Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Vì sao không nên xem phim trên web “lậu”?

Thay vì phải trả 1 khoản tiền để ra rạp hoặc xem phim ở các website bản quyền như Netflix, HBO go, Apple TV+…, một người có thể dễ dàng lên Google tìm và xem một bộ phim thông qua các trang web không phải của nhà sản xuất, không chính thức với cái giá “miễn phí”. Chính vì sự “miễn phí”, đồng thời do không hiểu rõ về luật sở hữu trí tuệ cũng như những nguy hiểm rình rập sau đó, nhiều khán giả vẫn không nhận thức được rằng hành vi xem phim mà không trả phí trên những trang web đó là sai. Bài viết sau của VCD sẽ nêu rõ hơn về những lý do tại sao khán giả không nên xem phim trên web “lậu”.

1. Web phim “lậu” là gì?

Web phim “lậu” không phải là trang web chính thức của nhà sản xuất nhưng đã thực hiện đăng tải lại các bộ phim điện ảnh, truyền hình, các chương trình giải trí đó mà không xin phép, không trả tiền bản quyền của phim cho nhà sản xuất. Những trang web này đã sao chép, cắt nối, biên dịch lại lời thoại, trình chiếu và truyền đạt các tác phẩm điện ảnh ra công chúng không được phép của chủ thể quyền, đồng thời thực hiện kinh doanh quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ khác trên trang web và chèn quảng cáo vào các bộ phim nhằm thu lợi bất chính.

2. Các web phim “lậu” có hoạt động trái pháp luật không?

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, “tác phẩm điện ảnh, tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự” là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Việc đăng tải phim công khai lên các trang web “lậu” là một hình thức xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Cụ thể, hành vi nêu trên đã vi phạm quyền phân phối tác phẩm và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn (Theo Điều 20 và Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ).

Hành vi không xin phép, không trả tiền bản quyền mà đã phân phối và truyền đạt tác phẩm tới công chúng là hành vi gây thiệt hại kinh tế cho nhà sản xuất và những người tham gia thực hiện tác phẩm điện ảnh. Không chỉ vậy, hành vi nêu trên còn triệt tiêu động lực phát triển của thị trường phim ảnh nói riêng và thị trường các tác phẩm sáng tạo khác nói chung.

Theo quy định hiện hành, hành vi này có thể bị xử lý hành chính thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 211, Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ) tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, cụ thể:

  • Về xử lý hành chính, theo Điều 15 và Điều 17 Nghị định 131/2013/NĐ-CP, hành vi phát tán phim lậu có thể bị phạt tiền từ 10-30 triệu đồng.
  • Về xử lý hình sự, hành vi trình chiếu, đăng tải công khai tác phẩm điện ảnh không được cấp bản quyền là hành vi có dấu hiệu của tội “xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” được quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Như vậy, việc các trang phim lậu tiếng Việt tự ý sao chép tác phẩm điện ảnh trong sản xuất trong nước hoặc nước ngoài, làm thuyết minh, phụ đề tiếng Việt rồi đăng tải để thu lợi bất chính mà không được chủ sở hữu (trong hoặc ngoài nước) cho phép chính là hành vi xâm phạm quyền tác giả và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

3. Những lý do không nên xem phim trên web “lậu”

“Nếu coi phim ảnh giải trí là thức ăn cho tâm trí thì web lậu là những “quán ăn” độc hại bán thực phẩm bẩn, dù nó cho không, nhưng làm gì có cái gì thật tốt mà lại cho không?”. Vì vậy, khán giả không nên xem phim trên web “lậu” vì những lý do sau:

Thứ nhất, việc xem phim “lậu” kém chất lượng làm quá trình trải nghiệm của người xem không được trọn vẹn. Khi các trang web này đánh cắp những bộ phim từ các nhà sản xuất, tất nhiên sẽ không bao giờ đảm bảo được những hình ảnh sắc nét 4K hay 1080 HD như ở ngoài rạp hay trên ứng dụng trực tuyến. Đồng thời, những bản sao chép phim “lậu” còn có thể bị cắt nối, biên tập lại, chèn thêm những đoạn quảng cáo khiến người xem khó chịu.

Thứ hai, có những nguy hiểm tiềm ẩn cho người dùng trên trang phim “lậu”. Nhiều trang phim lậu có cài mã độc hoặc kèm theo link dẫn tới trang chứa mã độc để phục vụ những mưu đồ cá nhân. Nhiều kẻ làm trang phim lậu còn biến trang phim thành trang “tổng hợp”, kèm theo phim còn chạy quảng cáo chào mời cờ bạc trực tuyến, cá cược thể thao, nhất là cá cược bóng đá…

Thứ ba, việc xem phim trên web “lậu” là đang tiếp tay cho hành vi sai trái. Việc xem phim mà không trả phí khiến các hãng phim và các trang web mua bản quyền phim không thu được lợi nhuận, không bù đắp được cho khoản đầu tư đã bỏ ra để sản xuất phim trước đó cũng như không có đủ kinh phí để chi trả tiền công cho các siễn viên, đạo diễn và những người tham gia dựng phim. Ngoài ra, những tác phẩm điện ảnh là những đứa con tinh thần của những người thực hiện, việc xem phim không trả phí khiến cho những người làm phim cảm thấy công sức họ bỏ ra không được trân trọng, từ đó không tạo được động lực sáng tạo, phát triển để thực hiện những tác phẩm có giá trị. Tại Việt Nam, nếu còn có người tiếp tay và không xử lý triệt để hành vi vi phạm nêu trên, nề điện ảnh nội địa sẽ không còn sức cạnh tranh với các nền điện ảnh nước ngoài, không có cơ hội, động lực để phát triển.

Trên đây là bài viết “Vì sao không nên xem phim trên web “lậu”?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

Nghệ thuật ẩm thực ngày càng phát triển, các đầu bếp đã không ngừng sáng tạo, đầu tư nghiên cứu để cho ra đời những công thức nấu ăn mới, đặc sắc và có giá trị thương mại cao. Các thương hiệu ẩm thực hay những nhà hàng đều có những công thức đặc biệt của riêng mình mà chúng đóng vai trò không nhỏ quyết định sự thành công của nhà hàng đó. Vậy, liệu công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

1. Công thức nấu ăn là gì?

Công thức nấu ăn được hiểu là bản hướng dẫn cách chế biến một món ăn nhất định. Công thức nấu ăn bao gồm tên món ăn, thời gian thực hiện, các thành phẩn và số lượng nguyên liệu, tỉ lệ giữa các nguyên liệu, các thiết bị cần sử dụng, các bước thực hiện cùng các phương pháp chế biến từ sơ chế tới nấu và trình bày.

2. Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?

Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, đối tượng bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ), bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Công thức nấu ăn không phải là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được nêu trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Mặc dù công thức nấu ăn cũng mang tính mới, tính sáng tạo, song bản chất của nó lại là một quy trình, phương pháp thực hiện. Theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, quy trình hay phương pháp hoạt động đều không được bảo hộ quyền tác giả. Do đó, bản thân công thức nấu ăn chưa được định hình dưới dạng vật chất nhất định thì không được bảo hộ quyền tác giả.

Tuy nhiên, khi công thức nấu ăn được định hình dưới dạng chữ viết, văn bản thì được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm khác hoặc giáo trình hướng dẫn nấu ăn và được bảo hộ như bảo hộ tác phẩm văn học. Người sáng tạo ra công thức nấu ăn có thể viết công thức với nội dung mô tả quy trình thực hiện và toàn bộ các phương pháp, cách thức tạo nên món ăn. Người viết ra công thức nấu ăn chính là tác giả của tác phẩm và có đầy đủ quyền nhân thân, quyền tài sản đối với tác phẩm. Ví dụ, công thức nấu ăn được in thành sách, hoặc được trình bày trong một bài báo, tạp chí thì phần văn bản công thức nấu ăn đó được bảo hộ quyền tác giả. 

Việc đăng ký bảo hộ công thức nấu ăn dưới hình thức bảo hộ quyền tác giả ngăn chặn việc các cá nhân, tổ chức khác sửa chữa, sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê hoặc làm tác phẩm phái sinh đối với công thức nấu ăn dưới dạng văn bản. Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền tác giả là không tuyệt đối nếu như người sáng tạo ra công thức muốn giữ bí mật về công thức này. Bởi quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện chứ không áp dụng đối với nội dung, ý tưởng của tác phẩm, người khác hoàn toàn được quyền tiếp cận, đọc công thức và làm được ra món ăn đúng như hướng dẫn.

Trong trường hợp người tạo nên công thức nấu ăn có ý định chia sẻ, hoặc mong muốn đạt được lợi ích kinh tế thông qua việc bán công thức nấu ăn dưới dạng văn bản, sách báo thì việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả như trên là hoàn toàn hợp lý. Còn trong trường hợp người sáng tạo muốn giữ bí mật hoàn toàn công thức này vì mục đích kinh doanh, công thức nấu ăn phải được đảm bảo không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được để được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh. 

Vậy, công thức nấu ăn hoàn toàn có thể được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, lựa chọn bảo hộ công thức nấu ăn dưới hình thức nào phụ thuộc vào mục đích, mong muốn của người sáng tạo nên nó.

Trên đây là bài viết “Công thức nấu ăn có được bảo hộ quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Việc sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?

Các phần mềm chính thống thường có phí sử dụng rất cao, điều này khiến người dùng máy tính e ngại và hay tìm đến một cách “lách luật” khác, đó là dùng phần mềm crack. Phần mềm crack ngày càng được phổ biến vì khi sử dụng các phần mềm đó người dùng sẽ không phải trả phí nhưng vẫn sử dụng được hết chức năng. Tuy nhiên, điều này có thể gây những nguy cơ tiềm ẩn cho khách hàng. Vậy, việc người dùng sử dụng phần mềm crack có được coi là vi phạm pháp luật không, hãy theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi.

1. Phần mềm crack là gì?

Pháp luật Việt nam chưa có định nghĩa rõ ràng về “Phần mềm crack”. Crack có thể hình dung là hành động của lập trình viên bẻ khóa để truy cập vào phần mềm một cách lén lút, ăn trộm phần mềm, làm cho một sản phẩm phần mềm có đăng ký bản quyền, phải trả phí để có thể sử dụng trở thành miễn phí khi được kích hoạt.

Ngắn gọn, phần mềm crack được hiểu đơn giản nhất là các phần mềm trả phí đã được bẻ khóa, khi sử dụng các phần mềm đã được crack, người dùng được sử dụng tất cả các chức năng miễn phí tất cả các chức năng và không bị giới hạn về thời gian.

2. Tại sao phần mềm crack lại được nhiều người sử dụng?

Một trong những tiện ích đầu tiên và lớn nhất đối với người sử dụng phần mềm crack là được sử dụng miễn phí tất cả các chức năng mà không bị giới hạn. Một số ứng dụng có phí muốn sử dụng phải tốn từ vài chục nghìn đến vài chục triệu một năm. Do đó, việc sử dụng phần mềm crack sẽ giảm thiểu một khoản tiền bỏ ra không hề nhỏ.

Ngoài ra, việc có được các file crack sẽ giúp cài đặt các phần mềm một cách thoải mái và nhanh chóng. Cũng như dễ dàng chia sẻ cho nhiều người sử dụng, không cần phải mua một phần mềm nhiều lần để cài trên nhiều máy khác nhau.

3. Sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?

Pháp luật cấm mọi biện pháp sao chép, sử dụng trái phép các phần mềm, mở khóa phần mềm khi chưa có sự cho phép của chủ sở hữu trí tuệ. Vì vậy việc sử dụng phần mềm không có bản quyền là vi phạm pháp luật. Trong mọi trường hợp, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ luôn được quan tâm hơn cả.

Crack không chỉ tác động xấu đến độ ổn định của hệ thống mà còn tiềm ẩn các nguy cơ đánh mất thông tin quan trọng cùng những phiền phức do các chương trình phá hoại ẩn gây ra và đặc biệt hơn cả là tác động rất xấu đến ý thức người dùng. Không những vậy, hành vi trên còn là hành vi vi phạm pháp luật vì các chương trình máy tính là một trong những đối tượng nằm trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

“Crack” là một hành động can thiệp nhằm vô hiệu hoá tính năng bảo vệ bản quyền của nhà sản xuất. Do đó, hành vi trên là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

“4. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này”.

Hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật, công nghệ do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (theo Điều 20 Nghị định 131/2013/NĐ-CP).

Hành vi tải và sử dụng phần mềm crack là hành vi vi phạm quyền tác giả. Cụ thể hơn, nó được coi là hành vi sao chép và sử dụng phần mềm máy tính mà không sự xin phép chủ sở hữu và trả tiền bản quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

“Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả”.

Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng (theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP).

Sử dụng phần mềm crack đồng nghĩa với việc vi phạm bản quyền, khi bị phát hiện sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm. Theo Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự có yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên việc sử dụng phần mềm crack ở Việt Nam diễn ra rất phổ biến và thường xuyên, gần như không có sự quản lý, trong tương lai từ nay về sau, việc xử lý sử dụng những hành vi vi phạm trên ở Việt Nam cần phải được áp dụng và làm chặt chẽ hơn.

Trên đây là bài viết “Việc sử dụng phần mềm crack có vi phạm pháp luật không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Li-xăng quyền tác giả, quyền liên quan

Trong sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, các giao dịch về các tài sản trí tuệ vô hình ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và có một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Một trong những giao dịch phổ biến về quyền sở hữu trí tuệ chính là li-xăng (hay còn gọi là chuyển quyền sử dụng) quyền tác giả, quyền liên quan. Vậy li xăng quyền tác giả, quyền liên quan được hiểu như thế nào và bản chất pháp lý của loại hợp đồng này là gì, tất cả sẽ đều được làm rõ dưới bài viết của chúng tôi.

1. Khái niệm về li-xăng quyền tác giả, quyền liên quan

Li-xăng là một từ có nguồn gốc từ tiếng Latin “Licentia” có nghĩa là sự cho phép, cấp phép hay giấy phép đặc quyền sử dụng một đối tượng nào đó. Phiên âm “li-xăng” được phiên âm từ tiếng  Pháp “License”.   

Li -xăng được hiểu là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan (Bên chuyển quyền sử dụng – thường được gọi là bên giao) cho phép tổ chức cá nhân tổ chức khác (Bên nhận quyền sử dụng –  thường được gọi là Bên nhận) sử dụng đối tượng liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan của mình. Việc cho phép sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan thường được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản, trong đó hai bên giao kết xác định rõ về nội dung, mục đích, phạm vi lãnh thổ và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan.

Trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay, giao dịch trên được đề cập đến dưới thuật ngữ “hợp đồng chuyển quyền sử dụng”, cụ thể tại Điều 47 Khoản 1 quy định: “Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này.”  Tuy nhiên trên thực tế và trong một số văn bản pháp luật khác, thuật ngữ “hợp đồng li-xăng” vẫn còn được sử dụng nhiều.

Về đối tượng của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng li-xăng quyền tác giả, quyền liên quan thông thường chính là li-xăng quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm. Bởi lẽ, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó quyền nhân thân là quyền luôn gắn liền với chủ sở hữu quyền tác giả và không thể chuyển nhượng được trừ quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Tuy nhiên, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền công bố tác phẩm trên thực tế chỉ có thể thực hiện trong một lần, vì vậy các quyền nhân thân đó không được xem xét để thực hiện chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan. Bên cạnh đó, trong trường hợp tác phẩm chưa được công bố, trước hoặc trong khi giao kết hợp đồng li-xăng, cần phải giao kết cả hợp đồng chuyển nhượng quyền công bố tác phẩm để đảm bảo tốt nhất cho việc khai thác, sử dụng của bên được chuyển quyền.  

Như vậy, có thể hiểu li xăng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển quyền sử dụng, cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Những lưu ý khi li-xăng quyền tác giả, quyền liên quan

Thông thường khi tiến hành li xăng quyền tác giả, quyền liên quan, bên chuyển quyền sử dụng và bên nhận quyền sử dụng phải hết sức lưu ý những vấn đề sau nằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tiến hành chuyển nhượng.

  • Về giới hạn quyền được phép chuyển quyền sử dụng:
    • Tác giả không được chuyển nhượng những quyền nhân thân, bao gồm quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; quyền không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả;
    • Người biểu diễn không được chuyển nhượng những quyền nhân thân, bao gồm được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; quyền không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
  • Về đồng chủ sở hữu, trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Đây là vấn đề mà bên chuyển quyền sử dụng và bên nhận quyền sử dụng phải hết sức lưu ý trước khi tiến hành chuyển quyền sử dụng.
  • Về việc chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác: tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan. 

Việc hiểu bản chất cũng như những lưu ý khi tiến hành giao dịch li-xăng quyền tác giả, quyền liên quan là điều vô cùng cần thiết. Hi vọng với bài viết “Li xăng quyền tác giả, quyền liên quan” sẽ giúp cung cấp thông tin những khía cạnh pháp lý một cách đầy đủ nhất của giao dịch này cho quý độc giả. 

Trân trọng,

Quyền khởi kiện dân sự khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, bên cạnh biện pháp hành chính và biện pháp hình sự, các cá nhân, tổ chức có liên quan có thể áp dụng đồng thời biện pháp dân sự để bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất cho bản thân. Về nguyên tắc, việc khởi kiện đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan phải tuân theo thủ tục tố tụng dân sự do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Cụ thể, trong trường hợp này, chủ thể bị xâm phạm quyền cần đáp ứng những điều kiện cơ bản nào để thực hiện bảo vệ quyền lợi thông qua khởi kiện dân sự? Bài viết sau đây sẽ cung cấp thông tin về quyền khởi kiện dân sự khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

1. Những chủ thể có quyền khởi kiện dân sự

Theo tinh thần của pháp luật SHTT, đặc biệt là các văn bản pháp luật chuyên ngành như tại Mục  II.1 Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan, những chủ thể được quyền khởi kiện dân sự khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm:

  • Tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng;
  • Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan;
  • Người được thừa kế hợp pháp vủa tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Các cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Các cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm theo hợp đồng;
  • Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền;
  • Cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.

Như vậy, về cơ bản pháp luật SHTT cũng đã quy định tương đối chi tiết và đầy đủ về những chủ thể có thẩm quyền khởi kiện dân sự khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu đảm bảo quyền lợi của những chủ thể này khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền.

2. Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự khi phát hiện hành vi xâm phạm 

Các chủ thể khi muốn tiến hành khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan cần đáp ứng hai điều kiện sau được quy định tại Mục III.1 Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP:

  • Thứ nhất, quyền tác giả, quyền liên quan đã phát sinh theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ
    • Quyền tác giả phát sinh và được bảo hộ tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định (bài hát, chương trình máy tính, công trình kiến trúc…), không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
    • Quyền liên quan phát sinh và được bảo hộ tự động kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

Cần lưu ý rằng, việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc để được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Khi có tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan mà đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, thì Toà án phải xem xét mà không phân biệt việc họ đã có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan hay chưa, họ đã nộp đơn hay chưa nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc chắn nhất quyền lợi của mình, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả nên thực hiện đăng ký sớm nhất có thể.

  • Thứ hai, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan vẫn còn theo quy định pháp luật

Tùy thuộc vào từng loại hình tác phẩm được bảo hộ mà thời hạn bảo hộ sẽ có khoảng thời gian khác nhau, được quy định tại Điều 27, Điều 34 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành. Ví dụ như khi khởi kiện nhằm bảo hộ tác phẩm điện ảnh, chủ sở hữu quyền tác giả phải kiểm tra xem tác phẩm điện ảnh có đáp ứng điều kiện về thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố đầu tiên hay không. Nếu đã quá 75 năm, Tòa án sẽ không thụ lý đơn khởi kiện.

Khi hết thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật thì các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan không còn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, trừ trường hợp pháp luật không quy định thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả. Đây là một vấn đề mà các chủ thể quyền khi tiến hành khởi kiện phải hết sức lưu ý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là bài viết “Quyền khởi kiện dân sự khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quy định chung về chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam

Có thể hiểu chuyển giao quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu tác phẩm chuyển giao một phần hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền nhân thân được phép chuyển nhượng thuộc quyền sở hữu của mình cho các cá nhân, tổ chức khác. Trong đó, hai hình thức chuyển giao quyền bao gồm chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng tác giả. Vậy về bản chất, hai hình thức chuyển giao này như thế nào và khác nhau ra sao theo quy định của pháp luật Việt Nam? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ các vấn đề quy định chung của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền tác giả để từ đó giúp hiểu được bản chất cốt lõi của từng hình thức.

1. Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định tại Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền tài sản và một số quyền nhân thân thuộc quyền tác giả và quyền liên quan. Khi chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, bên chuyển nhượng sẽ chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền liên quan, cần phân biệt điều này với việc chủ sở hữu chỉ chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà vẫn nắm giữ quyền sở hữu đối với các quyền đó.

Nội dung những quyền được phép chuyển nhượng này được quy định cụ thể tại Điều 19, Điều 20, Khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ. Trong đó, các quyền có thể chuyển nhượng được bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; các quyền tài sản đối với tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và người biểu diễn; các quyền tài sản của nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng (sao chép, phân phối, cho thuê bản ghi âm, ghi hình, định hình chương trình phát sóng, phát sóng…).

Theo quy định nêu trên, chủ sở hữu, tác giả của tác phẩm không được chuyển nhượng những quyền sau, bao gồm:

  • Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân gồm: 
    • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 
    • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân gồm: 
    • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
    • Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Lưu ý, trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

2. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định tại Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác giả và quyền liên quan. Khác với chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, việc chuyển quyền sử dụng cho phép người khác ngoài chủ sở hữu được sử dụng, khai thác tác phẩm theo thỏa thuận giữa hai bên về phạm vi, thời hạn, mục đích sử dụng,…mà bên chuyển quyền vẫn giữ nguyên vai trò chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.

Về đối tượng của giao dịch, các quyền nhân thân, quyền tài sản được phép thực hiện chuyển quyền sử dụng được quy định tại Điều 19, Điều 20, Khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Các quyền tài sản theo quy định như: làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm,…;
  • Quyền tài sản của người biểu diễn gồm định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình; phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được; Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được; cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình; phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình;
  • Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình gồm sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được;
  • Quyền của tổ chức phát sóng gồm phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình, định hình chương trình phát sóng của mình; sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình;
  • Tác giả không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan. Do xuất phát từ việc đây là một loại hợp đồng dân sự, trong đó thỏa thuận của các bên được đặt lên hàng đầu. 

Trên đây là bài viết “Quy định chung về chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Lưu ý cho doanh nghiệp khi chuyển nhượng quyền tác giả

Tài sản trí tuệ là một trong những nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp. Do đó, khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng tài sản trí tuệ, doanh nghiệp phải hết sức cẩn trọng để hạn chế các rủi ro pháp lý, tránh các thiệt hại, tranh chấp không đáng có và đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Quyền tác giả là một trong những tài sản trí tuệ đặc biệt của doanh nghiệp, gắn liền với quyền nhân thân, quyền tài của tác giả, chủ sở hữu. Vậy khi ký kết, thực hiện việc chuyển nhượng quyền tác giả, doanh nghiệp cần phải lưu ý những gì để đảm bảo được tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp ? Hãy cùng Bản Quyền Việt Nam tìm hiểu bài viết “Lưu ý cho doanh nghiệp khi chuyển nhượng quyền tác giả” dưới đây.

1. Chuyển nhượng quyền tác giả là gì ?

Chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể là các quyền sau đây: quyền công bố tác phẩm; quyền sao chép tác phẩm; quyền làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng; quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh và chương trình máy tính,..

Do đó, khi doanh nghiệp muốn chuyển nhượng quyền tác giả bất kỳ tác phẩm nào thì doanh nghiệp phải đảm bảo là chủ sở hữu quyền tác giả hợp pháp của tác phẩm.

2. Lưu ý cho Doanh nghiệp khi chuyển nhượng quyền tác giả

Thứ nhất, trường hợp tác phẩm chuyển nhượng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu, trừ khi một hoặc một số đồng chủ sở hữu chuyển nhượng phần riêng biệt, có thể tách ra sử dụng độc lập. Như vậy, trong trường hợp Doanh nghiệp muốn chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm thì cần xin ý kiến, đồng ý của các đồng chủ sở hữu (nếu có), tránh trường hợp tự mình chuyển nhượng thì lúc này hợp đồng chuyển nhượng có thể sẽ bị vô hiệu, như vậy mục đích của việc chuyển nhượng sẽ không đạt được.

Thứ hai, doanh nghiệp chuyển nhượng quyền tác giả cần xem xét kỹ về năng lực chủ thể của bên nhận chuyển nhượng. Đối với cá nhân cần kiểm tra năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Đối với pháp nhân, doanh nghiệp cần kiểm tra năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân có đáp ứng đầy đủ điều kiện về năng lực chủ thể hay không? Trường hợp cá nhân, pháp nhân nhận chuyển nhượng không đáp ứng năng lực chủ thể , không đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ sẽ ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của doanh nghiệp chuyển nhượng quyền tác giả.

Thứ ba, Hiện nay, pháp luật quy định hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả phải bằng văn bản nên trường hợp Doanh nghiệp chuyển nhượng quyền tác giả thì cần phải lập thành văn bản, đây được coi là một trong những điều kiện để hợp đồng chuyển nhượng phát sinh hiệu lực.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả với tác phẩm cần phải có các nội dung sau:

  • Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;
  • Căn cứ chuyển nhượng;
  • Giá, phương thức thanh toán;
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên;
  • Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Ngoài các nội dung trên, Doanh nghiệp có thể xác định và thỏa thuận về các điều khoản liên quan tới cách thức giải quyết khi phát sinh tranh chấp, hướng xử lý trong trường hợp bất khả kháng. Việc quy định các điều khoản trong hợp đồng chuyển nhượng càng chi tiết thì quyền lợi của Doanh nghiệp càng được đảm bảo.

Thứ tư, doanh nghiệp cần có sự phân biệt giữa chuyển nhượng quyền và chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả.

Chuyển nhượng quyền tác giả thì sẽ làm chấm dứt hoàn toàn quyền sở hữu (bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) quyền tác giả của tác giả và sau đó chủ sở hữu quyền tác giả sẽ không còn các quyền tác giả mà trước đó mà pháp luật quy định.

Còn đối với việc chuyển giao quyền sử dụng lại có nội dung khác biệt, cụ thể việc chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả được coi như một dạng hợp đồng cho thuê giữa chủ sở hữu quyền tác giả với chủ thể nhận chuyển giao, theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ chỉ cho chủ thể nhận chuyển giao được sử dụng quyền tác giả trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó, nếu như khoảng thời gian đó kết thúc, quyền tác giả của chủ thể nhận chuyển quyền cũng sẽ chấm dứt và quyền tác giả sẽ tự động trở về với chủ thể sở hữu quyền tác giả ban đầu.

Trên đây là bài viết Lưu ý doanh nghiệp khi chuyển nhượng quyền tác giả”.Chúng tôi hy vọng bài viết này cung cấp cho bạn và doanh nghiệp những thông tin hữu ích.

Trân trọng,

Lưu ý khi soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả

Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả là loại hợp đồng mà các bên thỏa thuận chủ sở hữu quyền tác giả sẽ chuyển giao một, một số quyền nhân thân, quyền tài sản của mình cho bên được chuyển nhượng (các tổ chức, cá nhân). Khi soạn thảo các điều khoản trong loại hợp đồng này, các bên cần lưu ý một số nội dung nhất định nhằm phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra giữa các bên. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những nội dung cần lưu ý khi soạn thảo hợp đồng này.

1. Các quyền mà chủ sở hữu quyền tác giả được phép chuyển giao

Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền chuyển giao quyền sở hữu của mình cho các cá nhân, tổ chức bất kỳ. Tuy nhiên, pháp luật giới hạn các quyền mà chủ sở hữu được quyền chuyển giao, theo đó chủ sở hữu chỉ được chuyển giao quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm (thuộc quyền nhân thân). Quyền tài sản bao gồm các quyền sau:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

2. Những nội dung cần được quy định trong hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả

Thứ nhất, về nội dung hợp đồng. Về mặt bản chất, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả cũng là một loại hợp đồng dân sự và các bên có thể tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác và chặt chẽ của thỏa thuận, các bên cần quy định đầy đủ những nội dung sau:

  • Thông tin của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Trường hợp một hoặc các bên là cá nhân, cần có thông tin về tên, căn cước công dân, địa chỉ liên hệ, phương thức liên hệ. Trường hợp một hoặc các bên là doanh nghiệp, cần có thông tin về tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở, mã số doanh nghiệp, phương thức liên hệ, người đại diện theo pháp luật (hoặc người đại diện theo ủy quyền) giao kết hợp đồng.
  • Đối tượng hợp đồng: Các bên cần ghi rõ thông tin về tác phẩm được chuyển nhượng, thời gian chuyển nhượng, phạm vi chuyển nhượng.
  • Giá, phương thức thanh toán: Giá sẽ do các bên tự thỏa thuận, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tác giả tác phẩm, nội dung tác phẩm, giá trị tác phẩm, thị hiếu khách hàng,… Phương thức thanh toán là cách thức bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng (như bằng tiền mặt, chuyển khoản,…).
  • Quyền và nghĩa vụ các bên: Quyền và nghĩa vụ có thể liên quan đến đối tượng của hợp đồng, phạm vi hợp đồng, phương thức thanh toán,… Đây sẽ là căn cứ để xác định các bên có thực hiện đúng hợp đồng không.
  • Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng: có thể là phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc các bên có thể thoả thuận vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại.
  • Phương thức giải quyết tranh chấp: Thông thường, tranh chấp sẽ được giải quyết trước hết bằng hình thức thương lượng giữa các bên, nếu thương lượng không hiệu quả thì một trong các bên có quyền khởi kiện. Các bên có thể lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là Trọng tài hoặc Tòa án. Khi lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp, các bên cần quy định cụ thể tên của Trung tâm trọng tài; pháp luật, ngôn ngữ để giải quyết tranh chấp (nếu một bên là cá nhân, tổ chức nước ngoài).
  • Điều khoản hiệu lực: Các bên thoả thuận về thời điểm có hiệu lực và hết hiệu lực của hợp đồng.

Bên cạnh những nội dung trên, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác như điều kiện chuyển nhượng, hình thức chuyển nhượng, điều kiện tạm dừng thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng,…..

Thứ hai, về hình thức hợp đồng. Căn cứ điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả phải được lập thành văn bản. Các hình thức khác như lời nói, hành vi đều không có giá trị pháp lý.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý của hợp đồng. Sau khi hoàn thành việc chuyển nhượng, chủ sở hữu quyền tác giả đã chuyển giao quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân, quyền tài sản của mình cho bên được chuyển nhượng. Kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực, chủ sở hữu không được chuyển nhượng, sử dụng, cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng các quyền đã chuyển nhượng.

Trên đây là bài viết “Lưu ý khi soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả”. Chúng tôi hi vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Nghệ thuật kiến trúc là một loại hình nghệ thuật lâu đời và ngày càng phát triển phong phú, đa dạng trong đời sống hiện đại. Những tác phẩm kiến trúc không đơn thuần là những thiết kế xây dựng, chúng không chỉ mang lại giá trị sử dụng trên thực tế mà còn mang lại những giá trị nghệ thuật cho cộng đồng. Những tác phẩm kiến trúc được hình thành từ quá trình lao động trí tuệ, chứa đựng những giá trị sáng tạo riêng của tác giả, do đó tác phẩm kiến trúc cũng là một đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc sẽ được Bản quyền Việt Nam giải thích rõ trong bài viết dưới đây.

1. Tác phẩm kiến trúc được bảo hộ dưới hình thức nào?

Theo cách hiểu đơn giản, tác phẩm kiến trúc có thể là bản vẽ thiết kế, mô hình thiết kế, sa bàn không gian phối cảnh hoặc những công trình xây dựng. Tác phẩm kiến trúc thường thấy nhất chính là các công trình xây dựng mà hàng ngày chúng ta quan sát được. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, định nghĩa cụ thể của tác phẩm kiến trúc vẫn chưa được quy định rõ trong các văn bản luật.

Trong Điều 3 Luật Kiến trúc, các khái niệm “kiến trúc”, “thiết kế kiến trúc” và “công trình kiến trúc” được hiểu như sau:

“Kiến trúc là nghệ thuật và khoa học, kỹ thuật về tổ chức không gian, tạo lập môi trường sống bền vững đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội.”

“Thiết kế kiến trúc là việc lập phương án kiến trúc, thể hiện ý tưởng kiến trúc, giải pháp kỹ thuật về kiến trúc trong hồ sơ thiết kế quy hoạch, xây dựng, thiết kế nội thất, ngoại thất và kiến trúc cảnh quan.”

“Công trình kiến trúc là một hoặc tổ hợp công trình, hạng mục công trình được xây dựng theo ý tưởng kiến trúc hoặc thiết kế kiến trúc.”

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm kiến trúc là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả (Điều 14 Khoản 1 điểm i). Nghị định 22/2018/NĐ-CP đã giải thích:

“Tác phẩm kiến trúc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm:

a) Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh.

b) Công trình kiến trúc.”

Như vậy, tác phẩm kiến trúc được bảo hộ quyền tác giả hiện nay chỉ bao gồm bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh và công trình kiến trúc.

2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, được nêu rõ tại Theo Điều 15 Nghị định 22/2018/NĐ – CP và Điều 19, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Về tổng quan, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đều phải tuân theo những quy định chung dưới đây:

  • Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền nhân thân được phép chuyển nhượng và các quyền tài sản được pháp luật quy định. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền nêu trên phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp những trường hợp ngoại lệ không vì mục đích thương mại được quy định tại khoản 3 Điều 20, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật Sở hữu trí tuệ. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của tác phẩm thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
  • Chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi:
    • Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
    • Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.

Trong đó, tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được hưởng toàn bộ các quyền nhân thân và quyền tài sản đối thuộc quyền tác giả. Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng một số quyền nhân thân và chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm.

2.1. Trường hợp 1: Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản.

Các quyền nhân thân bao gồm:

  • Đặt tên cho tác phẩm. Tuy nhiên, tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Các quyền tài sản bao gồm:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình.
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;

2.2. Trường hợp 2: Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ, cụ thể là:

  • Đặt tên cho tác phẩm. Tuy nhiên, tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản;
  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ, cụ thể là:

  • Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;
  • Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
  • Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;

Trên đây là bài viết “Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng.

Vi phạm “độc quyền bài hát” và các chế tài xử lý

Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế giải trí phát triển hơn, thị trường mua bán quyền tác giả, quyền liên quan của bài hát càng trở nên sôi động và đồng thời dấy lên nhiều tranh cãi, đặc biệt là vấn đề “độc quyền bài hát”.Vậy, “ độc quyền bài hát” và vi phạm “độc quyền bài hát” được hiểu như thế nào? Trong bài viết “Vi phạm “độc quyền bài hát” và các chế tài xử lý” này, chúng tôi sẽ làm rõ những vấn đề xoay quanh việc độc quyền khai thác, sử dụng bài hát, vấn đề vi phạm quyền của chủ sở hữu, quyền của những người được chuyển giao quyền sử dụng, khai thác tác phẩm và các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm nêu trên trên.

1. Hiểu như thế nào là đúng về “độc quyền bài hát” dưới góc độ của Luật Sở hữu trí tuệ

Bài hát là một trong những đối tượng bảo hộ quyền tác giả, thuộc loại hình tác phẩm âm nhạc (Theo Điều 14 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ). Theo Điều 10 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Quyền tác giả, quyền liên quan đối với bài hát là tài sản trí tuệ quan trọng của mỗi tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.

Theo Điều 20 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền tài sản quyền công bố tác phẩm. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một hoặc một số hoặc toàn bộ quyền thuộc quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ những trường hợp ngoại lệ không vì mục đích thương mại do pháp luật quy định, ví dụ như trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình, tự sao chép một bản đểnghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại,…[1]

Như vậy, “độc quyền bài hát” có thể được hiểu theo là việc chỉ có một cá nhân, một nhóm cá nhân hoặc tổ chức duy nhất được nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản, và quyền công bố bài hát trong một khoảng thời gian nhất định, không kể đến những trường hợp ngoại lệ không vì mục đích thương mại được quy định trong luật. Người nắm giữ “độc quyền bài hát” có thể là các tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả của bài hát, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đối với bài hát hoặc những cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền với thỏa thuận rằng chỉ duy nhất cá nhân, tổ chức đó được quyền sử dụng một hoặc một số quyền tác giả, quyền liên quan trong một khoảng thời gian nhất định.

2. Những hành vi được coi là “vi phạm độc quyền bài hát” phổ biến

Bản chất của hành vi “vi phạm độc quyền bài hát” là sự xâm phạm quyền tác giả đối với các cá nhân, tổ chức nắm giữ quyền độc quyền khai thác, sử dụng bài hát đó, tức là việc cá nhân, tổ chức không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, không có quyền khai thác, sử dụng hoặc không được cho phép vẫn tự ý khai thác, sử dụng các quyền thuộc quyền tác giả trong thời gian được bảo hộ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu. Một số hành vi xâm phạm quyền “độc quyền bài hát” phổ biến hiện nay được đề cập như sau đây:

  • Việc sử dụng tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật: Ca sĩ không sử dụng bài hát đúng với mục đích biểu diễn ban đầu khi xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và không trả tiền nhuận bút cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả;  những cá nhân, tổ chức tự ghi âm, ghi hình bài hát và đăng tải trên các nền tảng video, phát sóng như Youtube (thường được gọi là “cover” bài hát), tự phát sóng trực tiếp (“livestream”) cũng như hát các bài hát trên các trang mạng xã hội và thu lợi nhuận mà không được nhạc sĩ cho phép.
  • Sản xuất bản sao, phân phối hoặc truyền đạt bài hát đến công chúng: Nhiều trang web đã đăng tải bản sao bản ghi âm, ghi hình bài hát và cho phép người khác tải xuống những bản sao đó để kiếm thu nhập trong khi không xin phép đăng tải tác phẩm, không trả tiền cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan của các bản ghi âm, ghi hình đó.
  • Hành vi tự ý cắt xén, sửa chữa tác phẩm cũ ng là một hành vi vi phạm thường thấy. Nếu các cá nhân, tổ chức có hành vi sửa chữa, thay lời của bài hát mà không được nhạc sĩ sáng tác bài hát cho phép, hành vi đó cũng bị xem là xâm phạm đến quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
  • Thêm vào đó, cần lưu ý trường hợp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của bài hát đã chuyển quyền độc quyền sử dụng bài hát cho nghệ sĩ A trong một thời gian và đã chấm dứt hợp đồng; sau đó tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả lại chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền độc quyền sử dụng bài hát cho ca sĩ B, khi đó nếu nghệ sĩ A vẫn tiếp tục sử dụng và biểu diễn bài hát đó trong các buổi biểu diễn vì mục đích thương mại, nghệ sĩ A sẽ bị xem là đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và ca sĩ B.

3. Các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm “độc quyền bài hát”

Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bất cứ cá nhân hay tổ chức nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành vi xâm phạm quyền độc quyền khai thác, sử dụng bài hát đều có thể sẽ bị xử lý bằng chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm.

  • Chế tài dân sự

Khi có hành vi xâm phạm quyền độc quyền khai thác, sử dụng bài hát, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có thể khởi kiện vụ án ra Tòa và yêu cầu Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự như: (i) buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm; (ii) buộc xin lỗi, cải chính công khai; (iii) buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; (iv) buộc bồi thường thiệt hại; (v) buộc tiêu huỷ; (vi) buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại, không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

  • Chế tài hành chính

Khi có yêu cầu từ chủ thể của quyền, hoặc từ các tổ chức, cá nhân khác mà đã phát hiện hoặc bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền độc quyền khai thác, sử dụng bài hát, hoặc khi hành vi vi phạm bị phát hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền, hành vi vi phạm đó sẽ bị các cơ quan này áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính theo quy định. Các cá nhân, tổ chức nào có hành vi hành chính “vi phạm độc quyền bài hát” thì sẽ có thể bị xử phạt theo các quy định tại Điều 12, Điều 17, Điều 24, Điều 25 đến Điều 31, Điều 33 và Điều 34 tại Nghị định số 131/2013/NĐ-CP và bị buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như buộc phải sửa lại cho đúng họ và tên tác giả, tên tác phẩm, tên người biểu diễn; dỡ bỏ bản sao của tác phẩm mà vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật (“dỡ bỏ bản sao tác phẩm”); buộc hoàn trả lại cho chủ sở hữu của quyền tác giả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm đó.

  • Chế tài hình sự

Khi hành vi vi phạm có yếu tố cấu thành tội phạm, cá nhân, pháp nhân nào thực hiện hành vi vi phạm đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, nếu một cá nhân không được phép của chủ thể quyền tác giả mà lại cố ý sao chép tác phẩm hoặc phân phối đến công chúng bản sao của tác phẩm xâm phạm đến quyền tác giả đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 trở lên hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Pháp nhân thương mại vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, hoặc bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vự nhất định, hoặc cấm huy động vốn trong khoảng thời gian nhất định.

Các quyền tác giả đối với bài hát của nhạc sĩ sẽ được pháp luật SHTT bảo hộ hợp pháp kể cả khi nhạc sĩ không nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, vì quyền tác giả đã phát sinh ngay khi bài hát được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền được bảo vệ của nhạc sĩ theo quy định, nhạc sĩ có thể đăng ký quyền tác giả với Phòng Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, Cục Bản quyền tác giả tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Việc nhạc sĩ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả sẽ giúp tăng cường khả năng bảo vệ quyền lợi, chứng minh quyền của nhạc sĩ khi có phát sinh tranh chấp.

Trân trọng,


[1] Xem quy định cụ thể trong các bài viết sau đây:

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao;

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao