Sorting by

×
Skip to main content

Tác giả: Biên Tập Viên

Các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?

Việc các nhiếp ảnh gia cùng chụp một khung cảnh là chuyện thường thấy trong thực tế. Vậy, các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tác phẩm nhiếp ảnh thuộc một trong số những loại hình tác phẩm được bảo hộ (tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ). Tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ với điều kiện:

  • Do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác (tại Khoản 3 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, theo Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”Từ quy định trên, có thể thấy rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, không bảo hộ nội dung tác phẩm (hay là những ý tưởng được truyền tải trong tác phẩm). Do đó, các tác giả khác nhau mà chụp cùng một đối tượng nhưng có hình thức thể hiện tác phẩm riêng biệt, độc lập với các tác giả khác thì các tác phẩm nhiếp ảnh đó hoàn toàn được bảo hộ quyền tác giả.

Cụ thể, việc chụp ảnh cùng một đối tượng nhưng các tác giả khác nhau thể hiện sự sáng tạo riêng của mình thông qua góc máy, các phương pháp, kỹ thuật chụp ảnh, ý tưởng tổng thể của tác phẩm, tạo cho người xem những cảm nhận khác nhau. Hai tác phẩm tuy cùng chụp một đối tượng nhưng không có sự tương đồng đáng kể trong cách thể hiện, và người xem cũng dễ dàng phân biệt được hai tác phẩm thì hai tác phẩm đó đều được bảo hộ quyền tác giả.

Với những lý do trên, có thể khẳng định rằng các tác phẩm nhiếp ảnh chụp dùng một đối tượng do những tác giả khác nhau thực hiện không bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Trên đây là bài viết “Các tác phẩm nhiếp ảnh có cùng đối tượng có được coi là xâm phạm quyền tác giả không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng

Người mẫu của một bức tranh/bức ảnh có quyền đối với bức tranh, bức ảnh có mặt họ không?

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiếp ảnh gia sẽ là người nắm giữ quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh do mình chụp, còn họa sĩ sẽ có quyền tác giả đối với các bức tranh do họ vẽ. Tuy nhiên đối với những bức ảnh hay bức tranh chụp/vẽ con người, Người mẫu của một bức tranh bức ảnh có quyền đối với bức tranh bức ảnh có mặt họ không? Mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của VCD đễ biết thêm thông tin chi tiết.

1. Quyền hình ảnh là gì?

Quyền hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân của cá nhân. Do đó, khi sử dụng hình ảnh của bất cứ ai cũng phải được người đó cho phép và đồng ý. Quyền này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

  • Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
  • Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Do đó, nếu tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân, người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Người mẫu ảnh hoặc tranh cũng có quyền hình ảnh đối với bức tranh/bức ảnh có mặt họ. Tuy nhiên nếu tác giả của bức ảnh/bức tranh đã có sự đồng ý khi sử dụng hình ảnh của người mẫu thì người mẫu không có quyền sở hữu đối với bức ảnh/bức tranh này.

2. Quyền của người mẫu đối với bức tranh/bức ảnh có mặt họ

Bức ảnh hay bức tranh đều có thể tạo nên mâu thuẫn về quyền tác giả giữa người được chụp và nhiếp ảnh gia, hoặc họa sĩ. Hai bên đều có lập luận đáng tin cậy, vững chắc về việc tại sao mình có quyền đối với bức ảnh, bức tranh, một bên là người tạo nên, bên còn lại là đối tượng chính của bức tranh đó.

Câu trả lời cho việc quyền tác giả thuộc về ai sẽ còn tùy thuộc vào trường hợp hình ảnh cá nhân đã được người đó đồng ý hay chưa, và có trả thù lao cho người làm mẫu hay không.

Một họa sĩ dành hàng giờ để vẽ một người tạo dáng chuyên nghiệp được thuê để tạo dáng, đứng im trong nhiều giờ đồng hồ liên tục. Trong trường hợp này thì hiển nhiên quyền đối với bức tranh tạo nên sẽ thuộc về họa sĩ chứ không phải đối tượng của bức tranh.

Tương tự như vậy, quyền đối với bức ảnh sẽ thuộc về nhiếp ảnh gia chứ không phải người được chụp. Dẫu vậy, việc nhiếp ảnh gia đó có quyền chụp ảnh người bị chụp không lại là một vấn đề khác. Nếu tranh ảnh được vẽ, chụp mà không có sự xin phép của đối tượng được chụp có thể dẫn đến các vụ kiện từ chính người bị chụp, được vẽ do họ đã bị xâm phạm quyền riêng tư, xúc phạm danh dự (nếu có)…

Theo đó, quyền đối với các bức ảnh/bức tranh rõ ràng thuộc về người chụp ảnh/họa sĩ trong trường hợp không có mâu thuẫn về bản chất nào khác. Nếu đối tượng được chụp ảnh sử dụng ảnh mà không xin phép, họ đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả của nhiếp ảnh gia.

Trên đây là bài viết “Người mẫu của một bức tranh/bức ảnh có quyền đối với bức tranh, bức ảnh có mặt họ hay không?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023

Nhằm tôn vinh vai trò của sở hữu trí tuệ (SHTT) trong đời sống kinh tế – xã hội, nâng cao nhận thức của cộng đồng về SHTT, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã chọn ngày 26 tháng 4 hằng năm là “Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới”.

Trải qua nhiều mốc lịch sử, phụ nữ đã dần dần khẳng định vị trí của mình. Bằng sự khéo léo và sáng tạo, phụ nữ đã và đang định hình lại thế giới của chúng ta. Với sự tự tin và vốn tri thức của mình, phụ nữ đang thúc đẩy các đột phá khoa học; thiết lập các xu hướng sáng tạo và tạo dựng các doanh nghiệp mới.

Mọi đối tượng, ở khắp mọi nơi, đều có thể sử dụng quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ để bảo vệ công nghệ, thương hiệu và sự sáng tạo của mình. Trong đó, phụ nữ chiếm gần một nửa dân số toàn cầu, họ mang tiềm năng rất lớn và là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia sáng tạo. Thông qua ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023, WIPO gửi tới thông điệp ủng hộ sự sáng tạo của phụ nữ, với mong muốn phụ nữ tham gia vào hoạt động đổi mới và sáng tạo nhiều hơn. Đồng thời WIPO cũng mong muốn góp phần tạo môi trường sáng tạo tốt hơn cho phụ nữ, khuyến khích phụ nữ sáng tạo và khai thác, sử dụng hiệu quả các công cụ bảo hộ sở hữu trí tuệ. Khi phụ nữ tăng cường tham gia vào hoạt động đổi mới, sáng tạo và kinh doanh song hành và gắn với những ý tưởng và quan điểm mới, tất cả chúng ta đều được hưởng lợi.

Vậy nên, chúng ta cần khuyến khích nhiều phụ nữ tham gia vào việc phát triển sở hữu trí tuệ, để họ có cơ hội thể hiện tài năng cũng như mang đến những quan điểm mới mẻ đối với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, kinh tế và xã hội hiện nay.

Năm 2023, WIPO đã công bố chủ đề của Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới là “Phụ nữ với Sở hữu trí tuệ – Thúc đẩy đổi mới sáng tạo”. Thông điệp của Ngày Sở hữu trí tuệ năm nay đề cao sức sáng tạo của phụ nữ và khuyến khích phụ nữ tìm hiểu và sử dụng hiệu quả công cụ sở hữu trí tuệ.

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2023 là dịp để tôn vinh tất cả những người phụ nữ tài năng trên toàn thế giới. Hãy hướng tới bình đẳng giới trong hoạt động sở hữu trí tuệ và giải phóng sự khéo léo và sáng tạo của phụ nữ và trẻ em gái ở khắp mọi nơi. Cùng nhau, chúng ta có thể xây dựng một ngày mai tốt đẹp hơn.

Livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác có được coi là xâm phạm bản quyền?

1. Livestream như thế nào được coi là xâm phạm quyền tác giả ?

Livestream (hay còn gọi là phát trực tiếp) là quá trình phát video trực tiếp trong thời gian thực đến khán giả trên mạng internet mà không cần ghi lại hoặc lưu trữ trước. Chỉ cần sử dụng các loại điện thoại thông minh được kết nối internet, thông qua các nền tảng công nghệ như Facebook, Youtube,…người dùng có thể tự livestream, chia sẻ cho công chúng những gì đang xảy ra ở thời điềm hiện tại. Mặc dù công nghệ livestream đem lại rất nhiều lợi ích cho mọi người, song lại tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra xâm phạm bản quyền. Có nhiều trường hợp người livestream không để ý, vô tình đã sử dụng những đoạn nhạc, hình ảnh, video của người khác trong khi thực hiện livestream. Cũng có những trường hợp khác, người livestream cố ý sử dụng những đoạn nhạc, hình ảnh, video của người khác để thu hút người xem mặc dù không có sự cho phép của chủ sở hữu những âm thanh, hình ảnh, video đó. Hành vi nêu trên, dù là cố ý hay vô tình đều được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, một trong những quyền tài sản thuộc quyền tác giả là quyền phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn (Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ). Việc các cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng quyền phát sóng và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả. Hành vi livestream mà sử dụng tác phẩm của người khác mà không được sự cho phép và không trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi trái với quy định của pháp luật, xâm phạm quyền phát sóng và truyền đạt đến công chúng tác phẩm.Bên cạnh đó, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ đã nêu rõ hành vi xâm phạm quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Từ những quy định trên, có thể khẳng định rằng hành vi livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác mà không được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cho phép, không trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả được coi là hành vi xâm phạm bản quyền.

2. Hành vi livestream xâm phạm quyền tác giả sẽ bị xử lý như thế nào?

Theo quy định tại Nghị định 131/2013/NĐ-CP, việc livestream xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử phạt hành chính như sau:

  • Hành vi xâm phạm quyền công bố tác phẩm (Điều 11): Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định; Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.
  • Hành vi xâm phạm quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng (Điều 17):  Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định; Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của người biểu diễn (Điều 23): Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi định hình cuộc biểu diễn trực tiếp trên bản ghi âm, ghi hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của người biểu diễn; Buộc dỡ bỏ bản sao cuộc biểu diễn vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình (Điều 25): Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình mà không được phép của chủ sở hữu quyền của người biểu diễn, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng; Buộc dỡ bỏ bản sao cuộc biểu diễn vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm.
  • Hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng (Điều 31): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi phân phối đến công chúng bản sao chương trình phát sóng mà không được phép của chủ sở hữu quyền của tổ chức phát sóng; Buộc dỡ bỏ bản sao chương trình phát sóng dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Trên đây là bài viết “Livestream có sử dụng âm nhạc, hình ảnh của người khác có được coi là xâm phạm bản quyền?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Thông báo nghỉ lễ 30/4 – 1/5 năm 2023

Bản quyền Việt Nam xin gửi tới Quý Khách hàng lịch nghỉ lễ 30/4 -1/5 năm 2023 như sau:

➤ Thời gian nghỉ từ ngày 29/01/2023 (Thứ Bảy) đến hết ngày 03/05/2023 (Thứ Tư)

➤ Thời gian làm trở lại: Ngày 04/05/2023 (Thứ Năm)

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách hàng, Đối tác và Cộng sự vui lòng liên hệ Hotline: 0856100294 để được hỗ trợ.

Trân trọng!

Biến tướng khi làm video review phim – liệu có vi phạm bản quyền?

Review phim ban đầu có nghĩa là đánh giá và bình luận về phim, đây là một cách phổ biến và đơn giản để cung cấp thông tin về phim, nhằm mục đích giới thiệu đến những người đang quan tâm về một bộ phim nào đó. Tuy nhiên, review phim dần dần bị biến tướng dưới dạng video ngắn cắt ghép, chỉnh sửa để giới thiệu đầy đủ về nội dung phim rồi đăng tải trên Youtube, Facebook Watch hay TikTok, nhằm mục đích kiếm tiền. Vậy việc làm những video review phim đó có phải là vi phạm bản quyền không, hãy cùng theo dõi bài viết sau của VCD.

1. Review phim và những biến tướng của từ “review”

Review hiện nay là một xu hướng nở rộ của giới trẻ. Nghề review là nghề sử dụng ý kiến chủ quan trên góc độ người sử dụng để đánh giá về một sản phẩm, dịch vụ, những quán ăn, địa điểm du lịch và cả những bộ phim hay. Nói lên cảm nhận và đánh giá chân thực của bản thân khi từng trải nghiệm, từ đó giúp mọi người quyết định có nên sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay xem bộ phim đó nữa hay không. Tóm gọn lại, review phim được hiểu là những cảm nhận, đánh giá chủ quan của người review trong suốt quá trình họ xem phim.

Theo quy định của pháp luật, những người làm video review không được tiết lộ các tình tiết chính của bộ phim mà thường họ sẽ đánh giá tổng quan về các nhân vật, diễn viên hay bối cảnh phim. Từ đó, các reviewer sẽ nêu lên ý kiến cá nhân giúp khán giả có thêm thông tin tham khảo trong quá trình lựa chọn phim mà mình sẽ xem.

Tuy nhiên, hiện nay, bản chất review phim ở Việt Nam lại là biến tướng của recap phim (tóm tắt lại một phần hoặc toàn bộ nội dung bộ phim). Thực chất, các đoạn phim ngắn xuất hiện trên các trang mạng xã hội như youtube, facebook, tiktok với tiêu đề là review phim nhưng lại là tóm tắt nội dung phim. Bởi lẽ các video/clip này thường thuật lại toàn bộ chi tiết bộ phim và có một số ít hoặc không có đánh giá của người làm video. Thậm chí, các video này còn có những chỗ review sai lệch nội dung phim, làm ảnh hưởng đến thông điệp mà ekip sản xuất muốn truyền đạt đến người xem.

2. Review phim có vi phạm bản quyền không?

Theo Luật sở hữu trí tuệ, “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”. Trong đó, việc tạo ra các video review phim được coi là làm tác phẩm phái sinh. Và việc review phim mà tiết lộ toàn bộ hoặc từng phần nội dung phim được coi là đang xâm phạm bản quyền tác phẩm, quyền chủ sở hữu tác phẩm.

Theo quy định mới sửa đổi bổ sung tại khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ: “Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào“. Với quy định này, việc sao chép một phần tác phẩm chính thức được xem là hành vi sao chép, tạo cơ sở pháp lý để khắc phục được những vướng mắc do pháp luật không quy định rõ ràng trong nhiều vụ việc liên quan đến quyền tác giả trước đây.

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, trong số các hành vi xâm phạm quyền tác giả có hành vi:

  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, ngoại trừ trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị, thì việc làm tác phẩm phái sinh nào cũng phải được sự cho phép của tác giả/chủ sở hữu tác phẩm gốc

Bên cạnh đó, việc review phim không thuộc các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và cũng không thuộc các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định.

Do đó, người nào review phim mà tiết lộ toàn bộ hoặc từng phần nội dung phim đang có là hành vi xâm phạm bản quyền tác phẩm, quyền chủ sở hữu tác phẩm. Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức làm review phim có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Trên đây là bài viết “Biến tướng khi làm video review phim – liệu có vi phạm bản quyền”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?

Đứng trước nguy cơ bị xâm phạm quyền tác giả ngày càng nhiều, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?

1. Quyền tự bảo vệ của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan:

Có thể hiểu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là việc nhà nước và chủ sở hữu quyền sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên thực tế và việc xử lý khi có hành vi xâm phạm diễn ra. Các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền tự bảo vệ và điều này đã được ghi nhận tại Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình (theo Khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ) :

a) Áp dụng biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Bên cạnh đó, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng các biện pháp trên để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Các biện pháp nêu trên đã khá đầy đủ để giúp các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan ngăn chặn hành vi xâm phạm cũng như tự bảo vệ khi hành vi xâm phạm xảy ra. Tuy nhiên, để những biện pháp nêu trên đạt hiệu quả cao nhất, các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan cần phải chú ý đến việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, lưu trữ các tài liệu trong khi sáng tác và công tác kiểm tra, rà soát các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm của mình.

2. Những việc mà tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan cần lưu ý để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan

Để bảo vệ quyền lợi của mình, các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan nên có sự chuẩn bị trước, chú trọng bảo vệ quyền tác giả ngay từ những ngày đầu tiên để tránh những trường hợp tranh chấp xảy ra cũng như có những hướng xử lý phù hợp khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra. Chúng tôi xin tổng hợp lại những điều cần lưu ý như sau:

  • Thực hiện đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan ngay sau khi hoàn thành tác phẩm.

Ngay sau khi hoàn thành tác phẩm, tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên thực hiện đăng ký quyền tác giả để bảo vệ quyền lợi của mình một cách chặt chẽ nhất. Nếu không có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, khi có tranh chấp xảy ra, việc chứng minh quyền sở hữu đối với tác phẩm bảo hộ là rất khó khăn. Mặt khác, theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là tài liệu quan trọng nhất để chứng minh quyền của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu.

  • Sử dụng các biện pháp công nghệ thích hợp để bảo vệ quyền tác giả.

Ngay trên mỗi bản sao tác phẩm, chủ sở hữu có thể đưa thông tin khuyến cáo người khác không được xâm phạm, hoặc sử dụng những biện pháp kỹ thuật để đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ. Ngoài ra, trên môi trường mạng internet, các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan có thể áp dụng công nghệ kiểm soát quyền truy cập tác phẩm và công nghệ kiểm soát việc sử dụng tác phẩm. Kiểm soát quyền truy cập là kiểm soát cách thức mà người dùng có thể xem, đọc, nghe hoặc tiếp cận khác về nội dung tác phẩm (ví dụ sử dụng mật khẩu, giới hạn thời gian,…). Kiểm soát quyền sử dụng là giới hạn một tác phẩm chỉ có thể được xem, hoặc có thể sao chép, truyền đạt, phát hoặc các hình thức sử dụng khác ở mức độ nhất định khi người dùng truy cập được vào tác phẩm.

  • Lưu trữ bản gốc của tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; các bản sao được công bố hợp pháp của tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Các tài liệu trên là một trong những chứng cứ chứng minh chủ thể quyền khi yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền được quy định tại Điều 24 Nghị định 105/2006/NĐ-CP trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Lưu trữ các tài liệu chứng minh việc tạo ra, công bố, phổ biến tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; các tài liệu  bản gốc hoặc bản sao hợp pháp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ hoặc văn bản xác nhận quyền thừa kế, quyền kế thừa đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Những tài liệu này là căn cứ để chứng minh chủ thể quyền và căn cứ xác lập quyền bảo hộ của tác phẩm, theo Điều 6 và Điều 24 Nghị định 105/2006/NĐ-CP trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Thường xuyên liên hệ, hợp tác với các chuyên gia về quyền tác giả, quyền liên quan để kết hợp kiểm tra, rà soát các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm của mình và để được tư vấn, hỗ trợ trong việc thu hồi tiền bản quyền.

Trên đây là bài viết “Tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nên làm gì để tự bảo vệ quyền lợi của mình?”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Không thể phủ nhận rằng, ngày nay, mạng internet đã trở thành một công cụ vô cùng phổ biến để truyền tải các tác phẩm tới công chúng. Tuy nhiên, trên môi trường mạng internet, vấn đề xâm phạm quyền tác giả đã trở nên nghiêm trọng và cần sự phối hợp của nhiều bên để ngăn chặn, trong đó có các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Bài viết “Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả quyền liên quan” chúng tôi sẽ phân kỹ hơn cho quý độc giả về vấn đề này:

1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là gì?

Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL về quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trường mạng internet và mạng viễn thông đã quy định về dịch vụ trung gian và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian như sau:

1. Dịch vụ trung gian bao gồm: dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, dịch vụ tìm kiếm thông tin số, dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số bao gồm cả dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ trang thông tin điện tử.

2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian gồm:

a) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet;

b) Doanh nghiệp viễn thông;

c) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số bao gồm cả dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ trang thông tin điện tử;

d) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến;

đ) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tìm kiếm thông tin số.

3. Nội dung thông tin số bao gồm tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được số hóa và được xử lý, lưu trữ, trao đổi, truyền đưa, cung cấp trên môi trường mạng Internet và mạng viễn thông.”

Theo Khoản 1 Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.

2.Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Theo Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm như sau:

  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet liên quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của mình trong các trường hợp sau đây:
  • Chỉ thực hiện việc truyền dẫn nội dung thông tin số hoặc cung cấp khả năng truy nhập đến nội dung thông tin số;
  • Khi thực hiện chức năng lưu trữ đệm trong quá trình truyền dẫn thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện một cách tự động, tạm thời nhằm mục đích trung chuyển thông tin và làm cho việc truyền dẫn thông tin hiệu quả hơn, với các điều kiện sau: chỉ biến đổi thông tin vì lý do công nghệ; tuân thủ các điều kiện truy nhập, sử dụng nội dung thông tin số; tuân thủ các quy tắc về cập nhật nội dung thông tin số được quy định cụ thể theo cách thức được ngành công nghiệp thừa nhận và sử dụng rộng rãi; không ngăn cản việc sử dụng hợp pháp công nghệ được thừa nhận rộng rãi trong ngành công nghiệp để lấy dữ liệu về việc sử dụng nội dung thông tin số; gỡ bỏ nội dung thông tin số hoặc không cho truy nhập đến nội dung thông tin số khi biết rằng nội dung thông tin số đó đã được gỡ bỏ tại nguồn khởi đầu hoặc nguồn khởi đầu đã hủy việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó;
  • Lưu trữ nội dung thông tin số của người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ với các điều kiện sau: không biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó khi biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp trên không phải tự giám sát dịch vụ của mình hoặc chủ động tìm kiếm các bằng chứng chỉ ra hành vi xâm phạm.

Trong đó, nội dung thông tin số là tác phẩm và các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ được thể hiện dưới dạng số.

Cụ thể hơn, thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL quy định những điều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện như sau:

  • Lưu trữ nội dung thông tin số trong hệ thống cung cấp dịch vụ của mình chỉ mang tính chất trung chuyển, tạm thời, tự động, có thời hạn, đủ để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của việc truyền tải nội dung thông tin số.
  • Chấp hành công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định về quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Gỡ bỏ và xoá nội dung thông tin số vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan, cắt, ngừng và tạm ngừng đường truyền Internet, đường truyền viễn thông khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
  • Cung cấp các thông tin về khách hàng thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số, trang thông tin điện tử và khách hàng sử dụng dịch vụ trung gian khác theo yêu cầu của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
  • Chịu trách nhiệm trực tiếp bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan trong các trường hợp sau:

    – Là nguồn khởi đầu đăng tải, truyền đưa hoặc cung cấp nội dung thông tin số qua mạng viễn thông và Internet mà không được phép của chủ thể quyền;

    – Sửa chữa, cắt xén, sao chép nội dung thông tin số dưới bất kỳ hình thức nào mà không được phép của chủ thể quyền;

    – Cố tình huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu hoá các biện pháp kỹ thuật do chủ thể quyền thực hiện để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan;

    – Hoạt động như nguồn phân phối thứ cấp các nội dung thông tin số do vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan mà có.
  • Ngoài những nội dung trên, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến còn phải thực hiện các trách nhiệm sau:

    – Yêu cầu người sử dụng dịch vụ cam kết thực hiện trách nhiệm bảo đảm sử dụng hợp pháp nội dung thông tin số đưa lên đăng tải trên hệ thống mạng Internet và mạng viễn thông;

    – Cảnh báo trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, khả năng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị truy tố trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người sử dụng mạng xã hội trực tuyến có hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

Có thể thấy rằng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đã được quy định rõ những trách nhiệm trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, các doanh nghiệp trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.

Trên đây là bài viết “Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Lưu ý khi tải hình ảnh từ những trang web miễn phí

Nhờ có internet, ngày nay bạn đã có thể truy cập dễ dàng vào nguồn dữ liệu hình ảnh vô cùng dồi dào và đa dạng. Tuy nhiên, việc tự ý tải xuống những gì bạn muốn từ website và sử dụng nó bất cứ khi nào bạn thích là không nên. Chủ sở hữu quyền tác giả vẫn nắm trong tay các quyền về bản quyền, trừ khi pháp luật có những quy định khác. Vì vậy, nếu bạn sử dụng một hình ảnh trong công việc thiết kế của mình mà không được phép, chủ sở hữu có thể thực hiện các hành động pháp lý để chống lại bạn. Do đó, mời bạn đọc theo dõi bài viết về lưu ý khi tải hình ảnh từ những trang web miễn phí của VCD.

1. Một số vấn đề chung về bản quyền hình ảnh

Hiện nay tình trạng vi phạm bản quyền hình ảnh đang diễn ra khá phổ biến, gây nên những ảnh hưởng đời sống của chủ sở hữu hình ảnh đó. Luật bản quyền hình ảnh được ban hành với vai trò bảo vệ bản quyền cho chủ sở hữu hình ảnh, nghiêm cấm và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm bản quyền hình ảnh.

Theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ về các loại hình tác phẩm “Tác phẩm nhiếp ảnh” được bảo hộ quyền tác giả.Trong đó, tác phẩm nhiếp ảnh theo quy định tại Điều 14 Nghị định 22/2018/NĐ-CP là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích. Tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ phải do người trực tiếp sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ của chính mình.

Vậy, bản quyền hình ảnh có thể hiểu ngắn gọn là quyền sở hữu, sử dụng một hình ảnh của cá nhân, tổ chức do chính họ tạo ra với mục đích thương mại hoặc phi thương mại. Tất cả các tổ chức, cá nhân khác nếu sử dụng hình ảnh có bản quyền mà chưa được sự cho phép của người sở hữu thì đều là vi phạm bản quyền hình ảnh.

2. Liệu tải ảnh từ các trang miễn phí có thực sự an toàn?

Có rất nhiều trang web cho phép tải ảnh miễn phí mà không yêu cầu gắn bản quyền hình ảnh khi sử dụng. Tuy nhiên, có rất nhiều rủi ro nếu bạn sử dụng những hình ảnh miễn phí này vì phía trang web nhiều khi không phải là chủ sở hữu bản quyền. Điều này có nghĩa là các trang web đó chỉ phân phối nội dung chứ không chịu trách nhiệm về mặt pháp lý.

Các trang web miễn phí này sẽ luôn nói rằng họ sẽ không bồi thường và không chịu trách nhiệm cho bất kỳ khiếu nại pháp lý nào. Do đó, bạn cần thực sự cẩn trọng khi sử dụng một hình ảnh không do chính mình tạo ra. Đặc biệt, nếu hình ảnh mà bạn sử dụng là dành cho mục đích thương mại thì càng phải kiểm tra kỹ càng về nguồn gốc.

Ngoài ra, còn có hành vi “lừa bản quyền”. Cụ thể, những người vô ý thức sẽ đăng tải các hình ảnh của mình sở hữu lên các trang web chia sẻ miễn phí. Họ sẽ chờ đợi những người khác tải về, sau đó sẽ xóa bỏ nó khỏi. Cuối cùng, những kẻ lừa đảo này sẽ tuyên bố bản quyền hình ảnh của mình đã bị vi phạm.

3. Lưu ý khi tải hình ảnh từ những trang website miễn phí

Sau tất cả, nếu bức hình được lưu trữ trên những tên miền cộng đồng (Public Domain) hay thuộc giấy phép Creative Commons, bạn có thể sử dụng hình ảnh đó. Nếu không thuộc hai trường hợp trên thì việc bạn tải hình ảnh về sử dụng (mục đích cá nhân hay thương mại) đều bị coi là bất hợp pháp. Cho dù bạn có cắt và chỉnh sửa tấm hình thì bạn vẫn phạm pháp.

Thêm vào đó, còn có những phần mềm như Adobe Stock cung cấp hàng triệu hình ảnh, video, hình minh họa, sản phẩm 3D…và miễn phí bản quyền để bạn có thể sử dụng trong các dự án của mình. Tuy nhiên, vẫn luôn có một số vấn đề về luật pháp mà bạn cần lưu ý. Việc tốt nhất là luôn phải đọc kỹ các điều khoản và điều kiện của nhà cung cấp. Như thế bạn mới có thể tránh được các rủi ro sau này.

Tuy nhiên, việc xác định nguồn gốc của hình ảnh cũng như phân biệt các loại giấy phép rất phức tạp. vậy nên người dùng là hãy mua những hình ảnh có bản quyền từ các trang chuyên cung cấp hình ảnh để tránh khỏi những tình huống đau đầu có thể xảy ra.

Trên đây là bài viết “Lưu ý khi tải hình ảnh từ những trang web miễn phí”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,

Vấn đề xâm phạm bản quyền hình ảnh trong kinh doanh online

Trong thời đại công nghệ, việc kinh doanh, bán hàng online đã diễn ra sôi nổi và trở thành xu thế mạnh mẽ trong vài năm trở lại đây. Nhiều cửa hàng đã đầu tư thời gian, công sức để chụp hình, quay video sản phẩm để quảng cáo và cung cấp cho khách hàng những hình ảnh chân thực nhất về sản phẩm. Tuy nhiên, việc quảng cáo trên mạng bằng hình ảnh đang không thể tránh khỏi nguy cơ bị xâm phạm bản quyền. Có rất nhiều cửa hàng kinh doanh online đã sử dụng những hình ảnh của người khác để sử dụng cho việc kinh doanh của mình, gây ảnh hưởng uy tín của nhãn hàng bị sao chép, cũng như khiến khách hàng nhầm lẫn.

1. Hình ảnh là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

Hình ảnh là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ dưới tên gọi tác phẩm nhiếp ảnh. Điều 14 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 2 năm 2018 quy định cụ thể như sau:

Tác phẩm nhiếp ảnh quy định tại là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích”.

Việc những nhãn hàng, cửa hiệu đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, thời gian và công sức để chụp ảnh sản phẩm nhằm quảng cáo mặt hàng, quảng cáo thương hiệu có nghĩa là nhãn hàng, cửa hiệu đó là chủ sở hữu của những bức ảnh được tạo ra và là người nắm giữ quyền tài sản thuộc quyền tác giả. Nếu người khác muốn sử dụng những bức ảnh của họ thì phải  được sự cho phép của nhãn hàng, cửa hiệu đó và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho họ (Theo quy định tại Điều 20 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ), trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hành vi lấy ảnh của các nhãn hàng, cửa hiệu đó mà không xin phép, không trả tiền để sử dụng cho mục đích kinh doanh là hành vi xâm phạm bản quyền.  

2. Hành vi xâm phạm bản quyền hình ảnh trong kinh doanh online sẽ bị xử lý như thế nào?

Việc sử dụng hình ảnh trong kinh doanh online giúp tăng khả năng nhận diện thương hiệu và dễ dàng tiếp cận đến người tiêu dùng một cách rộng rãi và hiệu quả. Nhiều thương hiệu, cửa hàng đã đầu tư rất lớn cho việc sáng tạo những hình ảnh độc đáo, ấn tương, gây chú ý để quảng bá cho sản phẩm và thương hiệu của mình. Tuy nhiên, nhiều người bán hàng online khác lại sao chép lại hình ảnh đó và dùng cho mục đích kinh doanh của mình, thực hiện xóa tên thương hiệu ban đầu và chèn tên thương hiệu của mình vào, thậm chí, những người này còn có tương tác bán hàng nhiều hơn so với nhãn hàng gốc.

Hành vi nêu trên là hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả. Theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ – CP, hành vi này sẽ được xứ phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

Bên cạnh đó, hành vi cắt ghép hình ảnh, xóa tên thương hiệu gốc cũng được coi là hành vi xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh của chủ sở hữu quyền tác giả. Theo Điều 12 Nghị định 131/2013/NĐ – CP, hành vi này sẽ được xứ phạt như sau:

“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

Trên đây là bài viết “Vấn đề xâm phạm bản quyền hình ảnh trong kinh doanh online”. Chúng tôi hy vọng bài viết này có ích với các bạn.

Trân trọng,