ sáng tạo tối thiểu và được cố định ở dạng thể hiện hữu hình. Luật bản quyền sẽ trao cho những người sáng tạo ban đầu của meme hoặc chủ sở hữu của các kênh truyền thông dùng meme quyền ưu tiên, họ có quyền độc quyền sao chép, sửa đổi, phân phối, đăng tải và sử dụng meme. Do đó, làm một meme từ ảnh của người khác đôi khi có thể cấu thành hành vi vi phạm bản quyền tại Điều 28 luật SHTT về xâm phạm quyền nhân thân của tác giả “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” khi có hành vi đem tác phẩm gốc sửa đổi, sau đó sử dụng, chia sẻ hay sao chép để đăng lại nhiều lần.

Ngoài ra, các doanh nghiệp hiện nay cũng thường sử dụng meme làm công cụ tiếp thị để thu hút sự chú ý của khách hàng, bắt “trend” với xu hướng của giới trẻ. Khi meme được sử dụng cho mục đích thương mại, chủ sở hữu hợp pháp của meme có thể có được quyền nhãn hiệu.

3. Làm ảnh meme có được coi là xâm phạm bản quyền không?

Nói chung, việc làm và chia sẻ meme trực tuyến là hành động được coi là an toàn và khó có thể bị kiện. Tuy nhiên, khi meme được sử dụng với mục đích thương mại (chẳng hạn như in meme trên quần áo và bán chúng) mà không có sự cho phép hoặc giấy phép của chủ sở hữu hợp pháp, hoạt động đó sẽ bị cho là vi phạm bản quyền. Quy định tại Điều 28 Luật SHTT về xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật SHTT.

Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình

Chung quy lại, nếu bạn đang làm và chia sẻ meme trên phương tiện truyền thông xã hội hoặc các nền tảng khác trên Internet, thì việc vi phạm quyền SHTT không phải là điều đáng lo ngại. Nhưng bất kỳ hành vi kiếm tiền từ meme do người khác sở hữu đều có thể khiến chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu thực thi hành động pháp lý. Do đó, điều đầu tiên cần phải cân nhắc chính là việc xác minh quyền sở hữu và quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như các thỏa thuận cấp phép khi lựa chọn nội dung không nguyên bản được sử dụng cho mục đích thương mại, quảng cáo hoặc làm tác phẩm phái sinh.

Trên đây là bài viết “Làm ảnh meme có được coi là xâm phạm bản quyền không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Dịch vụ hợp tác khai thác quyền tác giả

Khi đăng tải một tác phẩm nghệ thuật, nhạc phẩm hay sản phẩm văn hóa khác, việc bảo vệ quyền tác giả là rất quan trọng để đảm bảo rằng người tạo ra tác phẩm sẽ được công nhận và được bảo vệ khỏi việc sao chép hoặc sử dụng mà không được phép. Tuy nhiên, việc quản lý và giám sát các quyền tác giả không phải là dễ dàng và đòi hỏi sự chuyên nghiệp và kinh nghiệm. Vì vậy, dịch vụ hợp tác khai thác quyền tác giả đã ra đời để giúp những người tạo ra tác phẩm bảo vệ và quản lý các quyền của họ.

Ở Việt Nam, việc bảo vệ quyền tác giả đã được quan tâm và đặt lên hàng đầu. Các quy định pháp luật đã được thiết lập để bảo vệ quyền tác giả, bao gồm Luật Sở hữu Trí tuệ và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu Trí tuệ. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện các quy định này vẫn gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với những người mới bắt đầu trong lĩnh vực này.

Để giúp các tác giả bảo vệ và quản lý các quyền của mình một cách hiệu quả, dịch vụ hợp tác khai thác quyền tác giả đã được cung cấp ở Việt Nam. Dịch vụ này cung cấp các giải pháp chuyên nghiệp và toàn diện để bảo vệ quyền tác giả, từ đăng ký bản quyền cho các tác phẩm mới đến theo dõi và bảo vệ các quyền tác giả đã được đăng ký.

Đối với những người mới bắt đầu trong lĩnh vực này, dịch vụ cung cấp các thông tin và hướng dẫn về quyền tác giả và các quy trình cần thiết để đăng ký bản quyền cho các tác phẩm của họ. Ngoài ra, dịch vụ cũng hỗ trợ trong việc xây dựng hồ sơ tác giả và quản lý các tác phẩm của họ.

Đối với các tác giả đã có kinh nghiệm, dịch vụ cung cấp các giải pháp tối ưu để bảo vệ quyền tác giả của họ. Điều này bao gồm theo dõi và phát hiện các vi phạm quyền tác giả, đàm phán với các bên liên quan để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả, và thực hiện các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền tác giả.

Tựu chung lại, Dịch vụ hợp tác khai thác quyền tác giả sẽ trở thành một lựa chọn phổ biến và tối ưu thời gian, lợi ích để bảo vệ và quản lý các quyền tác giả của các tác giả và doanh nghiệp ở Việt Nam.

Được dẫn dắt bởi ban lãnh đạo giàu năng lực cùng đội ngũ chuyên viên dày dặn kinh nghiệm, VCD cam kết cung cấp cho Quý Khách hàng dịch vụ hợp tác khai thác quyền tác giả chuyên nghiệp, giúp Khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức trong việc bảo vệ và thu những khoản lợi ích mà tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng, hỗ trợ pháp lý trong trường hợp có tranh chấp về quyền tác giả hoặc vi phạm quyền tác giả.

Với giá trị cốt lõi: “Minh bạch – Hiệu quả – Tiên phong”, VCD quyết tâm trở thành bạn đồng hành, đối tác tin cậy của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tại Việt Nam.

Làm sách nói như thế nào để không xâm phạm bản quyền?

Sách nói (audio book) là một sản phẩm không còn xa lạ gì đối với những người yêu thích đọc sách bởi những trải nghiệm khác biệt và sự tiện ích cho người dùng. Thay vì mua sách giấy truyền thống, hay những bản sách điện tử (ebook), những năm gần đây người đọc bận rộn có thể lựa chọn là sách nói để nghe trong khi vừa làm các công việc không rảnh tay. Có thể nói, sách nói là một hướng đi mới và có khả năng tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Vậy, những cá nhân, tổ chức cần phải chú ý gì để thực hiện và kinh doanh sách nói mà không xâm phạm bản quyền?

1. Sách nói là tác phẩm phái sinh

Sách là đối tượng chứa đựng những tri thức, nội dung và tư tưởng mà tác giả muốn truyền tải tới những người khác thông qua chữ viết, văn bản, có thể ở dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử. Sách có nội dung đa dạng, phong phú, thuộc nhiều thể loại khác nhau. Sách nói là hình thức trình bày nội dung của một cuốn sách dưới dạng âm thanh, được ghi lại trong bản ghi âm. Cuộc sống hiện đại ngày càng bận rộn, con người càng ít có thời gian để ngồi đọc sách, do đó, việc sử dụng sách nói là một sự lựa chọn kinh tế và tiện lợi.

    Luật Sở hữu trí tuệ không quy định trực tiếp sách hay sách nói là một đối tượng được bảo hộ quyền tác giả mà quy định tại Điều 14 Khoản 1 điểm a về tác phẩm viết, theo đó “Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác” là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.

    Bên cạnh đó, theo Điều 4 Khoản 8 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh được hiểu như sau:

    “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác.”

    Từ những căn cứ trên, có thể thấy rằng sách nói là tác phẩm phái sinh từ tác phẩm sách gốc. Do đó, nếu cá nhân, tổ chức muốn thu âm sách nói phải được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sách gốc và trả tiền bản quyền cho họ.

    2. Ghi âm sách và đăng tải lên mạng internet có được coi là xâm phạm bản quyền hay không?

    Quyền làm tác phẩm phái sinh là một trong những quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện quyền này. Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn thực hiện tác phẩm phái sinh thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

    Theo Điều 28 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc không trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được coi hành vi xâm phạm quyền tác giả  do hành vi đó xâm phạm quyền tài sản thuộc quyền tác giả được quy định tại Điều 20.

    Hành vi làm sách nói tự phát và đăng tải lên mạng internet nhưng không xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của cuốn sách là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Cần phải hiểu rõ rằng, không phải mua sách gốc có bản quyền nghĩa là đã trả tiền bản quyền cho tác giả và được phép thu âm sách nói để truyền đạt tác phẩm đến với công chúng. Quyền làm tác phẩm phái sinh hay quyền truyền đạt tác phẩm đến với công chúng đều là những quyền độc lập và phải được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mới được thực hiện. Việc thu âm sách nói sẽ không phải là hành vi xâm phạm nếu bản thu âm:

    • là bản sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép và chỉ được dùng cho cá nhân người thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
    • để hỗ trợ cho người khuyết tật không nhằm mục đích thương mại;
    • là bản sao sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy;
    • là bản sao trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu.

    Theo Điều 12 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, người thực hiện hành vi xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh sẽ bị xử lý như sau:

    “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

    2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

    Vì những lí do trên, những cá nhân, tổ chức nếu muốn sử dụng một cuốn sách để làm sách nói thì phải xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của cuốn sách đó. Nếu không thực hiện, người đó sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo mức phạt nêu trên.

    Trên đây là bài viết “Làm sách nói như thế nào để không xâm phạm bản quyền?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,

    Vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh của người khác có được coi là vi phạm quyền tác giả hay không?

    Một bức ảnh có thể là nguồn cảm hứng cho một tác phẩm hội họa được sinh ra. Tuy nhiên, việc sử dụng tác phẩm nhiếp ảnh có sẵn của một người khác để làm mẫu vẽ thành tranh liệu có được coi là vi phạm quyền tác giả hay không? Chúng tôi xin được giải thích vấn đề “Vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh của người khác có được coi là vi phạm quyền tác giả” này dưới đây.

    1. Bản chất của việc vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh

    Trong thời đại ngày nay, việc chụp ảnh không còn khó khăn do hầu như ai cũng sở hữu một chiếc điện thoại thông minh có thể chụp ảnh và dễ dàng đăng tải nó lên mạng. Đối với họa sĩ, những người vẽ tranh, ảnh chụp là một nguồn tư liệu rất phong phú, hữu ích và có giá trị, bởi ảnh chụp có thể ghi lại được mẫu một cách nhanh chóng, thuận tiện, tỉ mỉ và chính xác đến từng chi tiết, đặc biệt là những đối tượng chuyển động nhanh như động vật, xe cộ, hoặc những đối tượng thay đổi theo thời gian và cả khả năng diễn tả ánh sáng gần sát nhất với thực tế. Do đó, việc họa sĩ sử dụng ảnh chụp để làm tư liệu hoặc làm mẫu để sao chép lại thành tranh không phải là điều khó thấy hiện nay.

    Mặc dù vậy, trước khi sao chép ảnh chụp mẫu thành tranh, các họa sĩ cần lưu ý một số những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến tác phẩm nhiếp ảnh. Bởi lẽ, dưới góc độ sở hữu trí tuệ, việc sao chép lại tác phẩm nhiếp ảnh thành tranh được coi là làm tác phẩm phái sinh và việc làm này phải được sự đồng ý của tác giả tác phẩm nhiếp ảnh. Điều này được giải thích như sau:

    • Theo quy định tại Điều 14 Khoản 1 điểm h Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm nhiếp ảnh là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Để giải thích rõ hơn về tác phẩm nhiếp ảnh, Nghị định 22/2018/NĐ-CP đã quy định tại Điều 14 như sau: “Tác phẩm nhiếp ảnh quy định tại điểm h khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích.
    • Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác (Điều 4 Khoản 8 Luật Sở hữu trí tuệ). Do đó, việc chuyển thể hình ảnh từ tác phẩm nhiếp ảnh thành tác phẩm mỹ thuật hội họa hoặc đồ họa là việc thực hiện tác phẩm phái sinh.
    • Quyền làm tác phẩm phái sinh là một trong những quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện quyền này. Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn thực hiện tác phẩm phái sinh thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

    2. Vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh của người khác có được coi là vi phạm quyền tác giả hay không?

    Có thể thấy rằng, việc vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh của người khác được coi là xâm phạm quyền tác giả nếu người thực hiện không xin phép tác giả của tác phẩm nhiếp ảnh hoặc không trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

    Cụ thể, theo Điều 28 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi được coi làm xâm phạm quyền tác giả nếu hành vi đó xâm phạm quyền tài sản thuộc quyền tác giả, trong đó có quyền làm tác phẩm phái sinh.

    Theo Điều 12 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, người thực hiện hành vi xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh sẽ bị xử lý như sau:

    “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

    2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng4 và kỹ thuật số đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

    Vì những lí do trên, những họa sĩ, người vẽ tranh cần lưu ý nếu muốn lấy ảnh chụp làm mẫu để sao chép lại, vẽ hoặc đồ họa thành tranh thì phải xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của bức ảnh đó.

    Trên đây là bài viết “Vẽ hoặc đồ họa lại tranh từ tác phẩm nhiếp ảnh của người khác có được coi là vi phạm quyền tác giả hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,

    Bảo vệ bản quyền cho vũ đạo như thế nào?

    Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật biểu diễn. Vũ đạo được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau như nhảy hiện đại, nhảy hip hop, múa ba lê, múa đương đại, khiêu vũ,…Vậy, các tác phẩm múa, nhảy, khiêu vũ có được bảo hộ quyền tác giả hay không và được bảo hộ như thế nào?

    1. Các tác phẩm vũ đạo được bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam

    Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật sử dụng sự chuyển động của cơ thể theo âm nhạc để diễn đạt nội dung, ý tưởng nhất định tới công chúng. Các tác phẩm vũ đạo có thể được biết đến là những tác phẩm biểu diễn độc lập, hoặc được sử dụng kết hợp trong các vở nhạc kịch, điện ảnh, trên sân khấu dân gian,…

    Những tác phẩm vũ đạo là một trong đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Khoản 1 Điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Đồng thời, theo quy định của pháp luật Việt Nam, vũ đạo được xác định là một hình thức nghệ thuật biểu diễn và được xếp vào dạng tác phẩm sân khấu, một loại hình được bảo hộ quyền tác giả (Điều 14 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ). Cụ thể hơn, Khoản 1 Điều 11 Nghị định 22/2018/NĐ-CP liệt kê như sau:

    “Tác phẩm sân khấu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.”

    Những đối tượng sáng tạo nên một tác phẩm vũ đạo là những người được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan tương ứng, bao gồm: người biểu diễn, biên kịch, biên đạo múa (nhảy), sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật sân khấu, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm. Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu của các quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với quyền tài sản như quyền đặt tên và công bố tác phẩm.[1]

    2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm vũ đạo

    Tác phẩm vũ đạo để được bảo hộ quyền tác giả cần đáp ứng những tiêu chí sau đây:

    • Tác phẩm phải có tính nguyên gốc. Tính nguyên gốc có nghĩa là tác phẩm phải được hình thành từ sự lao động sáng tạo của chính tác giả, không sao chép toàn bộ hoặc một phần từ tác phẩm khác.
    • Tác phẩm phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Có nghĩa là, tác phẩm vũ đạo phải được thiết kế, biên đạo hoàn chỉnh từ nội dung đến hình thức, hình thành tác phẩm sân khấu hoặc được ghi hình lại thì mới đạt điều kiện bảo hộ. Các động tác vũ đạo đơn lẻ không được coi là một tác phẩm sân khấu và không được bảo hộ quyền tác giả. Bên cạnh đó, biên đạo, biên kịch có thể ghi lại kịch bản nội dung ý tưởng cũng như các bước thực hiện của mình thành văn bản để được bảo hộ trọn vẹn hơn. Nếu tác phẩm chỉ ở dạng suy nghĩ, ý tưởng, chưa được đưa vào thực hiện trên thực tế thì không được bảo hộ.
    • Điều kiện về chủ thể của quyền tác giả: Là tổ chức, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào; là tổ chức, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; là tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

    Trên đây là bài viết “Bảo vệ bản quyền cho vũ đạo như thế nào?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,


    [1] Theo Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ

    Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh có phải trả tiền bản quyền hay không?

    Khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, siêu thị, khu vui chơi giải trí trong thời gian mở cửa kinh doanh thường không thể thiếu được việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc để tạo không khí, tăng thêm điểm nhấn, giúp thu hút và tạo sự thoải mái, dễ chịu, vui vẻ cho khách hàng. Việc sử dụng những bản nhạc phù hợp trong mỗi một không gian có chủ đề nhất định là một phương pháp tăng chất lượng dịch vụ, gây ấn tượng với khách hàng, khiến khách hàng mua hàng nhiều hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn và có trải nghiệm tốt, sẵn sàng để quay lại lần sau. Có thể kể đến hai hình thức thường thấy hiện nay là sử dụng bản ghi âm, ghi hình để phát nhạc nền và trực tiếp biểu diễn tại cơ sở kinh doanh. Việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc vì mục đích thương mại như trên liệu có phải trả tiền bản quyền hay không, chúng tôi xin được làm rõ trong bài viết dưới đây.

    1. Quy định của pháp luật về việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình vì mục đích thương mại

    Theo Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình bao gồm:

    • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
    • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
    • Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

    Điều 32 Nghị định 22/2018/NĐ-CP đã giải thích cụ thể về các trường hợp nêu trên, trong đó  trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại là việc tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố để sử dụng tại nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị; cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính, viễn thông, môi trường kỹ thuật số; trong các hoạt động du lịch, hàng không, giao thông công cộng.

    Như vậy, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh buộc phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận, trong trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình như trên không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không được gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.

    Tuy nhiên, liệu khi những cơ sở kinh doanh này đã mua băng, đĩa gốc có bản quyền, các bản ghi âm, ghi hình được phát hành trực tuyến một cách hợp pháp để phát nhạc nền trong lúc mở cửa kinh doanh thì có phải trả thêm tiền bản quyền do sử dụng tác phẩm trong hoạt động kinh doanh nữa không? Bởi lẽ, có sự khác nhau về bản chất giữa việc nghe, xem tác phẩm thông thường và sử dụng trong hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, tiền mua bản quyền cũng có sự chênh lệch không nhỏ. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Do đó, các doanh nghiệp và chủ sở hữu hợp pháp bản ghi âm, ghi hình nên chủ động tìm hiểu và liên hệ với nhau để thỏa thuận về tiền bản quyền.

    2. Quy định về biểu diễn tác phẩm âm nhạc

    Theo Điều 25 Khoản 1 điểm g Luật Sở hữu trí tuệ, sử dụng tác phẩm đã công bố để biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

    Quyền biểu diễn tác phẩm là một trong những quyền tài sản thuộc quyền tác giả. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền “Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm” (Điều 20 Khoản 1 điểm b Luật Sở hữu trí tuệ).

    Đồng thời, tại Điều 20 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định rằng tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền biểu diễn phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

    Từ các quy định trên, việc các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tổ chức những buổi biểu diễn âm nhạc không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền chỉ khi buổi biểu diễn đó mang tính chất sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại. Còn lại, việc những cơ sở kinh doanh trên tổ chức biểu diễn âm nhạc kể cả có thu phí hay không thu phí, nhằm mục đích thu hút nhiều khách hàng tới sử dụng dịch vụ để thu lợi nhuận thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

    Trên đây là bài viết “Cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc trong thời gian mở cửa kinh doanh có phải trả tiền bản quyền hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,

    Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?

    Khi những ca khúc đã cũ hoặc nghe nhiều đến mức nhàm chán, giới trẻ có xu hướng phối khí hòa âm (remix) lại tạo ra một phiên bản khác của bài hát, khi đươc remix, các ca khúc sẽ có chất lượng âm thanh tốt hơn, gây ấn tượng với khán giả hơn. Các bạn trẻ luôn thích sự độc lạ và mới mẻ, nên những bản nhạc Remix luôn thu hút, hấp dẫn nhiều giới trẻ hiện nay đồng thời cũng phù hợp với thị trường và xu hướng âm nhạc trong thời điểm bây giờ. Tuy nhiên, những ca khúc remix như vậy có được đăng ký bản quyền không, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD để biết thêm chi tiết.

    1. Nhạc remix là gì?

    Dòng nhạc Remix chắc chắn không còn xa lạ gì với giới trẻ hiện nay bởi với giai điệu sôi động, vui tươi và nhộn nhịp khác biệt hẳn với những dòng nhạc truyền thống như Pop, Ballad, Bolero,…

    Hiểu đơn giản thì nhạc remix là nhạc được phối khí lại, làm lại từ bản nhạc gốc sao cho phù hợp với mục đích của người nghệ sĩ, tạo ra một phiên bản mới hoàn hảo hơn. Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong âm nhạc mà còn được sử dụng trong phim, văn học, thơ, video, nhiếp ảnh,… Khi phối lại, người ta thường chỉnh sửa về tốc độ, nhịp điệu, cường độ, cao độ, sự cân bằng, thời gian của bản nhạc và nhiều yếu tố khác để tạo ra giai điệu bắt tai, sôi động thích hợp với thị hiếu khán giả.

    Ngoài ra, bản nhạc có thể làm lại hầu hết các thành phần âm nhạc, tùy vào người remix. Chính vì thế, các nghệ sĩ luôn tạo ra vô số các bản nhạc remix khác nhau, mỗi bài nhạc với mỗi người sẽ có cách cảm nhạc khác nhau.

    Thay vì khán giả cứ nghe đi nhe lại một bản nhạc gốc, dù cho có khúc đó có thịnh hành như thế nào, cũng phải tạo vẻ nhàm chán, không còn thích thú như lúc đầu. Ngay lúc này, người Remix sẽ phối lại bài nhạc gốc, làm mới ca khúc, gây cảm xúc tò mò và tăng cảm xúc cho người nghe.

    2. Nhạc remix có phải là tác phẩm phái sinh không?

    Nhạc remix được coi là tác phẩm phái sinh từ ca khúc gốc. Theo Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh“là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”.

    Một ca khúc remix là tác phẩm “phái sinh” từ ca khúc gốc nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau:

    • Được hình thành dựa trên sự kế thừa từ một tác phẩm đã có;
    • Tác phẩm phái sinh không phải bản sao của tác phẩm gốc: pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng, vậy nên, trong nhiều trường hợp, hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc;
    • Có sự sáng tạo: sự sáng tạo của ca khúc remix thể hiện ở việc lựa chọn, sắp xếp nhịp điệu, thêm thắt những hiệu ứng âm thanh mới để thể hiện được nội dung ca khúc như trong tác phẩm gốc; nhạc remix do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng sự lao động trí tuệ của mình mà không sao chép của người khác;
    • Dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh: cho dù tác phẩm phái sinh được sáng tạo nguyên gốc nhưng vẫn phải đảm bảo có dấu ấn của tác phẩm gốc. Có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua lời bài hát, giai điệu… của ca khúc gốc.

    Tác giả tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ những nội dung có tính nguyên gốc do họ sáng tạo và tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để phái sinh. Việc tạo ra, khái thác, sử dụng tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc.

    Vậy, với câu hỏi nhạc remix có phải tác phẩm phái sinh không, thì câu trả lời ở đây là có thể, với điều kiện đáp ứng các dấu hiệu của tác phẩm phái sinh như đã trình bày ở bên trên.

    3. Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?

    Nhạc remix được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm phái sinh khi đáp ứng 04 điều kiện sau:

    • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc:

    Theo khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

    • Phải do tác giả làm tác phẩm phái sinh trực tiếp sáng tạo: Khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
    • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc: Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ  quy định tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc. Trong trường hợp không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả (Trừ khi tác phẩm phái sinh thuộc các trường hợp tại Điều 25 và Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ).
    • Phải có dấu ấn riêng của tác giả tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là những tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc. Nên để tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì phải có tính sách tạo, mới mẻ và mang dấu ấn của tác giả sáng tạo ra tác phẩm phái sinh đó.

    Vậy, tác phẩm nhạc remix phải đáp ứng các điều kiện trên thì mới có thể được đăng ký bảo hộ quyền tác giả.

    Trên đây là bài viết “Nhạc remix có được đăng ký bản quyền tác giả không?”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,

    Làm nhạc chế có xâm phạm quyền tác giả không?

    Việc làm nhạc chế từ lâu đã được công chúng biết đến và đón nhận thông qua các tiểu phẩm hài, các video ca nhạc vui nhộn. Việc chế lời này tồn tại trong đời sống xã hội như một dạng văn nghệ dân gian, giống như chuyện tiếu lâm, chủ yếu là truyền khẩu, giúp mọi người giải trí vui vẻ. Tuy nhiên, dưới góc độ sở hữu trí tuệ, các ca khúc được chế lời hát lại và đăng tải trên các trang mạng xã hội liệu có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả? Hãy tham khảo bài viết “Làm nhạc chế có xâm phạm quyền tác giả không?” dưới đây:

    1. Nhạc chế là gì và trào lưu chế nhạc hiện nay

    Nhạc chế là những ca khúc được viết lại một phần hoặc toàn bộ lời bài hát trên phần nhạc (giai điệu) của tác phẩm âm nhạc gốc.

    Nhạc chế và trào lưu chế nhạc đã xuất hiện từ lâu, không chỉ ở trên mạng xã hội mà còn trên cả sóng truyền hình. Nhạc chế thường được sử dụng như những điểm nhấn, điểm gây cười trong các tiểu phẩm hài trên truyền hình, và cũng thường được sử dụng như một loại hình giải trí thu hút người xem, tạo tiếng cười cho cộng đồng. Những bản nhạc chế vui nhộn được rất nhiều người đón nhận và lan truyền nhanh qua internet, thậm chí hình thành nên phong trào và có những nhóm người vì chuyên làm và quay video nhạc chế mà nổi tiếng. Đặc biệt, có những bản nhạc chế trở nên thịnh hành và nổi tiếng hơn cả tác phẩm âm nhạc gốc.

    Bên cạnh đó, việc những video nhạc chế được lan truyền, có nhiều người xem cũng đem lại khoản lợi không nhỏ cho người chế nhạc, tuy nhiên tác giả lại không nhận được phần tiền bản quyền tương ứng. Cụ thể, theo chính sách của Youtube, nếu kênh có từ 10.000 lượt theo dõi trở lên, thì với 1.000 lượt xem, chủ kênh sẽ được trả 2-3 USD (ở Mỹ hoặc châu Âu), hoặc 0,3 – 0,5 USD (ở Việt Nam). Không chỉ vậy, các chủ kênh còn thu lợi nhuận từ việc quảng cáo qua hình thức Tiếp thị liên kết, tức là chèn liên kết đến sản phẩm, dịch vụ của một công ty nào đó lên video hoặc phần mô tả kênh của mình, hoặc có thể trực tiếp ký kết hợp đồng quảng cáo với doanh nghiệp để giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp trong các video.

    Phần lớn mọi người cho rằng nhạc chế chỉ là những sản phẩm mang lại những niềm vui, sự thư giãn, tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận dưới góc độ quyền tác giả.

    2. Làm nhạc chế có xâm phạm quyền tác giả không ?

    Tác phẩm âm nhạc là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả (theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ). Trong đó, một trong những quyền nhân thân của tác giả tác phẩm âm nhạc là được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (Điều 19 Khoản 4 Luật sở hữu trí tuệ). Như vậy, việc sửa đổi, thay lời bài hát, tạo ra các tác phẩm nhạc chế mà không được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

    Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 31/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

    “1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

    1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
    2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

    a) Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng thông tin sai sự thật đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

    b) Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng3 và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”

    Mặt khác, việc chế lời mới cho tác phẩm âm nhạc là hành động làm tác phẩm phái sinh. Quyền làm tác phẩm phái sinh cũng là một trong các quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 20 Khoản 1 Điểm a Luật Sở hữu trí tuệ).

    Do đó, khi làm nhạc chế, thực hiện sửa chữa hoặc viết lời mới cho tác phẩm âm nhạc, người thực hiện phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả, được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 20 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ).

    Như vậy, mọi hành vi sửa chữa, viết lại lời bài hát để làm nhạc chế đều là hành vi xâm phạm quyền tác giả nếu như không được sự cho phép của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khi có nhu cầu viết lại lời bài hát thì các tổ chức, cá nhân nên liên hệ với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả để xin phép và trả khoản tiền nhuận bút, thù lao tương xứng cho họ.

    Trên đây là bài viết “Làm nhạc chế có xâm phạm quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

    Trân trọng,